Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ma. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ma. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011

Phòng 310

Câu chuyện này do chính bạn của tôi tên Marsha Bennett kể và tôi ghi lại.
Vào cuối thu, Marsha sang miền Bắc để viếng thăm bạn bè ở tiểu bang Washington (Mỹ).
Giờ đây một mình lái xe về California. Trên đường đi, Marsha đã đi ngang qua dãy Cascade trải dài từ Washington cho tới California. Hôm đó trời đã gần khuya, tuyết bắt đầu rơi lả tả trước khi đến được thị trấn nhỏ Oregon nơi bạn ấy dự định ngủ lại để sáng ngày mai sẽ lên đường tiếp.
Khi đến được Oregon, Marsha đã mệt đừ, ăn vội vã một tô canh súp nóng, rồi đi tìm nơi để trọ. Marsha dừng ngay khách sạn đầu tiên mà bạn ấy thấy, đó là một khách sạn cũ kỹ nằm cạnh con đường chính. Khi bước vào hành lang của khách sạn, bạn có thể ngửi được mùi ẩm mốc, nhưng vì muốn tiết kiệm tiền bạc nên bạn ấy đã đến bàn làm việc gặp một người thư ký xin mướn một phòng để ngủ qua đêm. Sau khi làm thủ tục xong, người thư ký đưa Marsha chiếc chìa khóa trên đó có số 310 và đó cũng là số phòng của bạn ấy. Căn phòng này nó nằm trên tầng lầu thứ ba. Marsha được một nhân viên tại đây giúp mang hành lý lên phòng.
Khi bước ra khỏi thang máy, là một hành lang trải thảm màu đỏ sẫm đã cũ lắm rồi. Marsha nhìn trên từng cánh cửa để tìm số phòng của mình.
- A! Ðây rồi, phòng 310.
Marsha mở khóa rồi lấy tay đẩy cánh cửa vào. Cửa vừa mới mở thì một luồng hơi nóng tạt ngay vào mặt, không những hơi nóng bay ra mà còn có gì đó rờn rợn kéo theo sau. Cái gì đó không thể xác định được rất là nặng nề và phiền muộn làm cho bạn ấy sờ sợ. Marsha nghĩ thầm căn phòng này chắc chắn có gì không ổn.
Rồi bỗng dưng bạn ấy choáng váng như muốn xỉu. Bạn ấy nói là “Nó thật... thật là nóng.” Nhân viên mang hành lý lúc đó cũng đã lên tới, ông ta mở tung những cánh cửa sổ để không khí mát lạnh bên ngoài lùa vào, sau đó ông ta bỏ đi.
Căn phòng trở nên mát mẽ được một chút nhưng cảm giác tuyệt vọng và sợ hãi càng ngày càng mạnh mẽ hơn, trọng điểm là cái cửa sổ vuông mở lớn. Bỗng từ đâu, một tiếng nói vô thanh từ trong đầu vang lên:
- Ði đến cửa sổ, rồi nhảy xuống. Nhảy xuống!
Hoảng hồn, Marsha nhào lên giường nơi cách xa cửa sổ nhất và nói với cái tiếng trong đầu:
- Không. Không. Không. Tôi không nhảy đâu!
Nhưng cái tiếng đó cứ khăng khăng.
- Ngươi không thể chống cự. Ðồ con nhỏ yếu đuối. Trước sau gì mày cũng phải nhảy!
Cuối cùng bạn ấy chịu không nổi đành ngồi bật dậy.
Nhát gan hay không, bạn ấy giải thích, cũng phải rời nơi đó ngay lập tức, nếu không, sáng mai tao sẽ chết. Marsha nói với tôi như vậy.
Bạn ấy sẵn sàng bỏ số tiền mướn phòng để đi đến một nơi khác. Nhưng khi bạn ấy ôm đồ đạc xuống thì bà thư ký không hỏi tiếng nào mà hoàn lại tất cả số tiền bạn ấy đã trả.
Sau đó bạn ấy lái xe đến một khách sạn khác sang trọng hơn và ngủ lại một đêm dự định sáng mai sẽ lái xe về sớm.
Nhưng sáng hôm sau, bạn ấy đã thay đổi ý định quyết ở lại thêm một ngày nữa để tìm ra tiểu sử của khách sạn cũ đó, biết đâu sẽ tìm ra nguyên do sự việc kinh hoàng đã xảy đến cho bạn ấy vào đêm hôm qua.
Bạn ấy lần mò đến thư viện trong vùng điều tra và gặp một bà lão làm việc tại đây đã lâu, bạn ấy hỏi:
- Chào bà. Cho con hỏi có phải chuyện gì đó đã xảy ra trong khách sạn cũ kỹ nằm trên con đường này không?
Bà lão nhìn bạn ấy với ánh mắt lạ lùng.
- Làm thế nào mà cô biết được có chuyện xảy ra tại đó? Bà ta hỏi. Cô có biết khách sạn này bỏ ra một khoảng thời gian khá lâu để đè nén câu chuyện lại không.
Bà ngưng một lúc trầm ngâm rồi lại tiếp:
- Vào năm 1948 một đôi vợ chồng đến trọ qua đêm trong khách sạn lấy tên là ông bà Oscar Smith. Sáng sớm hôm sau nhân viên làm việc thấy xác của một người đàn bà trẻ trên vỉa hè bên ngoài khách sạn ngay bên dưới cửa sổ phòng 310. Lúc đó người đàn ông ghi danh là chồng cô ta bỗng dưng mất tích. Lúc đầu người ta nghĩ rằng đó chỉ là một vụ tự tử, bà lão cam kết, nhưng khi họ mở bàn tay của cô ta ra thì thấy trong tay của cô ta có một mớ tóc quăn... vì vậy cảnh sát ra lệnh truy lùng kẻ giết người nhưng không bao giờ tìm thấy... À, bà lão bỗng thay đổi nét mặt nhướn hai con mắt lên nhìn thẳng bạn tôi rồi nói tiếp:
- Có phải là ngẫu nhiên không. Cái vụ này đã xảy ra ngày 5 tháng 11, tính raaa... vào ngày hôm qua vừa đúng 40 năm.
* Trích từ “Mystifying” do nhà xuất bản Sterling Publishing Co., Inc. ấn hành. Tamlinh dịch thuật.

