Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2010

Ngôi “nhà ma” và ông lão giữ nhà

Dọc theo đèo Prenn ngoằn ngoèo, nằm chênh chếch bên con đường quanh co khúc khuỷu dẫn lên Đà Lạt, ngôi biệt thự cổ kính quét vôi trắng vắt mình trên sườn đồi thông hun hút gió. Những người dân trong vùng kể rằng ngôi nhà này đã có niên đại hàng trăm năm. Một khoảng thời gian đủ dài để làm cho mọi cửa kính của ngôi nhà trở nên hoen ố, ngả vàng. Mỗi khi gió từ phía thung lũng lùa vào, các tấm kính lại rung lên bần bật như muốn tung ra. Chỉ riêng âm thanh khô khốc đó thôi cũng biến nơi này thêm đượm màu hoang phế.

“Tiếng tăm” lan xa


Tôi bần thần bước vào ngôi nhà. Vừa qua khỏi cánh cửa được ai đó đánh dấu chữ thập bằng phấn trắng, tôi như lạc ngay vào một thế giới khác, cách biệt hẳn với không gian bên ngoài. Không khí trì nặng. Một cảm giác bất an lập tức lùa vào trong tôi. Âm u lạnh lẽo đến rợn người. Tôi nghe rõ từng hơi thở và nhịp đập gấp của tim mình.

Cái chết đầu tiên mà người ta kể lại là của một phụ nữ người Thượng. Kế bên ngôi nhà có một cái giếng nhỏ sâu hun hút, dễ đến năm chục thước. Vào một ngày, đã lâu lắm rồi, người ta phát hiện một xác chết ở dưới giếng. Giếng đã khô nước, cái xác dựng đứng dưới đó không biết bao nhiêu ngày, da thịt đã bắt đầu rữa.
Khi đưa được tử thi lên miệng giếng người ta biết đó là một cô gái nhờ mái tóc dài xổ ra. Không ai biết tại sao lại có cái xác ấy trong lòng giếng, người ta cũng không điều tra được nguyên nhân của cái chết ấy. Điều duy nhất người ta có thể xác định được là người phụ nữ Thượng trước khi bị ném xuống giếng đã bị giết bằng dao.

Kể từ đó, ngôi nhà bắt đầu ẩn trong lòng nó một truyền thuyết ma quái. Những người chủ ngôi nhà chẳng bao lâu sau phải tự rời khỏi tổ ấm của họ. Nhiều năm trôi qua, chẳng ai dám bén mảng đến ngôi nhà. Cái tên “Ngôi nhà ma đầu đèo Prenn” có lẽ được truyền miệng từ khoảng thời gian ấy.

Đến những năm 1960 , vài đứa trẻ chăn bò dò dẫm vào ngôi nhà hoang kia đã phát hiện ra trên gác của ngôi nhà có hai xác chết quắt queo nằm cạnh nhau, tay trong tay. Người dân trong vùng lại ồn lên một lần nữa. Nghe nói cảnh sát đã vào cuộc điều tra nhưng chẳng tìm ra manh mối nào.

Có vẻ như đó là một vụ tự tử vì tình. Ngôi nhà hoang càng trở nên quái dị đến nỗi ngay cả cánh lái xe tải phớt đời nhất cũng không có gan dừng xe ở khu vực này. Cũng bởi thế, “tiếng tăm” của ngôi nhà càng lan xa.

Thời gian trôi qua, lại có một người con gái, không hiểu vì lý do buồn đời hay buồn tình, tìm đến ngôi nhà, thắt dây thừng vào cổ tìm đến cái chết… Sau đó, lời đồn về những cái chết bí ẩn khác tại ngôi nhà đầu đèo tiếp tục lan truyền với đủ thứ hình ảnh ma quái được thêu dệt.

Chuyện của người giữ nhà

Tôi đứng sững trong căn phòng lớn của ngôi nhà. Phòng trống hoác, mặt trước nhìn thẳng ra thung lũng, hai bên có mấy cánh cửa nhỏ đóng chặt. Trong không khí có một cái gì đó là lạ. Tôi như nín thở.

Bất chợt, phía sau lưng tôi có tiếng động nhẹ. Một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng.

Quay đầu khó khăn, tôi điếng người khi nhìn thấy một hình nhân đang đứng bất động ngay cửa ra vào. Nhìn kỹ, hóa ra đó là một ông già gầy guộc và khá cao, khoảng 70 tuổi, cặp mắt soi mói chiếu thẳng vào tôi.

Tôi và ông lão cứ đứng sững như thế đến nửa phút. Rồi ông lão cất tiếng, giọng khàn khàn, hỏi tôi là ai. Khi nghe tôi giới thiệu, gương mặt ông lão mới giãn dần. Thì ra, ngôi nhà giờ thuộc sở hữu của một công ty chuyên về dịch vụ dầu khí của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và ông Minh - tên ông già - được công ty kia thuê để trông coi ngôi nhà nhiều năm nay.

Chúng tôi ngồi uống trà nóng bên một khung cửa sổ xộc xệch trong căn phòng phụ sát phòng lớn, nơi được ông Minh dùng làm bếp. Trời về chiều, không khí mỗi lúc càng lạnh hơn.

Mắt dõi lên đỉnh đồi trước mặt, ông Minh húng hắng kể bằng giọng Huế: “Có lần vào buổi đêm, tôi đang ngủ thì nghe như có tiếng ai kêu khóc. Ban đầu, tôi chỉ nghĩ đó là tiếng gió hú. Bỗng có tiếng gõ cửa. Một cô gái hiện ra ngoài cửa kính, thân hình tiều tụy, còn mặt thì thảng thốt đến nỗi tôi không biết đó là người hay là ma nữa. Cô gái khẩn khoản nhờ tôi đi cùng lên đỉnh đồi. Cô ta nói trong nước mắt nức nở khiến người khác không thể không mủi lòng.

Tuy chẳng biết sự thể gì nhưng nghĩ mình đã gần đất xa trời, sống nơi hiu quạnh, hắc ám này năm bảy năm nay thì cũng chẳng còn gì để phải sợ nữa. Thế là tôi theo cô ta lên đỉnh đồi phía sau nhà. Lên đến nơi, cô ta chỉ vào một nấm đất nhỏ nói rằng cô ta trót đẻ hoang, hài nhi đã chết và cô ta chôn đứa bé trên đỉnh đồi này. Cô ta muốn nhờ tôi chứng kiến cho đứa con đã mất của mình…”.

Một lần nữa, tôi nhìn kỹ ông lão giữ nhà, không biết có nên tin vào điều ông ta vừa kể không. Nhưng rõ ràng cái cảm giác lo lắng cứ bám riết lấy tôi.

Tôi cùng ông lão giữ nhà đi lên đỉnh đồi, nơi chôn cất hài nhi của người phụ nữ kia. Tôi rùng mình nhìn nấm đất nhỏ bé trước mặt, lòng đầy nghi hoặc. Thôi, cứ cho đó là truyền thuyết, lại một truyền thuyết nữa, về một cái chết khác liên quan đến ngôi nhà.

Tôi chỉ còn kịp tranh thủ chút ánh sáng còn lại của ngày để ghi lại vài tấm ảnh về nấm mồ không tên kia.

Theo Phạm Chí Dũng (SGGPO)

Bí ẩn ngôi biệt thự của thứ phi Phi Ánh


Ngôi biệt thự đôi xây dựng bằng đá granit (tọa lạc tại số 1A và 1B, đường Quang Trung, P.9, Đà Lạt) hàng chục năm qua hoang tàn, chẳng ai ngó ngàng tới. Chỉ đến khi UBND tỉnh Lâm Đồng cho Công ty TNHH Hoài Nam (Hà Nội) thuê để trùng tu khai thác du lịch mới được dư luận quan tâm bởi những bí ẩn xung quanh ngôi biệt thự này.

Tòa biệt thự với hai ngôi nhà tách biệt được nối liền bằng một hành lang bán nguyệt được xây dựng vào năm 1928, mô phỏng kiến trúc vùng Basques, Tây Ban Nha nên nhìn bề ngoài có nhiều điểm khác biệt với hàng ngàn ngôi biệt thự kiến trúc Pháp hiện có ở Đà Lạt. Điều dễ nhận thấy ngôi biệt thự này có rất nhiều cửa sổ nhỏ xung quanh tường nhà, toàn bộ ngôi biệt thự có hàng chục cửa sổ và cửa ra vào hình dạng không giống nhau.

Theo một số nhà nghiên cứu, ngày xưa đây là một ngôi biệt thự tuyệt đẹp. Vào năm 1940, Vua Bảo Đại đã mua lại biệt thự này từ một công chức Pháp để tặng cho thứ phi Phi Ánh. Cũng từ đó, biệt thự có tên là biệt thự Phi Ánh.

Theo ông Lê Cảnh Cương (đại diện Công ty Hoài Nam), trong quá trình trùng tu, sau khi cọ rửa bằng nước pha axid loãng, phần tường trong và ngoài biệt thự xuất hiện nhiều điều đáng chú ý. Anh em công nhân đã phát hiện 12 bức phù điêu hai mặt, có kích thước khác nhau (từ khoảng 40 x 40cm đến 40 x 80cm). Trong phòng khách ngôi biệt thự có tới 8 bức phù điêu liền kề thoáng nhìn giống hình các đồng hồ treo tường, nhưng khi cọ rửa sạch thì không nhìn rõ hình thù và không lý giải được ý nghĩa.