Thứ Ba, 13 tháng 7, 2010

Tôi gặp ma - 02



Tôi chồm dậy. Đèn néon vẫn sáng, chiếc quạt trần vẫn quay nhè nhẹ trên cao. Xung quanh yên ắng đến lạ kỳ. Tôi bần thần không biết là mơ hay thật. Nhưng có điều chân tôi vẫn còn cảm giác lành lạnh không bình thường. Tim vẫn còn đập thình thịch trong lồng ngực. Gương mặt hai người đàn ông lúc nãy vẫn còn lở vởn trong đầu. Ngay lúc này, khi kể lại câu chuyện, trước mắt tôi như vẫn hiện rõ mồn một hai khuôn mặt ấy.
Không có thờI gian suy nghĩ nữa. Tôi lập tức lấy gốI và mền kê làm toạ cụ, xoay mặt về hướng Tây Nam kết ấn Chuẩn Đề bố tự hộ thân và bắt đầu trì tụng theo phép Sư tử Hống:
“AUM – CHA – LE – CHU – LE – CHAN – DI – SVA – HA”
Trong lúc trì, tôi quán tưởng mình hiện tướng phẫn nộ (mà làm sao không “phẫn nộ” được cơ chứ! Làm thầy mà để ma giỡn mặt có đáng giận không!), tám tay tôi cầm đủ tám món binh khí :KIẾM – KÍCH – BÚA – MÓC CÂU – BÀNG BÀI – CHÀY ĐỘC CỔ - CHÀY TAM CỔ - VÒNG KIM CANG.
Tôi trì với tất cả sự tức giận, sợ hãi và xấu hổ. Đã lâu lắm rồi tôi mới có lại sự nhất tâm như thế này. Tiếng trì tụng ban đầu còn run rẩy, sau cứ to dần, to dần.Tôi cũng thấy mình cũng to dần như phiến đá trên Vồ Thiên Tuế của núi Cấm. Toàn thân tôi bốc lửa…
…Lửa cất cao ngọn, từ trong thân tôi toả ra xung quanh rồI đốt trụI tất cả - kể cả tôi.
Tôi ngồI không biết bao lâu. Nhưng khi mở mắt ra xả đàn thì ngài cửa sổ trờI đã mờ mờ sáng. Toàn thân tôi ướt đẫm mồ hôi. Cái mền kê làm toạ cụ và phần nệm giường cũng thấm mồ hôi ướt sũng.
Tôi chà nóng hai tay rồI xoa bóp toàn thân cho thông máu. Thân thể tôi lúc ấy nhẹ nhàng và sảng khoái lạ lùng. Có điều… toàn thân tôi bốc ra mùi thúi kinh khủng, Nó thum thủm nặng mùi như xác chó mèo chết sình. Lúc đầu tôi còn tưởng ngoài cửa sổ có con chuột chết nào đó. Nhưng sau khi tìm kiếm một hồI, tôi giơ tay lên ngửI thì… Oẹ! mùi thúi xộc thẳng vào mũi xông lên tớI óc làm tôi muốn ói vọt ra. Tôi vộI vàng lau khô mình rồI nhảy vào nhà tắm. Mất gần ba mươi phút kỳ cọ tắm rửa, tôi mớI thoát khỏI sự ám ảnh của mùi hương độc đáo ấy.
Thả bộ ngoài vườn hoa nhà nghỉ Thanh Đa trong buổI sáng trong lành, tôi mớI cảm nhận hết giá trị của cuộc sống. Thế này mớI là hưởng thụ đây chứ! Chợt nhớ, đã lâu lắm rồI tôi không đi dạo buổI sáng. Tôi nhớ lạI những ngày ở chùa, sáng sớm thầy tôi đã bắt thức dậy đi kinh hành quanh khuôn viên chùa. Lúc ấy là những ngày vui sướng và an lạc nhất...
Từ sư phụ, tôi nhớ đến sư bá. Lâu lắm rồI tôi không về Thủ Đức. Một cảm giác mong nhớ tự dưng trào lên mãnh liệt đến nỗI tôi muốn đằng vân trở về chùa. MỗI bước chân đi của tôi kéo theo bao nhiêu hoài niệm. Nó cứ như những đợt sóng lòng dồn dập vỗ vào tâm trí…
CuốI cùng, tôi quyết định bỏ tour Củ Chi. Sau khi nhờ được thằng bạn trong công ty dẫn tour giùm, tôi nói vài lờI giả lả khách sáo vớI mọI ngườI trong đoàn và đi ngay, bỏ cả ăn sáng.
Từ Thanh Đa đi về Thủ Đức cũng không xa lắm. Vượt qua cầu Bình Triệu rẽ phảI cặp theo con đường song song vớI tuyến đường sắt, tôi về đến chợ Thủ Đức. Con đường này lâu lắm rồI tôi chưa đi ngang. Chính xác là từ sau ngày thầy tôi mất…
Con đường vào chùa cũng không thay đổI gì mấy. vẫn là những ruộng rau muống nốI tiếp nhau, vẫn là những hàng cây xanh mát mắt. Đây rồI, cánh cổng chùa bằng gỗ cũ kỹ nằm khiêm tốn dướI tán lá bồ đề rợp mát. Cổng vẫn mở rộng như ngày sư ông tôi còn tạI thế. Không khí tĩnh lặng và vắng vẻ quá. Tôi bâng khuâng nhớ đến hai câu đốI từng đọc ở Tịnh xá Trung Tâm:
“Thiền môn rộng mở ít ngườI đến
Cửa khám then cài lắm kẻ vô”
Sợ làm ồn, tôi xuống xe ở cổng và dắt bộ vào. Băng qua sân chùa còn rơi vãi ít chiếc lá đa khô, tôi dẫn xe vào vườn. Một chú tiểu trạc mườI sáu mườI bảy tuổI đang xách nước tướI cây. Nghe tiếng động, chú quay lạI nhìn tôi chăm chú. Tôi chưa kịp hỏI, chú đã nở nụ cươi tươi nói trước:
- Sư huynh tên Dũng phảI hôn?
- Đúng rồI, sao chú biết? – Tôi ngạc nhiên hỏI lại.
Chú tiểu vẫn cườI:
- Sư phụ có dặn, nếu sư huynh đến thì lên thất gặp sư phụ.
- Thất nào? Có phảI chỗ của sư ông lúc trước hôn.
- Dạ đúng rồi. Sau khi khi sư tổ viên tịch, sư phụ dọn lên ở trên đó luôn để tiện việc nhập thất.
- Vậy sao này sư bá không chữa bệnh nữa sao?
- Dạ cũng có, nhưng sư phụ chọn ngườI dữ lắm. Có duyên ông mớI chịu chữa. Bằng không, sư phụ kiếm cớ tránh mặt hết.
- Chà, sau này ông khó khăn quá vậy ta.
- Không phải. Sư bá không muốn tạo nghiệp nữa. HồI sư tổ viên tịch, ông cũng bị hành hết ba ngày mớI hoá được. Lúc đó, các thầy ở các chùa khác đến tụng kinh cầu nguyện, sư tổ đâu có cho. Ông nói, ba chục năm tạo duyên tạo nghiệp gây ân chuốc oán vớI cõi vô hình, bây giờ bị đình trệ ba ngày có là bao. Ông chỉ biểu sư phụ làm phép giảI hết các sắc thần, sắc binh mà trước đây ông mượn để làm việc…
- HồI sư ông bị bệnh, tôi kẹt tour miền Trung về không kịp. Có nghe Minh Tịnh kể lạI nhưng không rõ lắm…
- Sư tổ bị làm mệt suốt ba ngày đêm, ai nấy lo đến rơi nước mắt mà không biết phảI làm sao. Chỉ có sư phụ kề cận trì chú trợ lực cho ông, còn mấy đứa tụI đệ chỉ niệm Phật vòng ngoài.
- Ủa, vậy ra chú đi tu mấy năm rồI à. Vậy mà tôi hổng biết chú.
- Làm sao sư huynh biết được. HồI sư thúc mất cho đến bây giờ, huynh có về chùa được mấy lấn đâu. Về thì huynh chạy lên thất sư tổ ngồI miết, sau đó chạy qua phòng sư phụ ngồI nữa, huynh có để ý đến ai đâu.
Nghe đến đây, tôi khẽ cuốI đầu xấu hổ. Chú tiểu nói đúng. Tôi tệ dần từ sau khi thầy tôi mất…
- Sau khi sư tổ viên tịch, sư phụ không muốn chữa bệnh nữa. Khi nào gặp ngườI hữu duyên có thể tạo phước sau này, sư phụ mớI ra tay thôi. ĐốI vớI ngườI khác nhờ vả, khách thường thì sư phụ bế quan, khách VIP thì sư phụ đi lánh nơi khác. Riết rồI ngườI ta nản không muốn ghé nữa.
Tôi thở dài:
- Thần thông như sư bá mà không giúp ngườI thật là uổng phí.
- Sư phụ nói, Phật độ hữu duyên nhơn. Ngày xưa, trước khi độ ngườI, đức Thế Tôn thường nhập định quán chiếu nhân duyên các đờI của ngườI ta rồI mớI bắt đầu hoá độ. biết được căn duyên mớI hoá độ được tận gốc. Bây giờ, ngườI ta tu Tâm thì ít tu Tướng thì nhiều – tu Huệ thì ít tu Phước thì nhiều – tu Thật thì ít tu Giả thì nhiều – Chân thành thì ít LợI dụng thì nhiều… trợ duyên cho những con ngườI ấy là tự chuốc thêm phiền não, khó lòng thoát khỏI sanh tử luân hồi. Thôi thì, chùa trồng gì ăn nấy, không cần nhờ vả vào những đồng tiền bất chính của những ngườI giả vờ tin Phật. Hộ Pháp sẽ không bỏ ngườI tu …
- Vậy là sau này sư bá thường nhập thất lắm hả?
- Mô Phật. Một tháng sư phụ nhập thất một tuần. Những tháng Hạ, sư phụ không đi Kiết Hạ như các thầy khác mà vô thất ngồI luôn. Còn những ngày không nhập thất, sư phụ ngồI thiền định một ngày bốn thờI Tý Ngọ Mẹo Dậu, mỗI thờI khoảng hai tiếng đồng hồ.
Chỉ có hôm nay hơi lạ. Sư phụ mớI nhập thất có hai ngày thì sáng này ông dậy dặn đệ nếu có sư huynh nào tên Dũng đến chùa thì biểu lên gặp ông…
“Như vậy sư bá biết mình đến hôm nay!” – Tôi thầm nghĩ và càng kính phục thần thông của sư bá. Giá mà tôi có được một chút của ông thôi thì… Đang nghĩ vẩn vơ, tiếng nói của chú tiểu làm tôi giật mình trở về thực tạI:
- Sư huynh lên đi, đừng để sư phụ chờ.
- Ờ há! Mãi nói chuyện mà tôi quên mất. À, mà chú pháp danh gì vậy?
- Mô Phật, sư phụ đặt pháp danh cho đệ là Minh Trí.
Thì ra, hàng đệ tử của thầy và sư bá đều đặt chung chữ Minh. Tôi cũng có pháp danh là Minh Thông, nhưng ít ai gọI đến trừ thầy tôi. Có lẽ tạI con ngườI tôi còn nặng thế tục quá chăng?
Vừa nghĩ ngợI tôi vừa leo lên thất của sư bá. Nói là thất chứ thật ra là phần sân thượng phía sau chùa. Trước đây sư ông về cảI tạo lạI, che mái và ngăn làm hai. Một nửa làm thất và một nửa làm sảnh. Ở ngoài sảnh thờ năm đạo lệnh phù Bàn Cổ bằng vảI vàng. Nét phù được vẽ bằng bút lông đạI tự chấm châu sa và son tàu đỏ thắm. Đó là nơi huynh đệ tôi thỉnh thoảng lên tu luyện theo lệnh của sư ông.
Tôi leo lên đến nơi, nhìn thấy mọI thứ vẫn như xưa. Không kịp nghĩ ngợI gì vì sư bá tôi đã ngồI đó tự lúc nào. Nhìn cái dáng gầy gầy ngồI khoan thai bên cái bàn gỗ uống trà, tôi xúc động muốn trào nước mắt. Tôi bước nhanh đến chỗ ông ngồI, quỳ sụp xuống thổn thức:
- Thưa thầy… - Chỉ có hai tiếng thôi, tôi hết biết nói gì.
Tôi quen gọI sư bá là thầy từ khi thầy tôi dọn nhà về Thủ Đức sống cạnh chùa vớI sư ông (xem “Ngũ Lão Bàn Cổ lệnh phù”).
Sư bá nhìn tôi im lặng chẳng nói năng gì. Ánh mắt ông toát lên vẻ gì đó vừa nghiêm nghị vừa từ ái. Tôi trang trọng đảnh lễ ông bốn lạy. Ông ngồI tĩnh tạI không hề tỏ thái độ nào.
Lạy xong, tôi ngẩng nhìn lên, sư bá chỉ tay vào cái ghế lớn bên cạnh bàn ra dấu tôi ngồi. Nhìn cái ghế còn lớn hơn ghế ông ngồI, tôi rụt rè từ chốI và chạy lạI phía bàn thờ lấy cái ghế đẩu nhỏ hơn đặt xuống cạnh ông.
Sư bá khẽ gật đầu, lạI chỉ tay vào tách trà còn đang bốc khói để sẵn tự lúc nào ở trên bàn. Tôi không hiểu làm sao mà sư bá biết tôi đến lúc này mà rót trà để sẵn.
- Trà nguộI bớt rồI đó, con uống đi. – Lúc này ông mớI mở miệng.
Tôi suýt rơi nước mắt. Sư bá còn nhớ rõ tính tôi không thích ăn uống những đồ quá nóng. Ông quan tâm đến tôi như vậy, còn tôi thì…
Rón tay cầm ly trà lên khẽ nhắp một tí, tôi nghe tỉnh cả người. Mang tiếng là nước trà chứ thật ra chỉ là nước gạo lức rang vàng. Mùi thơm thoang thoảng của gạo rang làm tôi nhớ lạI những ngày xưa, lúc tôi bị đau bụng. Gần một tuần lễ tôi chỉ uống nước gạo rang này cầm hơi… Sư phụ tôi thường đùa tôi: “ Uống nước này đúng một tuần là con thoát thai hoán cốt luôn đó nghe!”.
- Thưa thầy … - Tôi rụt rè toan nói thì sư bá khoát tay.
- Thầy biết hết rồi.
- Sao thầy biết được ạ? - Vừa hỏI xong tôi mớI sực nghĩ mình hỏI quá thừa. Một tia sáng loé lên trong đầu tôi. - Vậy là hồI hôm này thầy đã…
Sư bá khẽ gật đầu, hơi mỉm cườI vớI tay lấy tách trà đưa lên miệng.
Thì ra là vậy. Tiếng vỗ bàn hồI hôm là do sư bá dùng phép cứu tôi. Chả trách tạI sao bỗng dưng ma quỷ rủ nhau biến mất sau tiếng động trong đếm ấy.
- Uống trà đi! - Tiếng của sư bá vang lên cắt ngang luồng suy tư vẩn vơ của tôi. Tôi vội vàng đưa tách trà lên miệng hớp một cái cạn sạch rồi với tay đặt lại lên bàn. Sau vài giây rụt rè, tôi hắng giọng hỏi ông:
- Thưa thầy, con …
- Con thắc mắc vì sao thầy biết phải không?
- Dạ, con… - tôi cứ ấp úng không biết phải hỏi thế nào cho phải.
Khẽ hớp thêm một ngụm trà, sư bá nói:
- Hồi thầy con mất, ổng có gửi lại mấy đứa con cho thầy chăm sóc. Mấy năm qua, sư huynh Minh An của con bỏ đạo theo đời xem như hết phương trở lại, sư huynh Minh Tịnh của con thì chuyên lo tu luyện khá bền bỉ, thầy cũng không phải lo âu. Chỉ có mình con… - nhìn tôi khẽ thở dài, ông nói tiếp – con cứ lửng lửng lơ lơ, nửa đời nửa đạo. Đường thẳng không đi, cứ lạng bên này, tấp bên nọ, lúc chuyên cần hôm sớm, lúc giãy đãy biếng lười. Thầy làm sao yên tâm được.
Tôi cúi đầu không dám nhìn sư bá. Ông nói như đi từ trong bụng tôi đi ra, khiến tôi có cảm giác mình làm bất cứ điều gì cũng bị ông nhìn thấy. Nghĩ đên đây bất chợt tôi điếng hồn… nhớ lại mấy bữa trước tôi nghe lời rủ rê của thằng Huỳnh đi uống bia ôm đến quá nửa đêm !!!
Giọng sư bá vẫn cứ đều đều trầm ấm:
- Hôi hôm, chư thần mách bảo con đang bị cô hồn khuấy phá, thầy nhân dịp này muốn giúp con trở lại con đường cũ…
Tôi không kịp giữ ý tứ, vội xen ngang:
- Thầy cho con hỏi cái phép hồi hôm là phép gì vậy thầy?
- Cái thằng… cái thói học nghề vẫn không bỏ, gặp đúng hệ là sấn tới – sư bá tôi cười nhẹ - thầy dùng câu :“Ki yắc bút ta tu - giắc thắc ki yắc. “
- Ủa, cái câu này dùng để hộ thân tránh người khuất mặt phá phách khi đến những nơi có nhiều âm khí mà thầy?
- Vậy hồi hôm phá con là người gì – sư bá lại vừa cười vừa lắc đầu.
- Nhưng mà…
- Nhưng cái gì? Học không đến nơi đến chốn còn cãi lại. Chỉ một câu chú, cách sử dụng cũng nhiều cái diệu dụng khác nhau. Cái này, khi đọc phải vỗ bàn…
Sư bá mất gần hai mươi phút để ôn lại các bài kinh Nam Tông và giảng lại những chỗ diệu dụng trong lúc sử dụng các câu kinh ấy.
- Mấy câu kinh này anh em tụi con đọc suốt, vậy mà đến bây giờ mới hiểu.
- Chỉ có con bây giờ mới hiểu thôi, Minh Tịnh nó hiểu và sử dụng từ lâu rồi. Cứ lo chuyện đời nhiều vô, có ngày con quên sạch hết những gì mọi người dạy con. Hừ! Chỉ có vài vong linh lưu lạc mà con còn không tự cứu mình được… vậy mà thuở xưa còn xách gói đi chữa tà…
Biết sư bá không giận, nhưng tôi vẫn cúi gằm đầu xuống vì xấu hổ.
- Việc con về chùa hôm nay cũng đủ chứng tỏ con còn chút cơ duyên. Đã đến thì phải ở lại đây ăn cơm, chiều rồi hẵng về. Thôi, con ra sau giếng tắm cho sạch rồi lên chánh điện cúng ngọ với Minh Trí. Nói Minh Trí đưa tạm cái áo của thầy để mặc…
Ngày hôm đó, tôi chìm trong không gian tĩnh mịch của ngôi chùa, những sợ hãi, lo âu, toan tính dường như đã chạy hết ra ngoài cổng…
Cho đến giờ, tôi vẫn thầm cảm ơn mấy con ma vì nhờ nó, tôi mới có cơ hội trở về với ngày xưa…
(Bắt đầu viết -17/12/2007 - Viết xong ngày 1/4/2009)