Trong biệt thự còn có 4 bức hoa sen cách điệu, một bức có hình hai đầu chim lạ được bố trí ở gần cửa sổ mặt ngoài. Trong một biệt thự rất "Tây" như thế tại sao lại có những họa tiết, phù điêu mang đậm nét đặc trưng văn hóa phương Đông như hoa sen, đầu chim...? Những bức phù điêu lạ được vẽ và đắp tại nhiều vị trí khác nhau trong biệt thự có trước hay sau khi thứ phi Phi Ánh đến tiếp quản biệt thự? Phải chăng chủ nhân đầu tiên của ngôi biệt thự là người am hiểu và đam mê văn hóa phương Đông? Những bí ẩn này vẫn chưa có lời giải.

Khi đến tìm hiểu về ngôi biệt thự Phi Ánh, tình cờ chúng tôi nghe được câu chuyện kỳ lạ nhuốm màu hoang đường liên quan đến những bức tượng Chăm bị bỏ quên trong khuôn viên biệt thự.

Bà Nguyễn Thị Phú, người sống trong khuôn viên biệt thự kể rằng: Năm 1992, khi chồng bà là ông Bùi Như Gôm bị bệnh điên, trong một đêm đang ngủ, ông Gôm mơ thấy giấc mơ lạ và bật dậy mang cuốc đến rãnh nước thải trong khuôn viên biệt thự hì hục đào đào, bới bới. Ai cũng nghĩ ông mắc bệnh, nhưng khi đào sâu khoảng nửa mét thì ông Gôm phát hiện 2 bức tượng không còn nguyên vẹn bị chôn vùi lâu ngày trong bùn đất. Sau đó gia đình bà Phú đã thỉnh hai bức tượng này về một góc vườn sạch sẽ để lập miếu thờ. Kỳ lạ thay, sau đó ông Gôm hết bệnh điên. Điều lạ nữa, hai bức tượng do ông Gôm tìm thấy có hình dáng tương tự bức phù điêu cô gái Chăm cao khoảng 1,5 mét, đầu đội mũ vàng hình 3 ngọn tháp Chăm, chân quấn 3 vòng vàng được đắp nổi ở phần cửa chính của biệt thự Phi Ánh (còn nguyên vẹn).

Ông Lê Cảnh Cương nói: "Nguồn gốc biệt thự, những bí ẩn của ngôi biệt thự cần được sự giúp sức của các nhà nghiên cứu về văn hóa, kiến trúc lý giải, vì điều này vượt quá khả năng của chúng tôi".

Lâm Viên

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

5 địa danh ma ám nổi tiếng nhất nước Mỹ

1. Ngôi nhà ở Amityville


Ngày 13/11/1974, 6 thành viên trong gia đình DeFeo đã bị tàn sát dã man bởi chính tay cậu con trai Ronald Jr. Trong phiên tòa xét xử, Ronald nhất mực khẳng định: như thể có con quỷ điên loạn đã xúi giục cậu thực hiện vụ sát nhân kinh hoàng.

Sau đó ngôi nhà số 112, đại lộ Ocean thuộc thị trấn Amityville, New York được bán lại cho chủ mới, cũng kể từ lúc này liên tục những câu chuyện ma kinh dị phát sinh.

Chả rõ thực hư thế nào, nhưng chí ít địa danh gây nhiều tò mò này đã được đưa vào truyện và lên phim. Sự việc chỉ vỡ lở mãi sau này, khi luật sư gia đình DeFeo thừa nhận đó chỉ là trò phao tin lừa đảo hòng chạy tội cho cậu thân chủ đáng thương.

2. Biệt thự Winchester


Thừa hưởng gia sản kếch xù từ ông chồng quá cố và lên làm chủ hãng vũ khí lớn nhất nước Mỹ lúc bấy giờ, goá phụ Sarah Winchester ngày càng quẫn trí với ám ảnh điên loạn: những linh hồn tử trận đang trở về oán trách và trả thù.
Năm 1881, Sarah được “người cõi trên” mách nước: một “công trình bất tử” với những phòng ốc xây dựng liên hồi sẽ ngăn cản bước chân của mọi hồn ma bóng quế. Vậy là suốt 40 năm sau đó, trong cung điện San Jose ở California không một giây phút ngưng nghỉ tiếng đục đẽo, khoan mài.

24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần…, 16 người thợ lành nghề thay phiên nhau cần mẫn làm việc từ khi còn là thanh niên trai tráng cho đến lúc tóc nhuộm muối tiêu. Công trình chỉ dừng lại vào năm 1922, khi Sarah Winchester lìa bỏ cõi đời.

Sau cái chết của góa phụ, ngôi biệt thự kỳ quái vẫn không thôi lẩn quất những hồn ma. Kẻ nói rằng chúng chưa trả thù nên không thể siêu thoát, người thì nghĩ có khi ma quỷ đã lạc lối trong mê cung.

3. Ngục Alcatraz


Alcatraz - mỏm đá hoang vu có người ở duy nhất của Vịnh San Francisco còn nổi danh là hòn đảo giam giữ tù nhân kinh hoàng nhất thế giới.
Được mệnh danh “tận cùng địa ngục”, trong suốt 29 năm Alcatraz đã chứng kiến không kể xiết những vụ mưu sát, nổi loạn, tự tử để tạo thành âm khí lạnh lẽo, nhớp nhúa bủa vây đến rợn người. Đấy là chưa kể tiếng rú rít suốt ngày đêm, tiếng đóng cửa ngục không phải gió cũng chẳng do tay người, tiếng gào thét điên loạn... - tất cả đều không thể giải thích.

4. Túp lều của chị em nhà Fox


Dù không mang tính chất kinh dị đặc biệt, gia trang Fox vẫn được xem là có tầm quan trọng nhất từ trước đến nay. Ở góc độ nào đó chính nó đã làm nên “chuẩn mực” cho những hiện tượng ma ám sau này, thậm chí khơi nguồn một thuyết tâm linh mới.
Năm 1848, trong ngôi nhà gỗ xinh xắn thuộc thị trấn Hydesville, phía tây New York, hai chị em Maggie và Katie Fox thực hiện những cuộc giao tiếp đầu tiên với hồn ma một kẻ bán hàng rong bị sát hại. Hai cô bé đặt ra cho hồn ma câu hỏi, và nhận lại câu trả lời thông qua những tiếng gõ, tiếng va đập nhẹ nhàng và kỳ bí như gió thoảng.

Người trong nhà hết sức ngạc nhiên trước khả năng nói chuyện với người chết của hai chị em. Nhưng cuối cùng, Maggie và Katie thành thật thú nhận: tất cả chỉ là trò lừa đảo, không có hồn ma của kẻ bán rong nào, những tiếng gõ bí hiểm cũng là do tự dàn dựng. Thậm chí hai cô bé còn chỉ ra cách tạo ra âm thanh ấy như thế nào.

Dù vậy, cho đến lúc đó một cách thức sung bái duy tâm mới đã kịp hình thành với tên gọi Thuyết thông linh - ngày nay vẫn còn rất phổ biến.

5. Nhà Trắng


Từ nhiều thế kỷ nay, ngôi nhà của các đời Tổng thống Mỹ chưa bao giờ được coi là chốn dung thân yên ả, nếu không muốn nói là nơi quy tụ của những thảm họa kinh hoàng: từ vụ quân đội Anh châm lửa thiêu trụi năm 1814 cho đến không ít những cuộc ám sát đẫm máu sau này.
Người ta nói có thời ma ngao du trong Nhà Trắng nhộn nhịp như... đi chợ, từ hồn ma cựu tổng thống Abraham Lincoln, rồi hồn ma vợ ngài - Mary Todd, cho đến Andrew Jackson, Dolley Madison và Abigail Adams. Ngày nay, những chuyến “viếng thăm” làm rợn tóc gáy người sống này có vẻ như đã lác đác đôi phần.
(Dantri)

Những ngôi nhà ma ám nổi tiếng


Người ta nói rằng hoàng hậu Anne Boleyn, người vợ thứ 2 của vua Henry VIII đã hứng chịu một cái chết oan uổng sau khi bị khép tội phản quốc, ngoại tình vào năm 1536. Chính vì thế mà hồn ma không đầu của bà cứ lẩn quất mãi trong dinh thự Blicking Hall cùng với 2 linh hồn hoàng tộc khác.

“Hai bóng ma còn lại, một là hầu tước Sir John Fastolfe - hình mẫu của nhân vật Falstaff trong vở nhạc kịch nổi tiếng cùng tên của Shakespeare và một là Sir Henry Hobart, chính trị gia, bỏ mạng năm 1698 trong một cuộc đấu súng” - Jan Brookes, viên lý quản dinh thự Blicking Hall xác nhận một cách thận trọng.

Những lần “chạm trán” giữa hồn ma và khách tham quan dinh thự thường xảy ra vào cận kề ngày 19/5, chính là ngày giỗ của Hoàng hậu Anne. “Bóng ma Hoàng hậu thường xuất hiện với chiếc đầu nhỏ máu gói cẩu thả trong vạt váy, đi xuyên qua tường ngay trước mũi người trần mắt thịt sau đó lại biến mất ngay tắp lự như thể bốc hơi”.

Là nơi chôn rau cắt rốn của người đàn bà nổi tiếng xảo quyệt trong lịch sử hoàng tộc, dinh thự Blicking Hall thuộc địa phận Aylsham ở Norfolk được đặt dưới quyền giám sát của Hội bảo tồn di tích lịch sử quốc gia kể từ năm 1940. Mới đây, nó được bình chọn là địa danh ma ám nổi tiếng nhất nước.


Danh sách bình chọn này được thực hiện với sự góp sức của Sian Evans, tác giả cuốn sách best-seller có tựa đê Ghosts: Mysterious Tales (tạm dịch “Những câu chuyện bí ẩn về ma”). Chính Evans là người rằng trong số 630 di tích lịch sử của nước Anh có ít nhất 200 địa danh bị ma ám.

Tác giả cũng tiết lộ thêm: “Mặc dù các hồn ma không làm hại dân lành nhưng Hội bảo tồn di tích vẫn phải làm phép yểm bùa tất cả các địa danh trước khi mở cửa đón khách. Tất nhiên là Hội không công bố rộng rãi điều này”.

Dưới đây là danh sách 10 địa danh ma ám nổi tiếng nhất nước Anh vừa được bình chọn:

1. Dinh thự Blickling Hall ở Norfolk


Trước khi đưa đầu vào máy chém, Anne đã không nói đi nói lại một câu rằng: “Rồi ta sẽ trở thành một La Reine sans tête (Nữ hoàng không đầu)”.

2. Lâu đài Dunster ở Somerset


Bóng ma một đàn ông mặc áo xanh luôn lẩn quất quanh khu vực (trước đây là) chuồng ngựa. Tiếng ồn ào của đội kỵ binh - đã từng đóng quân ở đây hồi thế kỷ thứ 17 - vẫn làm nhân viên trông coi lâu đài mất ngủ hàng đêm.

3. Nhà máy vải Quarry Bank ở Cheshire


Là nhà máy sản xuất cổ xưa nhất còn lại ở nước Anh, xưởng thực tập của Quarry Bank được đồn đại là nơi trú ẩn của “tập đoàn” ma nữ vốn là công nhân nhà máy.
4. Lâu đài Newton House ở Carmarthenshire


Thế kỷ thứ 18, bị cưỡng ép đính hôn với một người mà mình không hề yêu, thiếu nữ Elinor Cavendish đã bỏ chạy về nhà mẹ đẻ là dinh thực Newton House ở Dinefwr, Carmarthenshirem. Trong cơn tức giận, gã chồng chưa cưới truy đuổi đến tận nơi và siết cổ cô cho đến chết.

Ngày nay, khách tham quan thường nghe thấy tiếng thút thít trong phòng trống, thi thoảng bắt gặp một cô gái trẻ biến mất dạng vào trong tủ đồ. Đáng sợ hơn, không ít lần họ còn có cảm giác như bị bàn tay vô hình siết vào cổ.
5. Dinh thự Gibside Hall ở Tyne & Wear


Bị chồng là bá tước Strathmore hành hạ cực kỳ tàn tệ, khi chết hồn ma của Mary Eleanor Bowes đã không thể siêu thoát khỏi dinh thự Gibside. “Nữ bá tước sầu thảm” thường thoắt ẩn thoắt hiện trong vườn cam, và đêm đêm thì dạo đàn trong phòng gác mái khoá chặt'.
6. Công viên Lyme ở Cheshire


Dân quanh vùng kể rằng thi thoảng một đám tang ma vẫn lặng lẽ rước qua đây, xung quanh công viên Lyme này để khóc thương cho Sir Piers Leigh, người đã chết vì bị thương nặng trong trận đấu chống quân Pháp ở Meaux năm 1422. Đi sau đám tang là hồn ma mặc áo trắng, có lẽ là vợ của vị hầu tước quá cố.
7. Trang trại Lanhydrock ở Cornwall


Theo đồn đại đây là nơi trú ngụ của khá nhiều ma, trong đó có hồn ma của một người đàn ông đã bị phe Bảo hoàng treo cổ trong cuộc nội chiến, ngay trước cổng trang trại.
8. Biệt thự Hughenden ở Bucks


Vị thủ tướng quá cố Benjamin Disraeli và đệ nhất phu nhân Mary Anne xem chừng quá gắn bó với biệt thự Hughenden ở chốn đồng quê, đến nỗi mà khi chết bóng ma của họ đã chọn nơi này làm địa điểm trú ngụ.

Người ta nói thường nhìn thấy Disraeli dưới tầng hầm, trong phòng hút thuốc hoặc dưới chân cầu thang với nụ cười rạng rỡ như thể đang chào khách quý.
9. Lâu đài Powis ở Powys


Khách tham quan lâu đài Powis kể rằng, họ hay nhìn thấy một phụ nữ mặc áo đen và có cảm giác bị một bàn tay vô hình chạm vào người. Ngoài ra trong cánh gà sân khấu, chiếc piano bị ma ám thi thoảng vẫn tự động dạo lên những khúc nhạc ma dù phòng trống không và khoá kín.
10. Belton House, Lincolnshire


Những người đã từng nhìn thấy “Đức ông áo đen” nói rằng đó là một người cao lớn, lịch thiệp bởi lúc nào cũng đủ lệ bộ quần áo đen, mũ đen và áo choàng đen. Ông này thường xuất hiện trong phòng ngủ của nữ hoàng trong dinh thự.
Thùy Vân
Theo Telegraph, Dân trí

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2010

Katha-Bí ẩn "toà nhà chết"





Bí ẩn "toà nhà chết"

Trước đây, khi kinh tế Thái Lan thời thịnh vượng nhất, người Hồi giáo muốn xây một toà nhà 56 tầng làm khách sạn 4 sao gần chùa Yannawa nổi tiếng. Vị sư chùa nghe tin mới bảo chủ đầu tư rằng: “Con ơi xây 20 chục tầng thôi, xây cao quá không tốt, phong thuỷ mà. Nằm ở hướng đông ngôi chùa, khi ánh nắng mặt trời chiếu vào toà nhà đó, cái bóng nó lấn sang đất chùa”.

Tôi được nghe rất nhiều về chuyện này khi ở Bangkok. Nhưng vì thủ đô của Thái Lan là thành phố đất đai đắt đỏ, Cty có cao ốc đó lại nằm ở con đường Sỉ Lôm, huyết mạch, kinh doanh sầm uất nhất. Những doanh nghiệp lớn, những tập đoàn chiếm thế thượng phong ở Thái hầu như đều nằm ở khu vực đó. Chủ đầu tư bỏ qua lời bàn ra của vị sư chùa, vẫn quyết tâm xây theo bản vẽ 56 tầng.

"Tòa nhà chết" từ cả chục năm nay.




Toà nhà sơn hết rồi, chỉ gắn kính, máy lạnh vào là sử dụng, đùng cái, năm 1997 Thái bị khủng hoảng kinh tế, 100 USD trước đó đổi 2.400 bạt, sau lên 4.800 bạt. Mượn đô la phải trả bằng đô la, mượn vàng trả vàng. Mọi tập đoàn lớn mạnh nhất của Thái đều rung rinh trong cơn khủng khoảng, nhiều cái ngày trước vốn huy hoàng, ngày sau chỉ còn là dĩ vãng, bị phá sản hàng loạt. Thứ nữa là thầy phong thuỷ vào không chấp nhận nhà đó bóng lấn sân chùa nên nhiều nhà đầu tư đến rồi lại đi không trở lại…



Toà nhà đó bị bỏ hoang suốt 1997 cho tới giờ, sau biết bao nhiêu là tiền của đổ ra. Chúng tôi đến chùa Yannawa khi xế chiều. Nắng vẫn gay gắt, bóng của toà nhà đồ sộ cao mấy trăm mét đổ dài trên sân chùa. Tôi đi trong cái bóng đó mà chợt thấy tín ngưỡng đạo Phật của người Thái thật là kỳ thú.


Ở Thái có ba thứ mà người dân luôn sùng kính, tôn thờ trong lòng thứ nhất là Phật giáo, thứ hai là hoàng tộc, hoàng gia và thứ ba là toà án, không bao giờ xúc phạm. Đi đường ở đâu cũng thấy hình vua, hoàng hậu, Thái Lan có 9 đời vua Rama nhưng được tôn trọng nhất là vua Rama 5 và 9. Vua Rama 5 sinh ra, lớn lên ở Anh quốc, bãi bỏ chế độ nô lệ, thay đổi đất nước Thái Lan từ nước lạc hậu thành nước văn minh, có tên có họ trên bản đồ thế giới. Vị vua này cũng có vợ nhiều nhất.

Vua Rama thứ 9 được tôn thờ như một vị thánh sống dù đã là quân chủ lập hiến, quyền lực nằm trong tay thủ tướng và quốc hội. Nhưng khi thủ tướng hay thượng nghị sĩ lên nhận chức thì đều là vua là người ban chức cho, chúc phúc. Ở Thái người dân có thể thích hoặc không thích thủ tướng nhưng tuyệt đối tôn sùng nhà vua.



Vua Rama 9 là một tiến sĩ về nông nghiệp, ông có công rất lớn trong việc lai tạo ra nhiều giống trái cây ngon và nổi tiếng cho Thái Lan, đưa quốc gia này trở thành nước có tiếng về xuất khẩu nông sản. Ông hết sức quan tâm, giúp đỡ dân nghèo. Những vùng trồng trọt khô hạn, vua còn cử máy bay đến làm mưa cho nên được dân rất kính trọng, tôn sùng. Có khoảng 95% dân Thái theo đạo Phật.