Tôi gặp ma - 01

Trong khi chờ mấy câu chuyện kể còn dang dở, mấy anh em đọc đỡ lại chuyện cũ tui cóp vô blog này nghen!

TÔI GẶP MA
Khu cư xá Thanh Đa nằm trên bán đảo Thanh Đa ven dòng sông Sài gòn thơ mộng. Nhắc đến Thanh Đa, ai cũng nghĩ đến món cháo vịt nổi tiếng và những dãy quán cà phê ven sông. Thanh Đa đi vào kí ức của mọi người không chỉ bởi đặc sản cháo vịt, bánh tráng Trảng Bàng hay… những đĩa phim quay lén về cà phê Thanh Đa. Nhắc đến địa danh này, nhiều người vẫn còn rì rầm kể cho nhau nghe những câu chuyện… ma bất thành văn bản… Thắm thoắt đã ba năm trôi qua kể từ ngày sư ông và sư phụ lần lượt qui thiên, tôi ít khi về Thủ Đức thăm chùa. Nhiều lần tôi tự nhắc mình phải về chùa thường xuyên hơn. Dù gì đi chăng nữa, nơi đó vẫn còn di cốt của hai người, vẫn còn có sư bá để mình thăm hỏi. Nhưng, mỗi lần nghĩ đến ông đại sư huynh của thầy là y như rằng tôi rùng mình ớn lạnh. Cái ông già khó đăm đăm, mặt ổng lúc nào cũng quạu đeo, hầm hầm như người bị mất của mà không tìm ra kẻ trộm (mô Phật). Đặc biệt là đôi mắt, ông nhìn ai là cứ như soi đến tim gan phèo phổi của người ta. Trong các hàng huynh đệ, không ai dám nhìn lâu vô mắt ổng hết trơn. Nghe nói, ngày xưa ông bế quan luyện Thần Long nhãn suốt 108 ngày. Đến khi xuất quan, người ốm tong teo còn hai con mắt cứ như điện. Ai nhìn thấy cũng sợ.
Không biết thật giả thế nào, riêng tôi đã có lần chứng kiến sư bá nhiếp phục con tà bằng ánh mắt rồi. Hôm đó, từ Biên Hoà có một nhóm người chở theo một phụ nữ ngoài ba mươi tuổi. Nhìn chị ta có vẻ như người bình thường nhưng không hiểu sao lại bị trói thúc ké như tội phạm. Thấy ai nấy ngạc nhiên, người nhà vội giải thích:
- Mấy thầy hổng biết đó thôi. Nó tinh ma quỷ quái ghê gớm. Hồi nãy muốn trói được nó tụi tôi phải nhờ đến sáu người đàn ông khoẻ mạnh áp vật xuống mới thắng đó. Chứ sơ sơ hai ba người xáp lại, nó hất một cái ngã chỏng cẳng luôn.
- Sao tôi thấy nó tỉnh queo mà? – Tôi vọt miệng nói, không kịp nhìn thấy ánh mắt răn đe của thầy.
- Tụi tôi cũng hổng biết nữa. Vừa tới đầu đường vô chùa, tự nhiên nó tỉnh queo như chưa hề bệnh hoạn gì hết.
Người đàn bà bổng nhiên khóc nức nở:
- Mấy thầy ơi, cứu giùm con. Khi không mấy ông này áp trói con lại, rồi đánh đập con. Họ nói con là tà ma quỷ quái. Họ đánh con như vầy nè…
Vừa nói, người đàn bà cúi xuống dùng vai phải hất mái tóc rủ loà xoà trước trán lên. Phía trên thái dương cô ta còn một vết bầm rướm máu. Ai nấy xuýt xoa thương cảm. Thấy vậy, người đàn ông lớn tuổi nhất vội phân trần:
- Tụi tôi có làm gì đâu. Nó vu oan giá hoạ đó. Lúc nãy mọi người áp trói nó, nó hất một cái hai người văng ra rồi chạy lao đầu vào cột nhà. Nếu tui không ôm nó lại kịp, chắc bây giờ đã tẩn liệm xong luôn rồi!
Mọi người con đang nói chuyện thì sư bá tôi bước ra. Đang khóc lóc kể lể, người đàn bà ngó thấy sư bá liền nín bặt. Trông vẻ mặt cô ta có vẻ hoảng hốt. Sư bá tỉnh như không, chẳng thèm ngó ngàng gì đến bà ta, từ tốn bước lại bàn ngồi và thong thả rót trà uống. Ai nấy im bặt nhìn sư bá như chờ đợi. Bầu không khí trong chùa bỗng chùng xuống nặng nề…
Uống xong hớp trà, bất chợt ông ngước mắt lên nhìn người phụ nữ…
Cái nhìn của sư bá cũng bình thường thôi, không trừng không trợn nhưng sao tôi cảm thấy từ trong ánh mắt ấy toát ra một uy lực lạ lùng. Bất giác, tôi lùi lại một bước. Nhìn qua mấy sư huynh đồng môn, họ cũng đã lùi trước từ lúc nào. Chỉ có mình thầy tôi ung dung ngồi đó uống nước với sư bá.
Người phụ nữ bỗng thay đổi thái độ. Trông cô ta có vẻ sợ hãi. Đôi mắt cô láo liêng nhìn qua lại như muốn tìm chỗ thoát. Đoạn, cô cười gượng gạo:
- Ơ hay, cái ông thầy này nhìn tui ghê quá hả!
Sư bá vẫn không trả lời, mắt vẫn nhìn cô ta đăm đăm. Không khí lắng xuống đến nặng nề. Tôi cảm thấy ngực mình như có một hòn đá lớn đang đè xuống. Chợt, sư bá cất tiếng:
- Cởi trói cho nó.
- Dạ, nhưng mà thầy… - người đàn ông lớn tuổi toan nói gì đó nhưng nhìn thấy ánh mắt sư bá liền cun cút làm theo không dám nói thêm lời nào.
Những tưởng người phụ nữ sau khi được cởi trói sẽ vùng chạy. Nhưng không, cô ta vẫn đứng đó ngơ ngác. Nhìn khuôn mặt cô ta lúc đó thật đáng sợ, vừa sợ hãi thê lương vừa căm hờn phẫn uất. Cô ta cứ ngó dáo dác mà chân không hề di chuyển. Sư bá vẫn cứ im lặng ngồi nhìn… Ngay lúc đó, người đàn bà cất tiếng cười lớn ghê rợn:
- Ha ha… thằng thầy chùa này mê tao rồi. Tụi bay thấy không, nó nhìn tao say đắm đấy nhé. Này, nhìn hả, nhìn đi, tao cho mày nhìn.
Vừa nói cô ta vừa ưỡn ẹo thân thể ra vẻ khêu gợi. Tôi thấy người nhà đi theo có vẻ lúng túng.
Sư bá vẫn ngồi im, ngó cô ta đăm đăm. Đôi mắt của ông trong trẻo một cách lạ kỳ.
Về phần người phụ nữ, càng ưỡn ẹo cô ta càng có vẻ bứt rứt như phát cuồng. Chợt cô ta gào lên:
- MÀY CÒN NHÌN HẢ, NHÌN CHƯA ĐÃ HẢ? MUỐN NHÌN THÊM KHÔNG, TAO CHO MÀY NHÌN MÃN NHÃN LUÔN.
Trong lúc đang nói, cô ta lao nhanh về phía sư bá. Mọi người hốt hoảng, tôi thoáng thấy sư huynh Minh Tịnh co tay thành Lôi ấn. Chắc huynh ấy định sử dụng Ngũ lôi phù.
Nhưng, ngoài dự đoán của mọi người. Sư bá vẫn điềm nhiên ngồi nhìn, thầy tôi ngồi kế bên cũng ung dung không kém. Dường như thái độ hùng hổ của người đàn bà ấy không tác động gì đến hệ thần kinh của hai người.
Điều bất ngờ nhất đã xảy ra. Người đàn bà đang lao đến chỗ sư bá đã đứng sững lại như va phải một bức tường vô hình, cô ta loay hoay mãi không thể nào tiến thêm một bước. Tức khí, cô ta cất tiếng chửi:
- Mẹ mày… đồ thầy chùa lửa, đồ dê gái! Dê không được nên ngắm nhìn cho đỡ ghiền hả? Muốn nhìn phải không, tao cho mày nhìn tới luôn.
Nói xong, cô ta đưa tay giật tung hàng nút áo ngực lộ cả áo trong ra. Đám đệ tử tui tôi quay mặt chỗ khác. Người nhà cô ta xấu hổ chạy lại định gài nút áo, cô quay lại hất một cái người nhà té lăn cù như quả banh. Đến lúc này tôi mới thấy sức mạnh kinh hồn của cô ta.
Sư bá vẫn ngồi điềm nhiên nhìn. Nhưng khuôn mặt ông có vẻ nghiêm hơn. mắt ông trở nên sáng long lanh. Người đàn bà cứ đi qua lại trước mặt ông ở khoảng cách hai mét. Cô ta vừa nắm hai vạt áo mở ra khép vào vừa hẩy bụng và ngực về phía sư bá. Nhưng càng làm dữ cô ta càng tỏ vẻ bứt rứt như có cái gì đang thiêu đốt trong người vậy.
Bất ngờ, người đàn bà quỳ thụp xuống gào khóc:
- Thả tao ra, thả tao ra đi. Tao cầu xin mày mà. Làm ơn cho tao đi đi mà…
Sư bá vẫn nhìn lặng lẽ.
Cái nhìn của ông bén ngót như lưỡi dao sắc lạnh xuyên vào da thịt người ta. Tiếng la của người bệnh vang lên bài hãi nghe xé màng nhỉ:
- Trời ơi đừng nhìn nữa! Tha tôi đi, làm ơn tha tôi đi.
Cô ta oằn oại trên sàn như con rắn bị đập đầu, rồi chồm dậy đập đầu xuống đất nghe binh binh. Eo ôi! Cái kiểu này chắc bể đầu chứ không giỡn đâu. Tôi thầm lo trong bụng.
Hai vị tiền bối vẫn ngồi im không nói. Tôi thoáng thấy sư phụ tôi mỉm cười. Dường như ông đã đoán trước được kết quả rồi.
Quả thật như vậy. Người phụ nữ sau vài phút dập đầu đã ngẩng lên, tóc tai rũ rượi, nước mắt ràn rụa. Cô ta lết lại gần sư bá tôi chắp tay van lạy:
- Thầy ơi, thầy tha cho con lần này. Con cầu xin thầy. Xin đừng đốt con nữa tội nghiệp con thầy ơi…
Sư bá quay sang thầy tôi:
- Ông rót giùm tui ly nước cho nó uống đi.
Thầy tôi lặng lẽ làm theo.
Đón nhận ly nước từ tay thầy tôi, người bệnh uống một cách miễn cưỡng.
- Ngồi xuống đó – Sư bá ra lệnh, người phụ nữ làm riu ríu.
- Ngươi có ân oán gì với cô gái này mà đi theo ám người ta vậy hả?
- Dạ, thưa thầy – thái độ cô ta có vẻ bình tĩnh lại – con là Đặng Duy Nam, vốn là chồng sắp cưới của Như (*tên cô gái). Ba năm trước, lúc tụi con chuẩn bị làm đám cưới thì con bị tai nạn giao thông mà chết. Như đã không nghĩ đến tình cảm của con mà còn bắt bồ với thằng khác. Bây giờ tụi nó sắp cưới nhau. Làm sao con tha thứ cho được.
Sư bá tôi tỏ thái độ nghe chăm chú. Đoạn, ông khẽ cúi đầu thở dài:
- Nhân quả nghiệp báo. Biết bao giờ mới dứt đây.
Ngước mắt nhìn người phụ nữ giờ đây đang ngồi xếp bằng tròn thổ thức dưới đất, ông hỏi:
- Ngươi có biết là vài hôm nữa Quỷ Vô thường đến bắt ngươi về không?
- Dạ … biết…
Sư bá nạt ngang:
- Đã biết sao còn sanh chuyện cho thêm tội hả?
Cô gái cúi đầu tránh ánh mắt nghiêm khắc của ông, lí nhí trả lời:
- Thầy ơi, con không cam lòng… con yêu Như mà thầy…
- Vậy là người định bắt cô gái này theo người chứ gì?
- Dạ…
- Đúng là vô minh!- sư bá quát lớn khiến mọi người giật thót mình - Thọ mạng người ta còn, ngươi bắt được à. Bắt rồi, ngươi có sống được với người ta không chứ. Nghiệp chồng nghiệp, phen này ngươi khó đầu thai rồi.
- Thầy ơi, vậy bây giờ làm sao hả thầy?
- Nếu người bằng lòng rời khỏi thể xác, ta sẽ nói gia đình cô ta lập trai đàn ba ngày siêu độ cho ngươi. Nhờ các thầy trì tụng, mong rằng ngươi sẽ được giải bớt nghiệp chướng đời này.
- Nhưng… còn Như thì sao?
- VÔ MINH – sư bá hét lớn - VẪN CÒN QUYẾN LUYẾN KHÔNG MUỐN RỜI PHẢI KHÔNG?
- Dạ… con…
- Ngươi không chịu tỉnh ngộ, ta nhốt ngươi ba ngày rồi triệu Vô thường quỷ đến bắt đi. Lúc ấy ngươi không trách gì ta được nha!
- Dạ... thưa thầy... con chịu…