Người ta có câu, tới Thái Lan chưa tới chùa Phật Vàng, tượng Phật bốn mặt là chưa tới Thái. Chùa Phật Vàng được xây từ năm 1931 để lưu giữ một bức tượng Phật bằng vàng ròng lớn nhất thế giới, nặng 5,5 tấn. Bức tượng có lịch sử hơn 700 năm. Khi bức tượng được đưa về đây người ta vẫn chưa biết nó được làm bằng vàng ròng vì bên ngoài bức tượng được phủ một lớp bùn vữa để tránh những cặp mắt dòm ngó. Tương truyền rằng khi thấy dung nhan bức tượng xấu xí, chẳng chùa nào muốn nhận nên có một vị sư nhận về chùa Traimit Witthayram. Hôm ấy trời đất nổi một trận cuồng phong, mưa to, gió lớn, bức tượng bỗng bị nứt toác ra. Tan cơn mưa, bình minh ló rạng. Khi những tia nắng đầu tiên chiếu vào bức tượng, qua những khe nứt bỗng thấy có một quầng hào quang chói loà.




Sư trụ trì thấy lạ quá liền chạy ra xem, sai người ra gỡ bỏ lớp bùn vữa ra thì mới biết đó là pho tượng cực kỳ quý giá, làm bằng vàng ròng nặng tới 5,5 tấn. Nếu cứ quy ra giá trị vàng trong thời điểm đỉnh cao như bây giờ, chỉ tính riêng vật liệu bức tượng đó đã ngang cả trăm triệu đô la. Quý giá không kém là ở đền thờ phật ngọc Emeral có bức tượng phật được làm bằng ngọc xanh, ngày 22/3/1784 Vua Rama I đã mang tượng về Bangkok. Vua Rama I may 2 bộ quần áo mùa hè và mùa mưa bằng vàng ròng cho tượng Phật, đến thời Vua Rama III bức tượng có thêm một bộ mùa đông. Lễ thay áo cho phật diễn ra 3 lần trong năm. Nước tắm phật được đặt phía trước chùa để mọi người cùng được thụ lộc. Tượng phật Emeral bề ngang 48,3cm, cao 66 cm kể cả bệ.



Chùa Phật nằm là ngôi chùa lớn nhất Bangkok, còn có tên là Wat Pho, có bức tượng phật nằm dài 46m, cao 15m, có tất cả 95 ngôi tháp bảo, và hơn 200 bức tượng phật có chiều cao hơn 3m được mang từ khắp nơi trên đất nước về. Có 5 bảo tháp lớn do 5 vị vua xây dựng để tưởng nhớ tới các vị vua tiền bối. Kiến trúc chùa được xây dựng theo kiến trúc cổ Thái Lan. Mới đây nhất là tượng phật Trân Bảo Phật Sơn khắc trên núi được đích thân thái tử cho người bạt cả nửa quả núi đá, khắc lên một bức tượng cao 130 mét tặng cho vua cha. Lý do của hành động này nhằm hồi hướng cho vua cha lúc ông được 72 tuổi, tròn 6 con giáp.



Vì vua đã có tất cả rồi, vua mà cái gì cũng có, cung vàng, điện ngọc, châu báu, của ngon, vật lạ không thiếu nhưng thái tử muốn tặng cho vua cha mình một thứ mà mãi say người đời còn nhắc lại cũng như chúc phúc cho cha vì khi người dân đến lễ phật tất cả những công ơn lễ phật đó đều hồi hướng cho vua. Theo quan niệm của người Thái, hành động đó của thái tử đúng là người con thật chí hiếu!



Ở Thái sau khi rửa tượng phật, các vị sư lấy nước tắm phật, đọc kinh, niệm chú rồi để trong chùa. Người Thái nếu cho rằng con mình bị tà ma hoặc không may gì đó sẽ lấy nước tắm phật cho con uống hoặc rẩy vào người.



Tôi đến chùa Yannawa, quỳ trước một vị sư. Sau khi đọc kinh, ông lấy nước tắm phật vẩy lên người rồi thí chủ sẽ lạy ba lạy. “Good luck for you, chúc may mắn”. Vị sư già nói. Thùng công đức tại chùa được ghi bằng nhiều thứ tiếng trong đó có tiếng Việt. Ở chùa còn có một nghi thức nữa là thỉnh phật linh. Nếu thí chủ có lòng, xin thỉnh với sư, vị sư cho phép mới thỉnh một tượng phật nhỏ cỡ ngón tay cái, đeo vào dây chuyền trong người. Không cần biết tượng phật đó làm bằng cái gì, đất, vôi hay kim loại… khi đeo ở trong người với lòng chân thành là lúc nào cũng có phật đi theo, phù hộ và chở che cho họ trên tất cả các lĩnh vực.



Theo Dương Đình Tường/Báo Nông Nghiệp Việt Nam

Katha-"Lời nguyền"chap2!!!




Lời nguyền chết chóc của viên kim cương xanh huyền bí

Người chủ sở hữu đầu tiên của nó đã bị bầy chó hoang xé xác, trong khi số phận của vua Louis XVI và hoàng hậu Marie Antoinette cũng không hơn khi tham vọng chiếm giữ viên kim cương này.



Kim cương được biết đến với vẻ đẹp lộng lẫy và phi thường của nó. Viên kim cương nổi tiếng nhất thế giới với màu xanh huyền bí nặng 45,52 carat là the Hope. Nhưng điều nổi bật hơn tất cả những viên kim cương khác là bởi lời nguyền gắn liền với nó. Hiện đang được trưng bày tại bảo tàng Lịch sử tự nhiên Smithsonian tại Whasington, DC, viên kim cương The Hope nguyên thủy được tìm thấy tại mỏ kim cương Kollur tại Golconda và thuộc về bức tượng thần Sita tại Ấn độ. Từ khi bị đánh cắp tại một ngôi đền ở Ấn Độ, nó đã trôi dạt qua rất nhiều nơi và bắt đầu lời nguyền của mình.


Điều đặc biệt của lời nguyền này là nó mang đến cái chết hoặc sự bất hạnh đến cho người chủ sở hữu nó, bắt đầu từ nhà vận chuyển kim cương người Pháp Jean Baptiste Tavernier năm 1642. Ngay sau khi bán nó cho vua Louis XIV, Tavernier đã gặp thảm kịch khi tới Ấn Độ, khi ông bị một bầy chó hoang xé xác. Viên kim cương được nhận danh hiệu “Kim cương xanh của nhà vua” (Blue Diamond of the Crown) và bị cắt thành hình trái tim.



Jean Baptiste Tavernier - chủ sở hữu đầu tiên của viên kim cương.

Sự bất hạnh đi cùng viên kim cương này tiếp tục gây họa cho vua Louis XVI và hoàng hậu Marie Antoinette. Sau một thời gian trị vì gây sự phẫn nộ trong nhân dân vì tình hình đất nước đầy bất ổn, cả 2 đã bị chặt đầu tại cuộc cách mạng Pháp năm 1789. Trong suốt cuộc khủng hoảng chính trị Pháp, rất nhiều đồ trang sức của hoàng gia bị đánh cắp, trong đó có viên kim cương The Hope.



Louis XVI "tàn đời" một phần vì viên kim cương này?

Sau khi được tìm thấy ở London, The Hope đã thuộc quyền sở hữu của hoàng hậu Tây Ban Nha Maria Louisa năm 1800. Trong thời gian đó, viên kim cương đã được tạo hình lại bởi một nhà nữ trang người Hà Lan Wilhelm Fals. Ông chết trong đau khổ khi viên kim cương bị đánh cắp bởi con trai mình Hendrick, người cũng tự sát sau đó không lâu.
Maria Louisa - hoàng hậu Tây Ban Nha cũng là một chủ sở hữu.

Sau đó, viên kim cương này được mua bởi Henry Philip Hope năm 1813 và được gọi là “Hope Diamond” từ đó.



Gia đình Hope.

Viên kim cương đã để lại cho gia đình Hope sự bất hạnh bằng cách tước đi sự giàu có và đưa họ đến chỗ phá sản. Sau cái chết của Henry Hope, viên kim cương được để lại cho cháu trai ông Lord Francis Hope, người đã cố gắng xin phép tòa án cho bán nó. Năm 1901, đề nghị của ông được chấp thuận, khi ông đang chìm trong cờ bạc và phá sản.

Sau đó, The Hope được qua tay từ hoàng tử Nga Kanitowski, người bị giết bởi những người cách mạng, tới diễn viên người Pháp Lorens Ladue, người đã tự sát ngay trên sân khấu. Chủ sở hữu người Hy Lạp, Simon Montharides cùng gia đình đã qua đời sau một vụ tai nạn ôtô, đâm xe vào vách đá. Kể cả nhà vua Thổ Nhĩ Kì Sultan Abdul-Hamid II, người sở hữu viên kim cương trong một khoảng thời gian ngắn cũng bị truất ngôi năm 1909.



Sultan Abdul-Hamid II cũng bị truất ngôi sau khi sở hữu viên kim cương.

Viên kim cương The Hope được chuyển tới Mỹ bởi nhà nữ trang Simon Frankel và thuộc quyền sở hữu của Pierre Cartier. Sau một thời gian tìm kiếm, ông đã bán được nó cho Evalyn Walsh McLean, một người giàu có nhưng lập dị đã đồng ý mua khi nghe về lời nguyền của nó. Bà đã coi nó như một chiếc bùa may, nhưng nó lại mang lại quá nhiều bất hạnh. Con trai chết trong một tai nạn ôtô, con gái tự tử trong khi chồng lên cơn điên và cuối cùng chết trong một trại thương điên.



Evalyn Walsh McLean cũng điêu đứng vì The Hope.

Sau cái chết của Evalyn McLean, viên kim cương này đã được bán năm 1949 và được mua bởi một thương nhân New York, Harry Winston. Có thể bị ảnh hưởng bởi câu chuyện về lời nguyền, Winston đã quyết tâm tặng viên kim cương cho bảo tàng Lịch sử tự nhiên Smithsonian, nơi hiện tại nó đang được trưng bày.
Ngay cả khi được quyên tặng cho viện bảo tàng...

Người ta nói lời nguyền của viên kim cương mạnh đến nỗi khi nó được chuyển đến bảo tàng trong một chiếc hộp bằng đồng bởi James Todd, ông đã gãy chân khi bị xe tải đâm. Thảm kịch còn hơn thế nữa, khi vợ ông qua đời sau cơn đau tim, con chó của ông bị vướng xích và bị thắt cổ chết, cuối cùng, căn nhà của ông bị cháy rụi.
...viên kim cương này vẫn mang đến thảm kịch cho người vận chuyển nó.

May Yohe, diễn viên đã cố gắng đưa lời nguyền lên màn ảnh với 15 tập của bộ phim với tên gọi “Bí ẩn của viên kim cương The Hope”. Mặc dù nỗ lực của cô để đưa lời nguyền này đến với mọi người không mang lại hiệu quả, nhưng sự thật là viên kim cương này đã mang lại quá nhiều bi kịch cho quá nhiều người, kể cả người chủ sở hữu, người thân của họ, cho đến những người liên quan gián tiếp.
Hiện nó đã yên vị tại bảo tàng.

Katha-"Lời nguyền xác ướp ngàn năm"!!!




Một xác ướp cách đây 5.300 năm đã trở nên nổi tiếng bởi sự bảo quản tuyệt vời nhờ băng tuyết, và nhất là những bí ẩn kinh hoàng xung quanh nó khiến người ta không thể lý giải được.

Người ta vẫn quen gọi là “Lời nguyền của người băng Otzi”. Đó là "Người băng Otzi" – Đây cũng là tên gọi của một xác ướp tự nhiên được bảo quản trong tuyết lạnh có niên đại cách đây 5.300 năm.



Xác ướp này được các nhà khoa học phát hiện ra từ năm 1991 trên dãy núi Alps, biên giới của nước Áo và Italy. Tên của xác ướp được các nhà khảo cổ đặt theo tên của thung lũng nơi nó được tìm thấy.
Người băng Otzi.


Xác ướp này được xác định là của một người đàn ông và được xem là xác ướp cổ nhất được bảo quản tự nhiên ở châu Âu. Hiện xác ướp đang được trưng bày tại một viện bảo tàng ở phía Bắc Italy. Không giống những xác ướp khác, xác ướp Otzi dù đã được các nhà khoa học thực hiện hàng trăm nghiên cứu nhưng vẫn ẩn chứa nhiều bí ẩn bất thường.

Mặc dù xác ướp được xác định là có niên đại khoảng 5.300 năm, thế nhưng, trên xác ướp người ta lại thấy một mũi tên có niên đại 7.000 năm, một chiếc rìu thuộc niên đại 2.000 năm và một chiếc áo niên đại 8.000 năm. Điều này cho thấy, không lẽ người đàn ông này đã sử dụng tên và áo khoác của cụ tổ nhưng lại cầm rìu của… con cháu mình.


Từ đó, các nhà khoa học đưa ra giả thuyết, đây có thể là một phù thủy có khả năng đi xuyên thời gian nên ông ta mới có được những vật dụng của các thời đại khác nhau…

Và, đến cả nguyên nhân về cái chết của người băng cũng là bí ẩn. Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn không thể xác định được người đàn ông này chết là do bị giết hay gặp bão tuyết hoặc bị hiến tế…???

Xác ướp này được phát hiện bởi một cặp vợ chồng người Đức là Helmut và Erika Simon. Ban đầu, người ta nghĩ đây chỉ là một xác chết bình thường. Và, tất cả họ không biết rằng, xác ướp có niên đại 5.300 năm và từ nó đã dẫn tới một loạt những tai họa sau đó. Có một sự thật không thể phủ nhận là 7 mạng người liên quan tới người băng Otzi đều biến mất.

Helmut và Erika Simon

Nạn nhân đầu tiên chính là người đã tìm ra xác ướp này - ông Helmut Simon. Ông này đã đòi hơn 100.000 đô la tiền công tìm ra xác ướp và được đồng ý. Ông đã vui mừng trở lại vùng núi tuyết để ăn mừng nhưng bỗng nhiên một cơn bão tuyết xuất hiện đột ngột đã vùi chết Helmut. Ông ta được tìm thấy trong tư thế co ro y như người băng.

Người thứ 2 là giáo sư Rainer Henn, 64 tuổi, dẫn đầu đội nghiên cứu xác ướp, người đã tham gia quá trình khám nghiệm người băng. Một lần, khi đang trên đường đến một buổi hội thảo về người băng Otzi, xe của Henn đâm vào một chiếc xe khác và ông chết ngay lập tức. Các cơ quan an ninh đã không tìm được nguyên nhân của vụ tai nạn.
Những cái chết bí ẩn có liên quan đến người băng cho đến nay vẫn không lý giải được.

Nạn nhân thứ 3 là nhà leo núi kinh nghiệm Kurt Fritz, người đã đưa giáo sư Henn cũng như nhiều người khác tham quan khác vị trí tìm ra người băng cũng bị tuyết vùi chết trong khi những người khác thoát nạn.

Nạn nhân thứ 4 là nhà làm phim Rainer Hoelzl – người đã đưa những tư liệu về người băng lên màn ảnh và công bố chúng ra khắp thế giới. Ông bị chết vì một căn bệnh lạ khiến ông đau đớn quằn quại trong nhiều tháng sau khi bộ phim tư liệu của mình được công chiếu.

Dieter Warnecke, 45 tuổi, người đã tìm ra chỗ Helmut Simon bị chôn vùi, là nạn nhân thứ 5. Chỉ vài giờ sau lễ an táng của Simon, Dieter chết do đau tim, dù cho thể trạng sức khỏe của ông rất tốt.


Dieter Warnecke

Konrad Spindler, 66 tuổi, là một nhà khoa học, đứng đầu một nhóm nghiên cứu, người từng thực hiện các khám nghiệm trên xác ướp người băng năm 1991. Konrad đột ngột chết mà không rõ nguyên nhân.
Chưa một nghiên cứu nào tìm ra được nguyên nhân dẫn đến cái chết của người băng.

(Konrad Spindler)

Tom Loy, 63 tuổi, một nhà khảo cổ học, người đã phân tích những mẫu máu trên vũ khí và quần áo của người băng là nạn nhân thứ 7. Ông này chết khi đang thực hiện những nghiên cứu về người băng. Từ sau 7 cái chết bí ẩn, ai cũng sợ rằng mình là nạn nhân tiếp theo. Tại địa điểm trưng bày người băng, có nhiều khách tham quan cứ nhìn vào người băng là ngất mà không phải do phòng trưng bày thiếu khí.

Tom Loy

Đến tận bây giờ, vẫn không ai lý giải nổi các câu hỏi về thân thế, cuộc đời của người băng. Và "lời nguyền" dẫn tới 7 cái chết kia có thật hay không, cũng không ai biết đích xác.

(Theo 24h)

Katha-Nơi Huyền Bí Của Các Linh Hồn!




Một ngày kia, tôi thích thú đọc một cuốn sách nói về các linh hồn trong Luyện Ngục. Cuốn sách này đã gây cho tôi một ấn tượng sâu đậm, bởi vì nó liên quan đến những chứng từ tôi mới đọc, và nó đã giải thích rất rõ ràng về giáo huấn của Giáo Hội. Đó là cuốn “Các linh hồn trong Luyện Ngục nói với tôi” của bà Maria Simma. Liền sau đó, tôi gọi cho chủ bút được biết là bà Maria Simma vẫn còn sống. Tôi lập tức liên lạc với bà, và bà bằng lòng cho gặp để giúp tôi trả lời nhiều câu hỏi cần được giải đáp.
Tôi rất mừng vì mỗi lần có cơ hội nói chuyện hay giảng thuyết về các linh hồn trong Luyện Ngục, tôi nhận thấy đề tài về các linh hồn trong Luyện Ngục thì mênh mông đối với các thính giả. Thường thì họ năn nỉ tôi: “Hãy nói cho chúng tôi những chuyện về các linh hồn..” Tôi thấy rõ ràng đây là đề tài cần thiết mà họ khao khát được biết, một sự khao khát để biết về những gì đang chờ đón chúng ta, chờ đón mỗi người sau khi chết.