… Sau sự việc ấy, sư bá tôi nổi danh như cồn, tiếng tăm vang xa hơn cả sư ông. Nhiều người bệnh từ khắp nơi: Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vũng Tàu, Phan Thiết… cũng lặn lội tìm đến chữa trị. Ngày ấy, tôi thường xuyên về chùa nên chứng kiến và học hỏi rất nhiều từ ông đại sư huynh của thầy mình…
Nhớ đến sư bá là bao nhiêu kỉ niệm lại ùa về trong tâm trí… Tôi khẽ lắc lắc cái đầu như muốn xua tan hoài niệm. Hôm nay tôi phụ trách city tour. Một đoàn khách từ Quảng Bình vào tham quan thành phố ba ngày. Đây cũng là cán bộ hành chánh nên giá tour chẳng có bao nhiêu. Phòng điều hành quyết định đưa khách về nghỉ tại Nhà nghỉ Công đoàn Thanh Đa. Nghĩ ra cũng tiện, tiện nghi cũng không đến nỗi tệ, cách phục vụ đúng kiểu bao cấp (chắc cũng quen thuộc với khách), không gian cũng yên tĩnh…
Ngày thứ nhất, đón khách từ cầu Bình Triệu. Tôi đưa thẳng về nhà nghỉ nhận phòng rồi ăn chiều. Những công việc lặt vặt của nghề thiết tưởng không cần phải kể ra làm gì cho dài dòng. Tôi xin kể vào sự việc chính…
Tối đầu tiên tham quan chợ Bến Thành và dạo phố đêm, nhiều vị khách đi lạc không biết đường về điểm tập kết. Tôi phải tìm mướt mồ hôi mới gom lại đủ. Về đến Nhà nghỉ Thanh Đa thì đồng hồ đã chỉ 11g35’. Giờ này còn về nhà gì nữa! Tôi quyết định ở lại để sáng mai đưa khách đi Củ Chi sớm. Các chị nhà phòng cũng ưu ái xếp cho tôi căn phòng tiện nghi ở cầu thang số 12 (gần cổng lớn). Những tưởng sau những giờ mệt mỏi chạy rã giò tìm khách, tôi sẽ ngủ một giấc ngon lành. Nhưng không, thật khó ngủ. Cố nhắm mắt dỗ ngủ mà lòng cứ tỉnh như không. Đôi mắt cứ trao tráo nhìn trần nhà như không muốn khép. Tiếng quạt trần quay vù vù làm tôi khó chịu. Tắt quạt một lát thấy nóng nực lại chồm lên mở. Tôi cứ loay hoay, bứt rứt. Định ngồi dậy luyện tập một lát nhưng lại làm biếng. Kể từ khi sư ông và thầy mất rồi, tôi cũng trở nên chây lười, chễnh mãng việc tập tành. Đã vậy tôi còn đi theo lũ bạn trong công ty đi hát hò nhậu nhẹt thâu đêm suốt sáng. Riết rồi tôi không biết mình có còn là dân huyền môn hay không nữa. Hình như những gì trong quá khứ đã phai nhạt dần khi hiện tại mở ra quá nhiều cám dỗ. Tôi bắt đầu thích cái cảm giác ngồi đến hai ba giờ sáng ở một quán nhậu ven sông để lắng nghe nhịp thở của cuộc sống về đêm, lắng nghe mạch máu căng ra vì chất men quá liều, nghe hơi lạnh tràn về khắp mọi nẻo giăng giăng. Tôi cũng bắt đầu để ý đến một chút thời trang của các cô trong công ty, cũng chịu khó pha trò, nói tục… Tôi đã thay đổi không còn là mình cho đến đêm nay…
Không muốn tập luyện, tôi chuyển sang dỗ ngủ bằng cách đếm. Đếm đến mấy ngàn số rồi tôi vẫn cứ trơ trơ. Bực mình, tôi ôm mền ra phòng khách nằm ngủ. Kéo mấy cái ghế salon lại sát nhau, tắt đèn, mở quạt trần vừa đủ mát, tôi hạ tấm nệm dựa lưng xuống làm gối và khoan khoái kéo mền lên tận cổ để ngủ. Quả thật ở ngoài phòng khách mát mẻ hơn nhiều. Tôi lim dim tận hưởng cảm giác thoải mái rồi lâng lâng vào giấc ngủ…
Bất ngờ ... cái mền tôi đang đắp bỗng nhiên tụt xuống như có người đang kéo...
Giật phắt mình, tôi chụp cái mền ngồi bật dậy ngó dáo dác… Chung quanh im lặng như tờ, chỉ có tiếng quạt máy quay vù vù trong không gian.
Ngồi im một lúc lâu, thấy không có động tĩnh gì, tôi lại nằm xuống kéo mền lên ngực ngủ tiếp…
Vừa lịm người đi, cái mền đang đắp trên người tôi bị ai đó giật phắt một cái rơi xuống đất. Thất kinh hồn vía, tôi chồm dậy la lớn: “AI ĐÓ?”. Đáp lại câu hỏi của tôi là không gian tối om, tĩnh lặng.
Tim đập thình thịch, tôi rón rén chạy đến góc phòng bật công tắc đèn. Xung quanh sáng loà ánh đèn néon trắng. Mọi thứ vẫn ổn, chỉ có cái mền của tôi là không bình thường. Nó bị quăng vào góc tường, cách chỗ tôi nằm hơn một thước. Vừa sợ vừa giận, tôi co tay thủ Kiếm quyết bước tới nhặt cái mền lên. Xung quanh vẫn tĩnh lặng. Nghe hơi ớn lạnh, tôi để luôn đèn sáng, nhảy lên salon nằm.
Lần này đừng hòng mà ngủ.
Tôi nằm nghiêng chờ đợi, tay phải nắm luôn Kiếm quyết, bụng thầm nghĩ: “Tụi bây định giỡn mặt với thầy hả con. Đứa nào ra ông cho một kiếm là tan nát hồn phách luôn!”.
Một phút…
Hai phút…
Năm phút…
Mười phút…
Chẳng có động tĩnh gì.
Tôi mệt mỏi bắt đầu lim dim mơ màng. Bỗng…
“Ké…é.. é..t”
Hai chiếc ghế salon được tôi kê làm giường nằm bị kéo thẳng về hai phía. Tôi rơi xuống đất đánh “bịch” một cái đau điếng hồn. Hoảng quá, tôi lồm cồm bò dậy quơ vội cái mền chạy vào phòng đóng cửa lại...
Chui tọt vào trong mùng, tôi không quên mở đèn sáng choang. Tim đập liên hồi trong cảm giác bàng hoàng, sợ hãi, tức tốI, hổ thẹn. Ai đờI làm thầy chữa bệnh trị tà, giảI vong từ bao năm qua, vậy mà đến lúc này bị ma quỷ phá phách mớI xấu hổ chứ!
Tôi ngồI thừ trong mùng một hồI lâu vớI ngổn ngang tâm trạng. Nhìn xuống đồng hồ, cây kim giờ đã chỉ đúng số 1. Tôi uể oảI chắp tay đọc bài kinh Phật Tổ:
“Á rá hăn – sam ma sam buol đô
Quýt chá chá rá ná
Sam ban đô
Su ga tô
Lô ca quyt du
An nu ta rô
Pu ri sa đam
Ma sa ra thi
Sat tha đê va
Ma nu sa năng buôl đô
Pa ga va ti” MớI đọc có 2 biến mà mắt tôi muốn sụp xuống. Buồn ngủ kinh khủng. Ráng đọc xong đến biến thứ ba là tôi rũ cả ngườI ra. DuỗI chân ra ngáp dài một tiếng, tôi ngả lưng xuống nệm, vặn vẹo ngườI mấy cái khoan khoái. Cảm giác nặng nề lúc nãy biến mất. Tôi xoay ngườI lạI ngay ngắn và thiếp đi…
… Sao mà tôi vẫn thức thế này! mắt vẫn mở trao tráo nhìn trần nhà. Một cảm giác lạnh lẽo bao trùm lấy căn phòng, cái lạnh phủ dần từ hai bàn chân, lan toả đến đầu gối. Tôi cảm thấy rất rõ từng thớ thịt tôi ơn ớn rồI tê lạI khi hơi lạnh đi qua. Biết có chuyện, tôi cựa mình ngồI dậy. Nhưng, tay chân tôi không còn điều khiển được theo ý mình nữa rồi. Hơi lạnh lan đến bụng, cảm giác nặng nề khó thở tràn ngập, ngực tôi nặng như đá đè, phổI cứng lạI không thở được. Và tôi thấy…trong ánh sáng trắng bệch của ngọn đèn néon, hai bóng ngườI đi xuyên qua cánh cửa phòng ngủ bước vào trong. Rõ ràng họ đi rất bình thường, nhưng không có một cản trở ngăn ngạI nào trong bước đi của họ. Đó là hai ngườI đàn ông, một già một trẻ. Gương mặt xanh xao lạnh lùng vô cảm. Đôi mắt đứng tròng không hề chớp cứ nhìn chăm chăm vào mặt tôi. Cả hai đều mặc bộ đồ trắng, thứ quần áo bệnh viện thường mặc cho bệnh nhân…
Nói thì dài nhưng sự việc diễn ra nhanh chóng. Họ bước xuyên qua cái giường ngoài (mỗI phòng ngủ của Thanh Đa có hai giường, tôi nằm giường trong, sát vách tường) và tiến đến ngay chỗ tôi nằm. NgườI trẻ đứng phía dướI chân, ngườI già đứng ngang ngườI tôi. Họ cúi xuống.
Giá mà tôi có thể hoá thành khói biến đi khỏI đôi mắt của họ, Nó đờ đẫn và sâu hun hút như cánh cửa địa ngục, khuôn mặt xanh mét của một xác chết. Cả hai thò tay ra…
Bốn cánh tay cùng lúc xuyên qua chiếc mùng tuyn mỏng và dần dần hạ xuống cổ tôi. Tôi nhìn thấy rõ những cẳng tay gầy guộc, khẳng khiu không có một chút sinh khí nào. Các bàn tay đè chặt làm tôi không thở được, hơi lạnh chết chóc từ những ngón tay thít chặt trên cổ truyền sang cơ thể, thấm vào trong mạch máu làm tôi cứng đờ người. Tôi vùng vẫy trong tuyệt vọng, miệng thốt ra những tiếng ú ớ vô nghĩa. Hai bóng ma vẫn trơ trơ vô hồn, đôi mắt sâu thẳm của họ mở ra to dần thành hai hố đen sâu hun hút, tôi thấy trong đó là vòng xoáy trôn ốc cuốn tôi vào. Đầu óc quay cuồng, ngực không còn thở được, tôi thở dài: “Vậy là hết…!”
Bỗng nhiên…
Một tiếng vỗ bàn vang lên đánh “RẦM” như tiếng sấm. Nghe như tiếng vỗ bàn quen thuộc của sư bá tôi khi nhiếp phục con tà.
Tôi giật nảy mình. Hai bóng ma mờ dần, mờ dần rồi tan biến như sương khói.
Cảm giác lạnh lẽo khó thở cũng giảm nhẹ dần…