Trên thực tế những điều này rất ít khi được giảng dạy trong các giáo xứ, trong các lớp giáo lý, hay bất cứ nơi nào khác. Bởi vậy đó là một khoảng trống to lớn, một sự thiếu sót vì chắc chắn sẽ có đau khổ xảy đến trong giờ phút cuối đời của chúng ta.
Bởi vậy, cuốn sách này sẽ giúp chúng ta tránh khỏi những thống khổ trong Luyện Ngục. Nó cho chúng ta ánh sáng, hy vọng, và hiểu được chương trình của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Để từ đó, nó sẽ là điều tốt lành, huy hoàng, và xứng đáng cho chúng ta. Đồng thời chúng ta cũng có đầy quyền năng trong tay để giúp các linh hồn đã ra đi gặp được nguồn hạnh phúc, và giúp chúng ta cũng có hạnh phúc đời này nữa.
Bà Maria Simma bây giờ đã 82 tuổi.* Bà sống một mình trong một căn nhà nhỏ ở Sonntag, một ngôi làng rất đẹp tại dãy núi Vorarlberg ở Áo, và tôi đã được gặp bà tại đó. *(Cuốn sách này xuất bản năm 1997. Hiện nay bà đã qua đời).
Maria Simma là ai?

Bà là một người đơn sơ mộc mạc sống ở thôn quê. Ngay hồi nhỏ bà đã luôn tha thiết cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện Ngục. Khi 25 tuổi, bà nhận được một đặc sủng rất đặc biệt, rất khác thường. Đó là ơn: Bà được các linh hồn trong Luyện Ngục viếng thăm. Bà là một tín đồ ngoan đạo, nhiệt thành và khiêm nhường. Đây là điều đã gây cảm xúc cho tôi rất nhiều. Cha sở của bà và giám mục họ đạo đó đều khích lệ nhiệm vụ của bà. Tuy được đặc sủng phi thường nhưng bà sống rất nghèo khó. Thí dụ, trong căn phòng nhỏ của bà không đủ chỗ xoay trở những chiếc ghế dành cho chúng tôi.
Một đặc sủng phi thường? Vâng, đặc sủng rõ ràng xuất phát từ lòng Giáo Hội. Nhiều vị thánh đã thực hành đặc sủng này– dù được phong thánh hay không - Tôi có thể nhắc lại là Thánh Gertrude, thánh Catherine thành Genoa, người đã viết nhiều về đề tài này, Thánh Maryam Giêsu, Thánh Magaret Mary của Paray-le-Monial, người đã thấy thị kiến Thánh Tâm Chúa Giêsu, vị Curé họ Ars, thánh Faustina, Thánh John Bosco, chân phước Maryam ở Bethlem, v.vv..
Một cuốn sách đã viết nhiều về đề tài này, thật ra đã nhiều sách viết về nó. Khi nhìn kỹ vào những giảng dạy của các thánh, chúng tôi thấy tất cả đều nói giống nhau. Và đối với Maria Simma thì bà chỉ khơi lại những chứng cớ tuyệt vời của các thánh mà thôi.
Do đó, tôi đã không ngần ngại phỏng vấn bà, vì bà là người đang sống trong thời đại chúng ta nên rất lợi ích cho chúng tôi để thực hành chuyện này. Bạn có thể tưởng tượng rằng tôi đã hỏi bà rất nhiều câu hỏi. Rất tiếc là bà không nói được một câu tiếng Pháp nào, vì lý do này mà tôi phải có một thông ngôn giúp đỡ.
Để những câu hỏi được rõ ràng ngắn gọn, tôi sẽ tóm tắt những câu trả lời của bà, và tôi sẽ đưa ra nguyên văn những ngôn từ của bà.


CUỘC PHỎNG VẤN VỚI MARIA SIMMA
Lần đầu tiên
H. Maria, bà có thể nói cho chúng tôi biết về lần đầu tiên bà được một linh hồn tới viếng thăm không?
Đ. Vâng, đó là năm 1940. Trong một đêm khuya, khoảng chừng 3:00 hay 4:00 sáng, tôi nghe có tiếng chân người bước vô phòng ngủ của tôi. Tiếng động này đã đánh thức tôi dậy. Tôi nhìn lên xem ai là người đã bước vô phòng tôi.
H. Bà có sợ không?
Đ. Không, tôi không sợ tý nào. Ngay khi còn nhỏ mẹ tôi thường nói: tôi là môt đứa trẻ đặc biệt bởi vì tôi không bao giờ biết sợ hãi là gì.
H. Và đêm đó thì sao, xin kể cho chúng tôi biết?
Đ. Ồ, tôi thấy một người rất lạ, ông ta chậm rãi đi tới đi lui trong phòng tôi. Tôi nghiêm giọng nói: “Làm cách nào ông vào được đây? Đi ra ngay!” Nhưng ông vẫn tiếp tục bước một cách thiếu kiên nhẫn, giống như chẳng nghe gì cả. Tôi hỏi một lần nữa: “Ông làm gì vậy?” Nhưng ông vẫn không trả lời. Tôi nhảy ra khỏi giường, ráng nắm lấy ông, nhưng tôi nắm vào khoảng không. Tôi trở lại giường, và rồi tôi lại nghe bước chân đi tới đi lui.
Kinh ngạc, tôi tìm cách để thấy được mặt ông ta nhưng không sao nắm được ông. Tôi đứng lên lần nữa để túm lấy ông, không cho đi tới đi lui như vậy, nhưng một lần nữa tôi lại nắm vào không khí.
Bối rối tôi trở lại giường. Ông ta cũng đi mất nhưng tôi thì không sao ngủ được nữa.
Sau Thánh Lễ ngày hôm sau, tôi đi gặp cha linh hướng và kể lại cho ngài nghe tất cả tự sự. Ngài nói, nếu còn xảy ra nữa thì hãy hỏi: “Ông là ai, và ông muốn tôi làm gì cho ông?”
Đêm kế đó, ông ta lại trở lại. Tôi hỏi ông: “Ông muốn tôi làm gì cho ông?” Ông trả lời: “Hãy xin cho tôi ba Thánh Lễ để tôi được giải thoát khỏi Luyện Ngục.”
Như vậy tôi hiểu rằng đó là một linh hồn từ Luyện Ngục. Cha linh hướng của tôi cũng xác nhận như vậy. Ngài khuyên tôi không bao giờ nên bỏ rơi các linh hồn, và nên giúp đỡ họ với tấm lòng quảng đại mỗi khi họ yêu cầu điều gì.
H. Sau đó, cuộc viếng thăm vẫn tiếp tục chứ?
Đ. Phải, trong nhiều năm. Có khi ba hay bốn linh hồn tới tìm, nhiều nhất là trong Tháng Mười Một. Và sau đó thì có nhiều linh hồn tới hơn nữa.
***
MỘT VẾT THƯƠNG TÌNH YÊU
H. Những linh hồn này họ đòi hỏi những gì thưa bà?
Đ. Đa số những trường hợp như vậy thì họ đều yêu cầu xin lễ cho họ, và xin tôi hiện diện trong các Thánh Lễ đó. Họ cũng xin lần hạt Mân Côi và ngắm Đàng Thánh Giá cho họ.
Ý kiến của sơ Emmanuel:
Đến đây, một câu hỏi quan trọng được đặt ra: Luyện Ngục là gì? Tôi có thể nói đó là một nơi sáng tạo tuyệt vời của Thiên Chúa. Tôi xin trưng ra một hình ảnh thế này:
“Tưởng tượng một ngày nào đó một cánh cửa mở ra, có một Đấng đẹp tuyệt vời, đẹp vô biên, đẹp lộng lẫy, huy hoàng xuất hiện. Ngài đẹp như chưa bao giờ bạn thấy có ai đẹp như Ngài trên trần thế. Bạn bị thôi miên bởi vẻ đẹp đó, thu hút bởi ánh sáng đó. Ngài tỏ ra yêu bạn mãnh liệt như chưa bao giờ bạn được ai yêu đến thế. Bạn cảm thấy Ngài khao khát kéo bạn về với Ngài, làm một với Ngài. Ngọn lửa tình đó làm cháy nóng con tim bạn, nó làm cho bạn phải lăn xả vào cánh tay yêu thương của Ngài.
“Nhưng khoan, trong giây phút đó bạn chợt nhận ra đã bao năm tháng rồi bạn chưa tắm rửa, con người bạn hôi hám; mũi rãi thòng lòng, đầu bù, tóc rối, dơ bẩn, quần áo nhơ nhớp v.v.. Bạn tự nhủ: “Không, ta không thể hiện diện trong tình cảnh này được. Trước tiên ta phải đi tắm gội, phải làm sạch sẽ trước khi đến trình diện với Ngài.”
“Nhưng tình yêu đã nảy sinh trong tim bạn quá mạnh, quá nóng, quá căng thẳng nồng say, và sự chờ đợi tắm gội này hoàn toàn làm cho bạn không thể chịu đựng nổi. Bạn đau khổ vì sự vắng mặt dày vò bạn, mặc dù chỉ trong vài phút giây ngắn ngủi. Từ đó tạo nên một vết thuơng rất to lớn trong trái tim bạn, làm cho cường độ tình yêu càng mãnh liệt hơn, vì đó là “vết thương tình yêu”.
Luyện Ngục là một nơi giống vậy. Đó là sự chậm trễ của lòng thiếu trong sạch nơi ta, một sự chậm trễ không được ở trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa, một vết thương của tình yêu nó làm cho sự đau khổ tràn đầy dâng cao, một sự đợi chờ, một nỗi nhớ thương ray rứt vì yêu. Đây là một cháy nóng, một khao khát để thanh tẩy chúng ta về những gì vẫn chưa được sạch. Luyện ngục là nơi thèm khát Chúa căng nồng, khao khát khi chúng ta đã được biết Ngài, khi đã thấy Ngài nhưng đau khổ vì tình yêu chưa được kết hợp.
Bây giờ tôi muốn hỏi bà một yếu tố cần được sáng tỏ:
H. Thưa bà, các linh hồn trong luyện ngục có hy vọng, có niềm vui trong sự thống khổ đó không?
Đ. Có chứ, không một linh hồn nào muốn rời khỏi Luyện Ngục để trở về trái đất. Họ biết nhiều về thế giới vô hình hơn chúng ta. Họ không hề muốn trở lại trong sự tối tăm của trần gian.
Ở đây chúng ta thấy sự khác biệt giữa đau khổ trong Luyện Ngục và đau khổ trên trái đất. Trong Luyện Ngục, mặc dù nỗi đau khổ của họ khủng khiếp nhưng họ chắc chắn là sẽ có ngày được sống với Chúa muôn đời muôn kiếp. Họ biết chắc điều đó không hề đổi dời. Niềm vui của họ cao hơn sự đau khổ của họ. Không có gì trên trái đất có thể làm cho họ quay trở về trần gian lần nữa, bởi vì trên trái đất không có gì chắn chắn cả.
H. Thưa bà, bà có thể nói cho chúng tôi biết là Thiên Chúa gửi một linh hồn xuống Luyện Ngục hay là họ tự ý quyết định xuống đó?
Đ. Chính linh hồn ấy muốn xuống đó để được thanh tẩy trước khi về Thiên Đàng. Các linh hồn trong Luyện Ngục hiểu Thánh Ý Thiên Chúa; họ vui mừng trong sự tốt lành, họ mong muốn sự tốt lành và họ yêu mến nhiều: Họ yêu mến Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Họ hoàn toàn kếp hợp với Thần khí Thiên Chúa và trong ánh sáng của Ngài.
H. Bà Maria, trong giờ chết con người thấy Thiên Chúa trong ánh sáng toàn vẹn hay chỉ là bóng mờ?
Đ. Họ thấy Ngài trong bóng mờ, nhưng giống nhau thôi, vì ánh sáng đủ để họ thấy Chúa, để họ khao khát Ngài.
Thực tế, đó là thứ ánh sáng huy hoàng nếu so sánh với bóng tối trần gian. Và cũng không có gì có thể so sánh được với thứ ánh sáng của linh hồn khi biết rằng mình tới Thiên Đàng. Ở đây chúng tôi chỉ đưa ra chút cảm nghĩ về ‘những cảm nghiệm sau khi chết’ thôi. Linh hồn lúc đó bị thu hút bởi ánh sáng này, và rất đau khổ cho linh hồn ấy khi phải trở lại trái đất, trở lại thân xác của mình sau khi đã cảm nghiệm được sự tuyệt vời đó.
***
BÁC ÁI ĐỀN BÙ MỌI TỘI LỖI