Thứ Năm, 11 tháng 3, 2010

Kẻ khuất mặt khuất mày

Vì chưa có thời gian chụp ảnh sổ bí kíp đăng lên để mọi người tường lãm nên tui đăng mấy bài sưu tầm kì bí đọc trước chơi nghen.

Theo Chân Đoàn Làm Phim "108 Anh hùng Lương Sơn Bạc"
NGUYỄN VĂN ghi

LTS: Vào ngày hôm nay, thứ Năm, 29 tháng 12, 2005, Trung tâm Thủy Hử đã phát hành rộng rãi khắp thế giới cuốn DVD đầu tay của Trung tâm, với chủ đề “108 anh hùng Lương Sơn Bạc”. Đây là một sản phẩm văn nghệ đáng “đồng tiền bát gạo”, một món quà xuân ý nghĩa nhất về mặt nội dung và nghệ thuật dàn dựng. Để tìm hiểu thêm những câu chuyện “behind the scene”, Việt Weekly đã theo lời kể của anh Tống Giang, giám đốc sản xuất của Trung tâm, nói về những hiện tượng tâm linh xảy ra cho đoàn làm phim, trong lúc thực hiện cuốn DVD này. Câu chuyện có thật 100% sẽ là một kinh nghiệm qúi cho những ai tin tưởng vào sự phò trợ của thế giới thứ ba.

VW: Thưa anh Tống Giang, trong dịp quay hình cho DVD “108 Anh Hùng Lương Sơn Bạc” tại Việt Nam, ở thác Hang Cọp, xin anh kể lại câu chuyện đã xảy ra tại thác “Hang Cọp”?
TG: Khu du lịch thác Hang Cọp, ở Đà Lạt, là một cái thác có thể nói là tương đối khá nguy hiểm. Thác này rất là sâu, so với mặt đất, cho nên rất ít người biết thác này và sự di chuyển khó khăn. Cho nên, khi mà đến thác Hang Cọp, chúng ta thấy sự huyền bí của thác, thiên nhiên huyền bí quá, có cả một cái tượng cọp xây để tưởng niệm ông Ba Mươi, có thể nói là ông Ba Mươi cuối cùng của khu rừng đã bị sát hại. Từ tượng cọp lớn, chiều dài mười mấy hai mươi mét, đi theo con đường xuống thác Hang Cọp.
Theo truyền thuyết, khi ông Ba Mươi bị sát hại đã lết về đây, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đó là cái hang đó thông ra thác. Thác nước chảy xiết và rất là trơn trợt, nguy hiểm, những du khách đến đây thường bị trợt té và rất là nhiều người đã mang thương tích. Thác Hang Cọp rất là nhỏ, khi quay hình, chúng tôi phải cố làm sao để cho đem hết tất cả nghệ sĩ vào hang, để người đạo diễn lấy hình, cho nên rất khó khăn. Chúng tôi phải xin phép với ban quản lý của khu du lịch để dọp dẹp hang sạch sẽ, đường đi xuống cho rộng rãi, để đạo diễn lấy được những hình ảnh đẹp từ thác Hang Cọp.
Khi chúng tôi di chuyển từ trên xuống, thời tiết rất là ấm, Đà Lạt sương mù nhiều mà ít nắng, xuống sâu quá, thác rồi nước, đoàn phim gặp rất nhiều trở ngại, rất là khó hiểu, giống như là máy đang chạy tự dưng bị đứng không chạy nữa mà không phải do hết pin, kiểm tra lại pin vẫn còn, battery vẫn còn đầy đủ, mà không biết tại sao tự nhiên máy lại đứng, cứ quay khoảng chừng độ mươi, mười lăm phút, máy lại đứng, đó là lý do không thể nào hiểu nổi. Có lời giải thích từ đạo diễn rằng, có thể là do áp suất nhiệt đới quá thấp, điều kiện thời tiết lúc đó làm ảnh hưởng ống kính, đột ngột thời tiết lạnh quá nên ống kính bị đứng hình, đó là những lời giải thích từ đạo diễn. Tuy nhiên, anh em trong đoàn phim thấy nhiều sự hoang mang lắm.
Những điều nghe được từ những du khách, cũng như những người dân địa phương, cho hay là thác rất thiêng. Rất nhiều người cảnh báo chúng tôi là không nên ở lại khi mà mặt trời đã lặn, khi trời về đêm, ở đây có những chuyện huyền bí xảy ra và rất là nhiều những người đã từng gặp những thế giới vô hình ở trong Hang Cọp. Sau khi tìm hiểu, chúng tôi được cô quản lý cho hay rằng, trước đây có những đoàn cải lương đến quay hình những tuồng giả sử, họ gặp rất nhiều những sự cố mà họ không chịu nói ra, cho nên khuyên chúng tôi nên thu xếp quay càng sớm càng tốt để về. Chúng tôi cũng cố gắng lắm nhưng không về được, tại vì công việc quay rất là nhiều những phân đoạn.
Lúc đó, khoảng 7 giờ, trời đã tối rồi, đoàn phim đang chuẩn bị quay, bỗng có một tiếng la của một anh trong đoàn phim, chúng tôi hỏi chuyện gì xảy ra, anh nói là cứu người. Có người tự nhiên đi thẳng xuống thác. Thác thẳng đứng, mà rất là trơn, chúng tôi mới pha đèn xuống, tập trung đèn quay phim để xuống tìm người đó, xuống tới thác không thấy ai hết.

Anh vừa là cứu người, mặt mày tái mét, nói là rõ ràng thấy một người đi cà khiêng, lướt qua trước mặt ảnh và đi thẳng xuống thác, anh ta nghĩ là một người trong đoàn phim bị say rượu, nhưng mà tìm không thấy người đó.
Lúc đó khoảng 7 giờ hơn, trời sập tối, trời tối rất là sớm, nhá nhem chỉ nhìn thấy mờ mờ thôi, đèn đã lên để chuẩn bị quay, ai cũng sợ, anh em lo sợ thế giới vô hình, tại vì đã nghe nói thác Hang Cọp thiêng lắm, một số cứ sầm xì, bóng đêm đã bao phủ hết thác Hang Cọp, không khí huyền bí lắm, chỉ có tiếng nước chảy đổ xuống ào áo và tiếng gió vi vu. Đà Lạt lạnh như cắt, mà gặp những hiện tượng như thế nên đoàn phim rất là hoang mang, nhưng vì DVD “108 Anh Hùng Lương Sơn Bạc”, chúng tôi động viên, năn nỉ tất cả các anh chị em nghệ sĩ, trấn an mọi người. Một người nhìn ra sự việc là nghệ sĩ Hoài Linh, một người đã lên đồng, rất là tin tưởng chuyện huyền bí, đến nói nhỏ với chúng tôi, nói là sẽ đại diện cho tất cả anh em, xin phép khấn vái.
Lúc đó Hoài Linh đến người quản lý xin nhang, Hoài Linh mới đưa chúng tôi đến ngay thác Hang Cọp, khoảng 8 giờ tối, chúng tôi quỳ xuống để khấn vái đốt nắm nhang cắm vào lư hương và vái tất cả những thần linh, thần cọp ở đó và tất cả những vong linh, những kẻ khuất mặt, khuất mày ở đó, nếu có linh thiêng hãy phù hộ cho DVD “108 Anh Hùng Lương Sơn Bạc” được quay xong đêm nay. Chúng tôi biết ơn, biết nơi đây là chỗ thiêng linh, mà chúng tôi quấy phá đêm hôm, chúng tôi có lỗi, nhưng mà vì quay phim dở dang mà phải đi về, ngày mai trở lại quay nữa, cực khổ quá, cho nên thông cảm giùm. Xong rồi, tự nhiên anh em tin tưởng, Hoài Linh trấn an tất cả đoàn phim là đã xin phép và đã được thần linh cho phép quay rồi. Sau đó, anh em hồ hởi bắt đầu tiến hành quay, trời lại mưa lâm râm. Lúc đầu, khi chúng tôi xuống thác, rất nhiều người thấy hiện tượng là có rất là nhiều rắn, nhưng mà chúng tôi không dám nói ra, rất là nhiều anh em thấy rắn, ai cũng sợ, nhưng mà cũng nghĩ là không sao hết. C
húng tôi cố tình xua đuổi hết đi và dọn dẹp sạch sẽ để cho có chỗ để anh em nghệ sĩ đứng cách Hang Cọp, khoảng chừng chu vi độ 4 thước vuông thôi mà chứa mấy chục người, đứng xúm xít vô đó, trật chân là ra ngoài. Trời mưa, trơn trợt, thác nước chảy cuốn trên đá, trợt té liền. Điều khó khăn là, đặt máy để quay được Hang Cọp, đặt máy dưới thác, các anh em rất là cực khổ phải vịn máy, giữ máy cho thăng bằng để quay được những hình ảnh trong một cái hang rất là hẹp, bé thời tiết lạnh lẽo, trong không khí huyền bí như vậy.
Chúng tôi tạo tuyết rơi nữa. Một số anh em kỹ thuật ở trên đã leo lên những cành cây cao làm tuyết rơi, tuyết giả. Khi trên xe, về lại khách sạn, một anh mới kể chuyện là, trong lúc đang leo trên cây tự nhiên gió thổi đến, anh thấy có cái gì bay bay ở trên đầu, anh tưởng là giông gió tới, anh nhìn lên thấy là cây khô hoàn toàn, trụi lủi là tại vì họ làm sạch sẽ cây đó, không để cho lá rơi xuống thác Hang Cọp làm ô nhiễm tượng cọp, cho nên cây đó là một cây khô, họ đã cố tình làm cho cây đó chết đi, để làm cho cây ở trong núi mọc ra gốc cây thôi, như cây Bonsai vậy đó, cho nên cây đó hoàn toàn không có một cái lá nào hết. Nhưng mà tại sao, anh này nghe gió thổi phần phật, nhìn lên thấy cây khô cho nên anh rất là sợ, anh biết là có những điềm bất thường xảy ra, đạo diễn chưa quay, tuyết chưa rơi anh ta không dám bỏ xuống, khi quay xong rồi anh ta cứ ngồi ở trên đó vái hoài.
Còn một sự việc khá ly kỳ nữa, đó là, khi đoàn phim đi qua cây cầu treo, trên bảng có đề rõ ràng là tối đa chỉ được 6 người mà thôi, để cho tránh tình trạng qua nhiều. Những người địa phương và ban quản lý cho chúng tôi biết là, cây cầu treo này được làm bằng sắt, làm dã chiến, bằng những cây sắt kết dài lại rồi họ kết mây, rồi kết gỗ, rồi họ làm cây treo qua tháp, cho nên nếu đi đông người, nó sẽ gẫy, đứt dây kẽm và sẽ rớt xuống thác, rất là nguy hiểm tại vì thác nước đang chảy, mà thác rất là cao. Khi mà chúng tôi đi qua cây cầu treo, chúng tôi chia đều đội hình để quay cho đẹp. Khoảng cách cố gắng đi cho đều để trên cầu lúc nào cũng 6 người, nhưng mà như vậy rất là khó, tại vì rất là chậm, tiết tấu chậm quá, “108 Anh Hùng Lương Sơn Bạc” đi qua cây cầu, mà mỗi lần qua có 6 người, biết bao lâu mới hết, cho nên đạo diễn ra lịnh qua loa phóng thanh là phải đi thật nhanh, lúc đó trên 20 chục người trên cây cầu treo. Người cuối cùng đi qua cây cầu, mới kể cho chúng tôi rằng, họ thấy còn hai ba người đang ngồi lố nhố đằng xa để coi, hai ba bóng đen ngồi đằng xa để mà coi. Lúc đó, đoàn phim nghĩ rằng là những anh em thiết kế qua bên đó để mà lo về đuốc, mỗi một người nghệ sĩ đều cầm cây đuốc qua cầu. Khi nghe người cuối cùng qua nói là, còn mấy người ở bên đó, đừng có tắt máy đèn, phải để máy đèn họ mới thấy đường để đi qua, lúc đó dưới thác tối thui, chúng tôi mới gọi loa, nhưng không có nghe ai trả lời hết. Chúng tôi mới kiểm tra đoàn phim, nghệ sĩ đầy đủ và tất cả những chuyên viên kỹ thuật đầy đủ người.


Chúng tôi kêu gọi khoảng 15 phút, mà không có một tiếng động nào xảy ra hết, hầu như im bặt. Người mà phát hiện thấy cái bóng đen đó, lúc đó mặt mày không còn một chút máu nào hết, từ lúc đó cho tới khi về đến khách sạn, rồi qua tới ngày hôm sau người đó chưa hoàn hồn. Họ nói là chính mắt họ thấy lố nhố ba bốn bóng đen ngồi đó, tại vì họ là người đi sau cùng, mà qua ánh đuốc họ dơ lên là họ thấy có bóng đen ở đó. Những điều đó trùng hợp với tất cả những người địa phương đã kể là, khi màn đêm màn sương buông xuống, có rất là nhiều bóng đen ở trong thác xuất hiện, những bóng đen lởn vởn là những thế giới vô hình. Nhiều người đã chứng kiến chuyện đó.
VW: Thưa anh, những chuyện đường rừng của nhà văn Thế Lữ cho thấy những oan hồn, thần rừng, ma, mà đoàn làm phim Thủy Hử lần này gặp phải. Xin anh cho biết rằng sự khó khăn để mà đoàn làm phim vượt qua, anh có tin về vấn đề tâm linh không?
TG: Tôi chắc chắn phải tin rồi. Tôi có niềm tin mãnh liệt. Chúng tôi tin tưởng và tôn trọng những người khuất mặt, khuất mày, chắc chắn là họ sẽ tôn trọng chúng tôi, mà điều đó là họ đang phù hộ chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy tin tưởng mãnh liệt vào thế giới vô hình. Chúng tôi không quản ngại thời tiết khó khăn, tới 10 giờ rưỡi mà vẫn còn quay ở dưới thác Hang Cọp, trong khi rắn và những hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy mà chúng tôi vẫn làm. Chương trình DVD “108 Anh Hùng Lương Sơn Bạc” sẽ có nhiều bước đường thành công thuận lợi cho trung tâm Thủy Hử

Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2010

Ma giấu - chap 02

- Trời đất ơi…!
Bình chạy vội vào nhà, vừa lúc cậu Ba đang xỏ dép bước ra.
- Chuyện gì mà nửa đêm mày la hét vậy hả?
- Thầy ơi… mấy.. con ếch… nó… - Bình lắp bắp không nói nên lời.
- Mấy con ếch nó sao? Chết hết rồi hả?
- Nó… nó…
- Hay là rắn vô bắt ếch…
- Hổng phải, nó…
Câu Ba tức mình bỏ mặc Bình đứng đó, chạy vội ra sau hè. Cô Ba cũng vừa cầm cây đèn bão chạy ra.
Vừa soi vào lu, cả hai sững sờ chết trân…
Trong lu không có một con ếch nào, chỉ đầy nhóc những cục đất to tròn bằng nắm tay trở lên.
Cậu Ba vừa quay trở vào nhà vừa than thở:
- Hết thời rồi! Hết thời rồi… Ma dám giỡn mặt thầy, ma dám giỡn mặt thầy…
Cả nhà im lặng như đưa đám, không ai dám nói với ai một tiếng nào.
Sau đó vài tháng…
Mùa mưa đến. Muỗi rừng nhiều như trấu. Trời vừa chạng vạng là nó bay ra cả bầy vo ve như tiếng đàn tiếng sáo. Chỉ cần quơ tay cũng nắm được mấy con.
Cho nên, vừa thấy mặt trời gác núi là ai nấy lo buông mùng. Ai ăn cơm chậm trễ thì bưng luôn vào trong mùng ngồi ăn. Ăn xong rồi đẩy mâm ra ngoài sáng hôm sau mới rửa.
Nhà cậu Ba nghèo nhất nhì trong xóm (nói là xóm chứ cách xa nhau hàng chục thước mới có một căn nhà lá lụp xụp). Thầy trò cậu phải tranh thủ làm thêm buổi tối. Ban ngày, sau khi đi rẫy về, cậu và Bình chặt thêm mấy khúc tre lồ ô về chẻ nhỏ đan rỗ rá. Buổi tối, thầy trò đốt một đống un bằng lá rừng có mùi cay vừa thay cho đèn dầu vừa để xua muỗi.
Hôm đó, mợ Ba bị sốt, thằng Bình phải lo dọn rửa chén bát phía sau, còn một mình cậu Ba ngồi vun đống củi khô và lá cây để đốt. Mùa mưa, lá và cành đều ẩm ướt, thổi cho cháy lên được là cả một công trình. Khói bay mịt mù cay xè đôi mắt…
Bỗng …
Một tiếng nói vang lên sau lưng, phía cửa rào:
- Ô, có lửa rồi. Chú cho hơ lửa chút.
Tưởng có người hàng xóm nào ghé ngang, cậu Ba chẳng thèm quay lưng lại, trả lời:
- Hơ thì vô hơ, khách sáo gì.
Một bóng người bước tới ngồi cạnh bên cậu Ba:
- Cảm ơn nhe!
- Lại khách sáo. - vừa nói cậu vừa đứng dậy bước vô phía trong hốt thêm mớ lá.
Đến khi quay lại, cậu Ba điếng hồn “Ơ” lên một tiếng khi nhìn thấy …
Người đàn ông đang ngồi hơ lửa đội cái nón lá rộng vành kiểu người Tàu, trên người khoác tấm lá bện bằng cỏ tranh phủ ra sau lưng. Áo quần ông ta rách rưới. Hai tay giơ ra phía trước huơ huơ gần lửa, bàn tay gầy đét trơ xương, các ngón cụt gần hết còn trơ cùi…
Nghe tiếng “ơ” của cậu, người đang ngồi ngước mặt lến nhìn. Trời đất ơi! Trên khuôn mặt đầy xương lạnh lùng như xác chết là hai hốc mắt sâu thẳm, hoàn toàn không có tròng mắt, con người.

Người đàn ông chợt cất tiếng cười, hàm răng ông nhe ra trắng ởn…
Thần hồn nát thần tính, không kịp suy nghĩ đến một câu chú hộ thân cầu tổ nào khác, cậu Ba quơ tay chụp cái rựa trên đất liệng về phía người đàn ông rồi co cẳng chạy vào nhà…
Sáng hôm sau, hai thầy trò đi tìm cái rựa…
Nó nằm tuốt ở bìa rừng, bên cạnh một gò mối bự chảng…

***
Câu chuyện của Bảy Bình làm tôi nghẹn ngào. Cuộc đời làm thầy bao nhiêu là truân chuyên. Dù không bất hạnh như cậu Ba nhưng huynh đệ tôi cũng đâu có sung sướng gì!
Cứu người thì được tiếng khen, không cứu được người thì bị mang tiếng oán. Thậm chí khi đã giúp người qua cơn nguy hiểm, người ta vẫn cho là nhờ đổi thuốc, tìm được bác sĩ hay… Cái thói đời, đau chân thì hả miệng, vừa chạy bác sĩ vừa cầu khẩn tứ tung vừa thỉnh thầy bà đủ hướng. Đến khi khoẻ mạnh thì phẩy tay, ngoảnh mặt cho rằng nhờ khoa học hiện đại, nhờ bác sĩ chuyên khoa mới bên nước ngoài về… Hừ! Bác sĩ mà ở được ngãi ma lai hay mở được độc trùng thư ếm thì mấy ông thầy huyền môn về núi hoặc bỏ nghề từ lâu rồi!
Chạnh lòng, tôi nhớ lại hai câu thơ của thầy thường hay ngâm ngợi:
“Nhân tình thường bạc như vôi
Đến khi gặp ác mới hồi hung tâm”
Cuộc đời của một ông thầy có bao giờ ăn ngon mặc đẹp. Thậm chí, khi được tặng một cái áo mới, thầy cũng phải thắp hương bàn tổ rồi châm vào cho thủng áo mới dám xỏ vào.
Tôi nhớ lại ông Út làm thầy sửa sưng trặc ở xóm tôi hồi ấy cũng vậy …lối xóm không ai dám hó hé đến nhà ông, mặc dù ông rất hiền nhưng mọi người đều "chợn". Người ta đồn nhà ông toàn là ngãi nghệ, đến nhà ông thế nào cũng trúng ngãi mà chết. Tôi lúc đầu cũng sợ lắm, nhưng vào nhà ông tôi chẳng thấy cái gì khác hơn bộ bàn ghế cũ mèm, cái bàn thờ đóng tạm bằng tấm ván cũ, một bình hương chõng chơ chẳng có bùa phép ngãi nghệ gì. Tôi được ông chữa đau ở ngón tay. Ngay trong buổi chiều ấy, tay tôi lành lặn bình thường như chưa từng bị trặc. Chúng tôi cám ơn ông và ra về sau khi cúng tổ ... chỉ bằng một cái trứng gà đã luộc sẵn...
Sau này lớn lên, tôi có quay lại tìn ông. Nhưng ông đã chết được vài năm, căn nhà nhỏ của ông được đứa cháu sang tay cho chủ khác. Thoáng chút ngậm ngùi về cuộc đời làm thầy, sống trong nghèo khó, cô đơn (xóm giềng có ai dám chơi với ông đâu), chết cũng trong cô đơn nghèo khó ( nghe nói lúc ông chết chỉ có một bộ đồ cũ liệm xác, một chiếc hòm phước thiện của trại hòm và vài người tốt bụng tiễn đưa).
Sau này khi học phép ra sư với thầy, tôi mới thấm thía cái vị cay đắng chua chát của cuộc đời. Minh Tịnh sư huynh tôi cũng đâu có hơn gì, thậm chí còn vất vả bất hạnh hơn nhiều. Tôi còn ung dung đi tour đây đó chứ huynh ấy suốt ngày bị cột chặt vào công việc, phải cày bừa để hùn cơm với gia đình, lúc tan sở lại đạp xe cọc cạch đến nhà người ta chữa bệnh.
Mà thói đời nghĩ cũng lạ. Phù thịnh không ai chịu phù suy. Thầy càng giàu có càng làm tiền dữ tợn, con công đệ tử càng xúm vào tâng bốc. Thầy lệnh phải cúng bao nhiêu tiền thì phải cung cúc lo đủ bấy nhiêu tiền, không hề dám thở than một tiếng. Nhưng gặp thầy đi xe đạp, mặc áo rách thì khinh khi ra mặt, một ly nước chẳng muốn mời. Thậm chí nghe đề nghị bố thí phóng sanh họ liền nhăn mày nhíu mặt than không có tiền xoay sở…
Đó là lý do vì sao người đời dễ bị lường gạt đến tiền mất tật mang…
Thật ra, than thở là nói theo thói đời vậy thôi. Khi vào cửa đạo, ai nếm qua pháp vị mới thấy nó hơn hẳn mọi vị trên cõi đời. Không có gì bình an bằng sự bình an trong tâm hồn con người. Tự biết thế nào là đủ, ung dung trong cuộc sống “an bần lạc đạo”, thế mới là tiên tại thế…