H. Maria, bà có thể nói cho chúng tôi biết vai trò của Đức Mẹ đối với các linh hồn trong Luyện Ngục không?
Đ. Đức Mẹ tới đó thường xuyên để an ủi và khuyến khích họ, Mẹ nói cho họ biết là họ đã làm nhiều điều tốt.
H. Những ngày lễ nào là ngày đặc biệt Đức Mẹ xuống đó để giải thoát cho họ?
Đ. Những lễ như Giáng Sinh, lễ Các Thánh, Thứ Sáu Tuần Thánh, lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, và lễ Chúa Giêsu Lên Trời.
H. Tại sao các linh hồn xuống Luyện ngục? Và những tội nào dẫn họ xuống đó?
Đ. Những tội phạm đến đức bác ái, chống lại tình yêu dành cho tha nhân, trái tim cứng như đá, thái độ thù nghịch, vu khống, nói hành, nói xấu, tất cả là những tội này.
H. Nói về những tánh xấu thì nói hành, nói xấu vu cáo là những tội nặng nề nhất, và nó sẽ đòi hỏi sự đền tội lâu nhất phải không?
Đ. Đúng vậy!
Bà Maria kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện đã làm cho bà ngạc nhiên không ít, tôi cũng muốn chia sẻ với các bạn.
“Có người tới hỏi bà Maria về một người đàn ông và một thiếu phụ xem hai người này có ở trong Luyện Ngục không?
Đây là điều làm cho người đặt câu hỏi này phải sững sờ vì ‘người thiếu phụ’ đã về Thiên Đàng, còn ‘người đàn ông’ vẫn bị giam trong Luyện Ngục. Thực tế, người thiếu phụ qua đời trong lúc đang phá thai, và người đàn ông khi sống thường đi lễ. Ông là một tín đồ ngoan đạo.
Thấy vậy bà Maria bèn tìm hiểu thêm vì bà nghĩ có thể bà lầm lẫn, song đó là sự thật. Hai người này chết cùng một lúc nhưng người thiếu phụ trong giờ chết đã ăn năn hối cải, và khiêm nhường; người đàn ông khi sống thì luôn chỉ trích mọi người, ông luôn phàn nàn và nói xấu kẻ khác. Bởi vậy ông đã phải giam cầm trong Luyện Ngục lâu hơn. Bà Maria kết luận: “Chúng ta không thể xét đoán theo bề ngoài được.”
Những tội phạm tới đức bác ái là từ chối giúp đỡ những kẻ chúng ta không ưa thích, từ chối không làm hòa, từ chối không tha thứ, và chất chứa những cay đắng trong tâm hồn.
Bà Maria cũng minh họa về điểm này với một thí dụ khác để giúp chúng ta suy nghĩ:
“Đó là câu chuyện của một thiếu phụ mà bà Maria biết về bà ta rất nhiều. Người chết bị giam ở tầng thấp nhất dưới Luyện Ngục đau đớn khủng khiếp. Khi hiện về với bà Maria, thiếu phụ đã giải thích lý do thế này: ‘Khi còn sống bà có một bạn gái; giữa họ có một mối thù do bà gây ra. Bà sống trong hận thù kéo dài lâu năm, mặc dù người bạn của bà đã bao lần xin bà tha thứ. Nhưng mỗi lần như vậy bà đều từ chối. Khi lâm trọng bịnh, bà vẫn tiếp tục đóng kín cửa tâm hồn không tha thứ cho người bạn của bà, ngay cả lúc gần kề cái chết.”
Lời nói của chúng ta dễ gây tai hại cho mình và cho người khác. Chúng ta không bao giờ biết về hậu quả của những lời nói ác độc giết người, vì nó có thể giết người khác, những cay đắng chỉ trích đủ để giết người, nhưng ngược lại cũng có những lời tốt lành sẽ đem lại sự chữa lành.
H. Bà Maria, xin nói cho chúng tôi biết: ai là những người có cơ hội về thẳng Thiên Đàng?
Đ. Những người có một trái tim nhân hậu với tất cả mọi người, vì tình yêu xóa bỏ mọi lỗi lầm.
- Vâng, Thánh Phao đã nó cho chúng ta biết điều này.
H. Chúng ta phải làm gì trong cuộc sống này để được về thẳng Thiên Đàng thưa bà?
Đ. Giúp đỡ các linh hồn trong Luyện Ngục, và họ sẽ trả ơn cho chúng ta. Sống khiêm tốn vì đây là vũ khí mạnh nhất để chống lại với thần dữ, với Satan. Đức khiêm tốn đánh bại bọn quỉ dữ.
Tôi không thể không nói cho các bạn nghe câu chuyện của linh mục Berlioux. Ngài đã viết một cuốn sách rất hay về các linh hồn trong Luyện Ngục. Câu chuyện có liên quan đến vấn đề giúp đỡ các linh hồn, và linh hồn này đã được về Thiên Đàng do những lời cầu nguyện và đau khổ của kẻ khác dâng cho bà.
Ngài kể về một phụ nữ đã dâng cuộc đời mình để cứu các linh hồn trong Luyện Ngục và luôn cầu nguyện cho các linh hồn:
“Có một người trong giờ chết bị tấn công dữ dội do bầy quỉ dữ, hầu như cả một thiên binh của chúng hợp lại bao vây để đánh bà trận cuối cùng vì chúng thấy bà sẽ vuột ra khỏi bàn tay chúng.
“Kẻ hấp hối cố gắng tranh đấu khủng khiếp trong giờ phút lâm chung. Thình lình bà thấy trong phòng hiện ra một đám người lạ vô cùng đẹp đẽ, sáng ngời đánh đuổi bầy quỉ dữ và tới bên giường an ủi bà và khích lệ bà. Trong niềm vui tột cùng, bà la lên: “Các người là ai? Tại sao các người làm cho tôi điều tốt vậy?”
“Những người lạ trả lời: “Chúng tôi là những chư dân trên Thiên Đàng, là những người đã được bà giúp đỡ để được hưởng chân phúc. Với sự biết ơn, chúng tôi trở lại đây để giúp bà qua khỏi nơi đau khổ này để đem bà tới niềm vui của Thành Thánh.”
“Nghe những lời này, một nụ cười rạng rỡ nở trên môi người hấp hối, mắt bà nhắm lại đi vào giấc ngủ bình an của Chúa. Linh hồn bà trong sáng như chim câu trắng ngời hiện diện trước Thánh Nhan Chúa. Đó là nhờ sự bầu cử và phù trợ của các linh hồn mà khi sống bà đã luôn cầu nguyện cho họ. Bà đã bước đi trong chiến thắng, giữa những tiếng vỗ tay reo mừng và chúc lành của các linh hồn mà bà đã giải thoát họ khỏi Luyện Ngục. Mong rằng một ngày nào đó, chúng ta cũng được hưởng nguồn hạnh phúc này.”
Những linh hồn được giải thoát qua lời cầu nguyện của chúng ta, họ mang ơn chúng ta rất nhiều: họ sẽ giúp đỡ chúng ta trong cuộc sống này, chúng ta có thể cảm nhận được điều đó. Chắc chắn họ sẽ giúp chúng ta, họ biết những nhu cầu thiếu thốn của chúng ta, và họ sẽ xin nhiều ơn lành cho chúng ta.
H. Thưa bà, tôi đang nghĩ tới người trộm lành bị đóng đinh kế bên Chúa Giêsu trên Cây Thánh Giá. Tôi muốn biết người này đã làm gì để Chúa Giêsu hứa ban nước Thiên Đàng cho vậy?
Đ. Ông khiêm nhường chấp nhận sự đau đớn của mình, và nói rằng đó là công lý. Ông đã khuyên người trộm kia chấp nhận như ông. Ông có lòng kính sợ Chúa, có nghĩa là khiêm nhường.
Sau đây là một thí dụ có liên quan đến bà Maria cho thấy một việc thiện có thể cứu cả một đời tội lỗi. Hãy nghe Maira kể lại câu chuyện của bà như sau:
“Tôi biết một thanh niên khoảng 20 tuổi, sống trong một ngôi làng gần đây. Anh đã chết vì những trận tuyết lở mà trước đó đã chon vùi bao người.
“Một tối anh đang ở trong nhà cha mẹ anh, lúc đó có một trận tuyết đang đổ xuống. Anh bỗng nghe một tiếng la thất thanh: “Cứu chúng tôi, cứu chúng tôi với, chúng tôi đang bị vùi trong tuyết…”
“Không ngần ngại anh nhảy ra khỏi giường, chạy xuống nhà dưới để đi cứu những người đang gặp nạn. Mẹ anh cũng nghe thấy tiếng la, nhưng không muốn cho anh ra khỏi nhà; bà chận cửa nói: ‘Hãy để những người khác đi cứu họ, ngoài đó nguy hiểm quá, mẹ không muốn con chết..’ Nhưng anh đau lòng trước tiếng kêu la, anh muốn cứu những nạn nhân này; anh gạt bà qua một bên nói: ‘Con phải đi! Con không thể để họ chết như vậy được.’ Anh ra đi, và rồi chính anh trên đường đi cũng bị giết dưới trận tuyết đó.”
“Ba ngày sau khi chết, anh về viếng tôi trong một đêm nói : “Hãy xin cho tôi 3 Thánh Lễ, vì qua những Thánh Lễ này tôi sẽ được ra khỏi Luyện Ngục.” Tôi liền đi thông báo cho gia đình và bạn bè anh biết. Họ sững sờ nghĩ, với ba Thánh Lễ là anh được giải thoát khỏi Luyện Ngục sao? Bạn của anh nói với tôi: “Ồ tôi không muốn hành động như anh ta để tìm cái chết đâu, vì bà không biết được những chuyện anh đã làm”.
“Nhưng linh hồn thanh niên này nói với tôi: “Bà biết không, tôi hy sinh mạng sống vì yêu mến những người này, để cám ơn tôi Chúa đã hân hoan đón tôi vô nhà Chúa một cách mau chóng. Vâng, bác ái tha thứ mọi lỗi lầm..”
Câu chuyện trên đây cho thấy chỉ cần một hành vi bác ái vì yêu thương cũng đủ để tẩy sạch tội lỗi của người thanh niên có một đời sống trụy lạc. Thiên Chúa đã làm cho giờ phút đó thành nguồn yêu thương. Bà Maria còn thêm rằng, người thanh niên đó nếu còn sống chưa hẳn đã có cơ hội để làm việc thiện, có thể làm điều xấu không chừng