- Dạ, hôm nay em về kiếm huynh là có chuyện gấp.
Câu nói của thằng Bình kéo tôi trở về với thực tại.
- Có chuyện gì vậy Bình?
- Dạ, sư phụ bảo em phải về tìm sư thúc đi một chuyến về Bù Đăng để phụ giúp sư phụ. Nhưng về đây thì sư thúc đi núi mất tiêu rồi. Chuyện lại gấp gáp quá, em chạy lại tìm huynh hú hoạ, biết đâu huynh có thể giúp được gì. May sao, gặp huynh và anh Hai ở đây…
- Mà chuyện gì mới được, mày cứ vòng vo hoài anh hổng hiểu gì hết.
Bảy Bình hắng giọng và bắt đầu kể…

Khu dân cư ở Bù Đăng nhà cửa khá thưa thớt. Cách xa hàng chục thước mới có một căn nhà lá. Hiếm hoi lắm mới có vài căn nhà tường lợp tôn xi măng. Đó là nhà của mấy vị cán bộ trong xã sinh sống ở nơi này từ rất lâu. Ở phía sau khu nhà là rừng chuối bạt ngàn kéo dài đến ngút mắt. Người dân ở đây sinh sống chủ yếu là nghề làm rẫy, tỉa bắp, trồng mì. Các loại cây khác như mít, đu đủ chuối thì trồng tự nhiên, đến khi đủ ngày tháng cây tự động ra trái. Chủ vườn cứ việc ra đốn về đóng vào cần xé mang ra vựa bán.
Bọn trẻ ở vùng này gần một nửa là thất học. Muốn đến trường Tiểu học, phải lội bộ gần chục cây số mới đến xã. Học Trung học thì phải đi mấy chục cây số ra tận thị trấn. Nhà ai nấy đều nghèo, làm gì có đủ tiền bạc và phương tiện mà đi học như con nít thành thị. Vả lại, đi học hết lấy ai coi nhà và phụ giúp chuyện gia đình. Thôi thì trời sinh sao chịu vậy. Chừng nào khá giả hẵng hay.
Đám trẻ con ở nhà một đám lủ khủ, nhiều khi ba mẹ chúng đi làm rẫy hết, không biết chuyện gì làm chúng liền tụ tập nhau lại bày đủ trò để chơi, khi thì nhảy dây, khi thì rượt bắt, lúc thì đá banh, chọi cầu, leo cây, đánh chõng…
Hôm trước, mấy đứa nhỏ ở không tụ tập lại chơi trò ma chuối…
Thằng Hiếu con chú Năm trưởng ấp oẳn tù tì bị thua nên ngồi chính giữa làm ma. Bọn trẻ chạy vào rừng chuối cạo phấn chuối đem về xoa đầy mặt mũi tay chân thằng Hiếu. Sau đó, thằng nhỏ ngồi chồm hổm, hai tay bịt mặt. Cả đám đi vòng tròn xung quanh mỗi đứa cầm trong tay một tàu lá chuối vừa đi vòng quanh thằng Hiếu, bọn trẻ gõ tàu chuối lên đầu thằng nhỏ vừa hát:
Con ma chuối
Ở trong núi
Ở trong rừng
Nhảy cà tưng
Qua con suối
Về ăn muối
Về ăn cơm
Nằm ổ rơm
Chơi rượt bắt
Hú… oà… oà…
Hát chừng vài chập, thằng Hiếu vụt đứng dậy. Hai mắt giương lên chỉ còn tròng trắng. Hai tay nó vươn về phía trước, lưỡi chợt le dài, nó khệnh khạng chạy …
Lũ trẻ rú lên bỏ chạy tán loạn. Mấy đứa nhỏ hoảng hốt chạy tuốt về nhà đóng cửa lại, hai ba đứa lớn lúc đầu ngỡ thằng Hiếu giả vờ nên còn né qua né lại cười cợt. Sau vài phút, thấy vẻ không bình thường của thằng Hiếu, tụi nhỏ bắt đầu sợ thiệt. Không ai bảo ai, tụi nó cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng tìm chỗ nấp…
Một lát sau…
Nghe không khí chừng yên tĩnh trở lại, thằng lớn nhất chạy ra khỏi chỗ ẩn nấp thăm dò. Xung quanh vắng lặng, thằng Hiếu biến đi đâu mất. Những đứa khác cũng lục tục kéo ra, hỏi thăm nhau, chẳng ai thấy thằng Hiếu ở chỗ nào. Thế là nháo nhào đi tìm…
Chiều tối, người lớn đi rẫy về, thằng Hiếu vẫn bặt vô âm tín. Nghe bọn trẻ kể lại, cả xóm đốt đuốc chạy tìm tứ xứ . Chú Năm xách chiếc xe honda cà tàng chạy thẳng lên xã báo cáo. Xã đội cử mấy dân quân vác súng đi tìm với bà con.
Một đêm thức trắng. Gần sáng, mọi người lủi thủi kéo về. Ai nấy phờ phạc. Chú thím Năm mặt mũi bơ phờ hốc hác…
Bóng dáng thằng Hiếu vẫn mù mịt.


Ngày thứ hai trôi qua trong vô vọng. Bóng dáng thằng Hiếu vẫn bặt vô âm tín. Mấy độI tìm kiếm đã toả ra khắp cả vạt rừng để cứu hộ nhưng tất cả đều trở về trong thất vọng. Bây giờ, gia đình chú Năm chỉ còn hy vọng vào nhóm ngườI dân tộc đang lùng ở vạt rừng bên trong.
Đến tốI, mấy thanh niên ngườI Ch’ro đã về đến xóm. Nhưng, nhìn thấy thái độ ủ rũ của họ, ai nấy đều biết kết quả như thế nào rồi. Già làng dẫn đầu nhóm tìm kiếm lắc đầu nói bằng tiếng Việt lơ lớ:
- Bọn tui tìm khắp nơi không thấy gì. Cũng không có dấu thú rừng. Tui chắc thằng nhỏ bị con ma bắt đi rồi.
Thím Năm gục xuống xỉu tại chỗ, mọi người lại phải đưa thím vào nhà cứu chữa…
Chợt, anh Tư Phước hàng xóm sát nhà cậu Ba Hồng nhớ ra:
- TạI sao mình không nhờ anhBa ảnh giúp cho. Tui biết ảnh làm thầy hồI còn ở Sài Gòn lận.
Chú Năm mừng như ngườI chết đuốI vớ phảI phao cứu sinh:
- Sao anh không nói sớm. Anh đưa tui qua nhà ảnh đi.
Thế là chú Năm cùng Tư Phước chạy qua kiếm cậu Ba…
…
- Dạ - Bảy Bình kết thúc - thầy em nói dạo này khí vận không tốt lắm, không thể làm được chuyện này.Nhưng ngườI ta năn nỉ quá sức, vả lạI chú Năm cũng là ngườI trên xã, không giúp ổng cũng khó khăn trong công việc sau này. Vậy là thầy kếu em tức tốc về Sài Gòn tìm sư thúc trợ giúp. Không có ổng thì may thay gặp hai anh ở đây…
- Gặp ở đây thì sao? – Tôi hỏI ngược lại.
- Em định nhờ huynh giúp…
Bình chưa nói hết câu, tôi trợn mắt:
- TrờI đất! Bộ em tính kêu anh theo em về Bà Rá hả?
- Dạ, rốI quá, em chỉ biết nhờ huynh…
- Nhưng… chuyện này tao chưa làm lần nào hết. Không biết có được không nữa.
- Huynh ráng giúp giùm thầy trò em. Lúc này, không có huynh em chẳng biết nhờ ai. Huynh làm ơn giúp giùm…
Thằng Bình năn nỉ làm tôi mủI lòng.
Còn đang ngẫm nghĩ thì chân tôi bị đá nhẹ một cái. Ngó sang, Minh Tịnh nhìn tôi khẽ gật đầu một cái. Tôi mừng húm:
- Ông giúp tui nhe!
Minh Tịnh lạI gật đầu. Tôi thở phào nhẹ nhõm.
- Thôi được rồi. Trả tiền cà phê rồI mình lên đường luôn. Ghé qua nhà anh lấy đồ cái đã, tiện thể nói vớI mà anh một tiếng kẻo bà trông…
***
Đường về Phước Long xa mù mịt. Ba huynh đệ tôi ngồI bó chả trong chiếc xe chạy bằng than nóng như lò bát quái và chật cứng. Thằng Bình có vẻ quen thuộc nên ngồI tự nhiên, Minh Tịnh lên xe ngồI nhắm mắt như ngủ. Có mình tôi là khó chịu thật sự. Trước nay, mỗI lần đi xa, nếu không đi máy bay thì cũng đi ô tô du lịch gắn máy lạnh đàng hoàng.bây giờ mớI biết cảm giác đi xe than thú vị cỡ nào… Ngồi im một hồI, tôi thử quán tưởng. Thân con ngườI lúc chưa sinh ra cũng đâu có rộng rãi gì hơn. Trong một cáin túi nhau chật hẹp suốt chín tháng mườI ngày. Khi ra đờI lạI bị quấn vòng trong vòng ngoài như bó chả. Lớn lên lạI bị ràng buộc vào trong hàng loạt những thứ linh tinh khác, rồI mãi quây quần trong đờI tạm cũng chật chộI khó chịu tù túng có khác chi mình ngồi trong chiếc xe than này. Chẳng qua, một cảm giác chật hẹp nóng bức có thể cảm nhận được và một cảm giác vô hình không thấy được đó thôi…
Nghĩ đến đó, tôi thấy cảm giác khó chịu không còn hành hạ mình nữa. Tôi cũng bắt chước Minh Tịnh khoanh tay lim dim mắt. Bất ngờ, sư huynh mở mắt nhìn tôi cườI ý nghĩa. Tôi cũng cườI và nhắm mắt lạI đọc bài kinh hộ mạng: “ Buot tho tế lô…”