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2010

Sen khổng lồ




Sen lạ lá to hơn cái nia, một người nặng khoảng 60 kg có thể đứng lên lá mà chỉ làm chao nhẹ mặt nước. Chuyện tưởng chừng như lời đồn thổi nhưng lại có thật ở chùa Phước Kiển, xã Hòa Tân, huyện Châu Thành, Đồng Tháp. Sen được đặt cho nhiều cái tên khác nhau như sen vua, sen nia, sen nong tằm... bởi không ai biết tên thật của nó là gì.Mặt trên của lá có màu diệp lục, hình các vảy chồng nhau như hình vảy ngói âm dương, mặt dưới màu nâu đỏ với rất nhiều gân to, gai nhọn. Lớp gân và các “khung xương” nằm dưới to, dày bằng hai lóng tay, tạo nên kết cấu khá vững chắc. Thân và mặt dưới lá có rất nhiều lông và gai nhọn. Hạt sen nhỏ như hạt đậu ván, mềm, ăn khá ngon nên thổ dân da đỏ vùng sông Amazon gọi là “ngô trong nước”.
Sư trụ trì Thích Huệ Từ mang trong nhà ra một tấm mặt bàn bằng thiếc mỏng, thả xuống lá sen như một cái nia khổng lồ. Có lá đường kính to trên 3 m. Mùa nước nổi là lúc sen no nước, mỗi ngày lá lớn ra trông thấy. Chị Hà, một du khách đến từ Rạch Giá - Kiên Giang, rất hăm hở nhảy xuống lá sen, chấp tay niệm Phật để làm mẫu chụp ảnh. “Ai nặng cỡ 60 kg trở xuống đứng lên lá chỉ làm lay động nhẹ thôi”, sư Huệ Từ giải thích. Vì cẩn thận, đảm bảo an toàn cho khách nên chùa hạn chế lượt khách muốn xuống ngồi lá sen chụp ảnh, quay phim.

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2010

Quý ông bị nguội lạnh



Tình trạng này thường xảy ra ở tuổi trung niên, thường gặp ở những người đã kết hôn.Theo y học cổ truyền, chứng lãnh cảm dục nam xảy ra thường là do một trong hai thể bệnh sau: Thể tinh thận thiếu hư: Hằng ngày không mặn mà chuyện chăn gối, lưng mỏi tai ù, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch hư nhiều.
Phương pháp chữa trị ở trường hợp này là bổ thận ích tinh, dùng bài thuốc gồm: thục địa 15gr, nhục thung dung 20gr, ba kích 10gr, thỏ ty tử 12gr, rau hẹ 10gr, đậu đen 20gr, rau cần 30gr, cam thảo 10gr. Cho nước vào sắc còn 300ml, chia làm 3 lần dùng trong ngày. Dùng lúc còn nóng ấm.
Thể can khí tích tụ: Chán nản, tinh lực suy sụp, buồn bã, lưỡi đỏ, rêu trắng mạch hơi nhuyễn. Chữa trị trong trường hợp này là sơ can giải uất, dùng bài thuốc gồm: sài hồ Tinh hoàn dê 12gr (sao tẩm giấm), bạc hà 7gr, uất kim 12gr, thanh bì 8gr, bạch thược 8gr, đương quy 6gr, phục linh 10gr, tiên linh tỳ 15gr, rau cần 30gr, cam thảo 10gr. Cho nước vào sắc (nấu) còn 300ml, chia làm 3 lần dùng trong ngày lúc nước thuốc nóng ấm. Dùng liên tiếp 7 ngày.
Ngoài việc dùng thuốc, bệnh nhân có thể điều trị bằng liệu pháp ẩm thực sau: dùng tinh hoàn dê 1 đôi (hoặc tinh hoàn heo, tinh hoàn bò cũng được), vị thuốc hoàng tinh 75gr, một bát canh đặc gà, vịt, trứng chim cút (luộc chín bóc vỏ) 1 đôi. Cho tinh hoàn dê, hoàng tinh và trứng chim cút vào trong bát canh đặc gà vịt hầm cách thủy nhỏ lửa, mỗi ngày dùng một tô, thích hợp chữa trị lãnh dục do tinh thận thiếu hư.Hoặc dùng nhung hươu 0,3 gr, 1 cái trứng gà. Đục một lỗ nhỏ ở đầu quả trứng gà, cho bột nhung hươu vào dùng giấy bịt lỗ lại rồi đem hấp cơm. Mỗi buổi sáng ăn 1 quả, ăn liền trong 5-7 ngày cho một liệu trình.
Bài thuốc này thích hợp cho việc chữa lãnh dục ở nam giới do tinh thận yếu hư.Dùng câu kỷ diệp (lá câu kỷ tử) 250gr, tinh hoàn dê 1 quả, thịt dê 100gr, 2 cây hành, một chút muối tinh, gạo tẻ 100gr. Bổ rửa sạch tinh hoàn dê, bỏ màng trong, thái nhỏ, rửa thịt dê băm nhỏ. Dùng nước sắc câu kỷ diệp, bỏ bã, cho tinh hoàn dê, thịt dê, hành, gạo tẻ vào nấu cháo, đợi cháo chín cho ít muối tinh, đun lại một chút là được.
LỜi bình: He he, trích từ bài của lương y Hoài Vũ nha. Anh em bồi bổ vô nhiều để hâm nóng bầu tâm sự để rồi sanh con đẻ cháu cho đông rồi lên núi ở chung với khỉ cho vui.