***
Vào đến chỗ ở của cậu Ba, tôi mớI biết cuộc sống cậu ấy khổ đến thế nào. Một căn nhà lá ba gian lụp xụp, cái sân hẹp phơi đầy củ khoai mì và bắp. Bước vào trong, cái bàn thờ đóng tạm bằng mấy miếng ván cũ, trơ vơ phía trên là hình Phật Di Đà, Quan âm, phía dướI là tấm sắc thờ chư vị 5 ông đã bạc màu theo năm tháng…
Cậu Ba từ nhà sau bước lên, nhìn thấy huynh đệ tôi, cậu ớ lên một tiếng rồI đứng trân ngỡ ngàng, xúc động. Có lẽ cậu không ngờ huynh đệ tôi lặn lộI lên tận chốn này…
Chuyện hàn huyên những tưởng không cần kể lể dài dòng. Huynh đệ chúng tôi ngay sau đó theo cậu Ba sang nhà chú Năm ba nthằng Hiếu. Nghe nói có thầy ở Sài Gòn xuống, bà con trong xóm kéo đến một nhà. Kẻ trong ngườI ngoài lố nhố như xem hát tuồng. Huynh đệ tôi đã quen vớI những chuyện này nên cũng không ngạI ngùng cho lắm.
Sau khi nghe kể đầu đuôi câu chuyện, Minh Tịnh nhìn đồng hồ nói:
- Bây giờ cũng chiều rồI, mình phảI khẩn trương lên để kịp tìm thằng nhỏ về trước lúc trờI tối. Để mặt trờI sụp xuống là khó hy vọng lắm. Đêm nay là đêm thứ ba rồi.
Chú Năm tha thiết:
- Dạ, thầy cứ chỉ dạy, chuyện gì tụI tui cũng là hết.
Tư Phước cũng xen vô:
- Tụi tui cũng giúp nữa thầy. Cả xóm này ai cũng lo cho thằng nhỏ hết trơn, thầh có cần gì cứ nói.
Minh Tịnh không nói không rằng tiến đến bàn thờ Thổ công thắp nhang khấn vái. Tôi biết huynh ấy đang triệu thỉnh Thổ Thần hỏI việc.
Giây lát, Minh Tịnh cắm nhang vào lư hương, quay sang bảo tôi:
- Ông thắm nhang bàn thờ Phật và bàn thờ gia tiên. Đọc bài Ân đức Phật trước, sau đó qua bàn thờ gia tiên lấy tên tuổI thằng nhỏ mà tụng kinh hộI Cửu Huyền Thất Tổ, nhờ họ bảo mạng giùm.
Quay sang chú Năm:
- Anh vào bếp lấy cho tôi cái chén mà thằng nhỏ thường dùng ăn cơm. một đôi đũa cũ đem lên đây. Còn bà con – quay sang Tư Phước huynh nói tiếp – ai tuổI Dần, Ngọ Tuất thì đi phụ tìmn thằng nhỏ, ai không phảI tuổI thì cứ ở nhà đi theo không tiện.
Trong khi tôi cúng bên trong thì Minh Tịnh bước ra sân vẽ bùa làm phép…
Pháp sự hoàn tất, cái chén của thằng Hiếu được đặt vào trong lư hương cửu huyền. Lấy gạo đổ đầy chén, Minh Tịnh thắp ba cây nhang cắm vào, lấy một cái trứng gà để dướI chân nhang, gác ngang đôi đũa và bắt đầu khởI hành vào rừng.Nhóm ngườI tìm kiếm cũng chia làm ba nhóm theo tuổi. Tôi và Minh Tịnh đi vớI nhóm tuổI Dần, cậu Ba Hồng và chú Năm đi vớI nhóm tuổI Ngọ, thằng Bình và thím Năm đi vớI nhóm tuổI Tuất. MỗI nhóm mang theo chiêng, nắp nồI, vỏ đạn để gõ tạo thành tiếng động. Vừa gõ, họ vừa gọI tên thằng Hiếu om xòm.

Rừng càng lúc càng dày đặc, trờI cứ tốI dần đi. Chúng tôi bắt đầu sốt ruột. Cây nhang đã tàn hơn một nửa mà bóng dáng thằng Hiếu vẫn không thấy đâu.
mệt mỏI, chúng tôi ngồI bệt xuống một gốc cây to nghỉ ngơi. TrờI sẫm dần lạI, không gian mờ ảo…
Bỗng, một con khỉ từ đâu trên cây nhảy xuống chụp lấy cái trứng gà và chạy biến vào rừng mất dạng. MọI ngườI nhốn nháo toan chạy theo thì sư huynh tôi ngăn lại. Nhìn thấy vả mặt tươi cườI của huynh ấy là tôi biết có chuyện vui rôi.
- Sao ông? Được rồI hả?
Khẽ gật đầu, huynh ấy gọI lớn: “ Bà con về nghỉ, trờI tốI rồI không tìm được nữa đâu.”
MọI ngườI lốc thốc kéo về.
Đến gần nhà chú Năm, ai nấy nghe tiếng ồn ào náo nhiệt. Giọng tư Phước to nhất:
“… TụI tui mệt quá tính đi vế thì thím Năm bả mắc tiểu. Bả vừa chạy u vô phía sau bụI chuốI để xả thì tụI tui nghe bả la chỏI lỏi. Hết hồn, tui và thằng Bình chạy vô thấy bả đưa tay chỉ bụI chuốI lớn bên trong. mấy ngườI biết gì không? Thằng Hiếu nó ngồI thu lu ở giữa mấy gốc chuối. Mắt nó đứng tròng, tay bó gối. Còn cái miệng nó hả… TrờI đất ơi, nhét đầy nhóc đất cục luôn. TụI tui chạy lạI khiêng thằng nhỏ ra ngoài, móc đất trong miệng nó ra. Ông ơi.. trong đất còn có mấy con trùng bò lổn ngổn thấy mà ớn. Vậy là mấy anh em tôi thay nhau vác nó chạy về đây…”
Minh Tịnh vẹt mọI ngườI ra, tiếng đến chỗ thằng nhỏ đang nằm trên bộ ván. mặt của nó xanh mét, mắt nắm khít như ngủ. Huynh ấy, lấy lay đặt lên đầu thằng Hiếu nhắm mặt niệm lâm râm, tôi cũng nắm vộI hai ngón chân cái đứa nhỏ để tiếp lực. Đọc xong bài kinh Phật Lực, Minh Tịnh thổI ba hơi vào đỉnh đầu thằng Hiếu. Đoạn, dựng nó lên vỗ ba cái vào giữa hai gù vai.
Thằng Hiếu cựa mình mở mắt. Thím Năm mừng qua chạy lạI ôm chầm lấy nó khóc nức nở…
Minh Tịnh dặn:
- Ở nhà pha nước gừng cho đứa nhỏ uống, đừng bu đông qua nó bị ngộp.
sau khi tỉnh hẳn. Hiếu bắt đầu kể:
- HồI chơi trò ma chuối. Con đang ngồI thì có một cô đẹp lắm bước tớI hỏI con muốn đi chơi không, có chỗ này vui lắm. Con vừa gật đầu thì cô đó bước tớI nắm tay con chạy đi vù vù. Đến một chỗ đông ngườI lắm. Họ rủ con ở lạI chơi, họ cho con nhiều đồ ăn vớI kẹo bánh. Đang ăn thì mấy chú đến kêu con về…
Thì ra thằng nhỏ bị ma chuốI dấu. Hồn nó bị đưa vào cõi ma, cũng may là còn kịp đưa về. Nếu không, để qua đêm nay thế nào nó cũng bị kẹt ở lạI trong đó làm ma rừng suốt đời.
…
Chú Năm mừng rỡ liền làm luôn mấy con gà đãi bà con chòm xóm. Dĩ nhiên chúng tôi là thượng khách nên được khẩn khoản ở lạI thưởng thức món gà nướng đất sét đặc biệt do thím Năm làm. Anh em tôi viện cớ ăn chay nên xin phép ra về…
Trên đường về nhà cậu Ba, tôi và Minh Tịnh khẽ chạnh lòng cho cái vô minh của con người. Lẽ ra, con được cứu trở về thì gia đình phảI hồI tâm chuyển ý mà tin Phật. Đằng này… còn tiếp tục sát sanh để ăn mừng thoát nạn. Nghiệp này cứu được, sau này nghiệp khác chồng lên không biết ai sẽ là ngườI cứu họ đây.
Nghĩ mà buồn cho ngườI đời. Miệng họ luôn nói tin TrờI tưởng Phật, ngồI nói chuyện vớI nhau toàn lý lẽ cao sâu đến khi gặp chuyện rồI mớI hiểu con ngườI thực tạI là thế nào. Tôi khẽ chua chát nhớ lờI nói của chú Năm trước khi chia tay:
- Tôi hứa sẽ ăn chay mà. Nhưng đó là chuyện ngày mai. Còn bữa nay, anh em mình nhậu một bữa cho vui, coi như mừng thằng nhỏ bình an trở về…
Không biết khi nghiệp báo đổ tớI, có ai đứng ra hẹn ngày mai không nhỉ?
… TốI đó, ngồI nói chuyện vớI cậu Ba đến gần sáng. Chúng tôi mớI biết thêm nhiều câu chuyện về sự thăng trầm của cậu suốt thờI gian qua. Thôi! Làm thầy là để trả nghiệp. Nghiệp hết rồI thì mọI thứ lạI bình ổn như xưa thôi.
Nhìn lên bà thờ lấp loé mấy cây nhang cháy đỏ, tôi biết chư Thần vẫn còn ở đó. Nhưng, đâu có chư thần nào chịu xen vào nhân quả thế gian đâu. Họ chỉ xuất hiện đỡ lưng trong những lúc tốI cần thiết… Đó lại là chuyện khác sau này của câu ba, không phải là câu chuyện bây giờ
… Ba giờ sáng, thầy trò thằng Bình đã thức dậy tiễn huynh đệ tôi ra lộ lớn. Nơi đó, những chiếc xe than chở chuốI mít, khoai mì đang đổ về Sài Gòn. Chúng tôi sẽ đi nhờ một trong những chiếc xe than ấy. Quà tặng mang về là … mấy củ khoai mì mà cô Ba thức dậy nấu từ hồI sớm.
Chiếc xe than rồ máy chạy bon bon trên con đường về thành phố. Bóng thầy trò cậu Ba nhanh chóng biến mất trong màn đêm. MỗI ngườI lạI tiếp tục cuộc hành trình của mình…
Còn gia đình chú năm? Có lẽ giờ này họ vẫn đang ngủ ngon sau bữa tiệc rượu linh đình.
Ngó sang Minh Tịnh, huynh ấy lạI tiếp tục khoanh tay lim dim không biết đang ngủ hay thức.
Ngó ra ngoài, trờI vẫn còn tốI đen như mực. Chiếc xe than chở chúng tôi đang cố pha đèn vào khoảng không gian đen tốI để tìm đường chạy…
Viết xong ngày 15 tháng 5 năm 2009
(TADN)

Ma giấu - chap 01

- Em chào anh Dũng! Mấy nay anh khoẻ không?
Đang ngồi uống cà phê tán gẫu cùng sư huynh Minh Tịnh thì một tiếng chào cắt ngang câu chuyện. tôi ngẩng đầu lên nhìn. Một thanh niên ngoài 30 tuổI gầy gò, đen đúa như ngườI dân tộcđứng trước mặt tôi cườI toe toét. Nhìn nụ cười, tôi ngờ ngợ.
- Hình như em là…
- TrờI ơi, thằng Bình nè, anh hổng nhớ em hả.
- Bảy Bình phảI hôn? Ông ơi, em đi đâu mà ghé đây? Không phải đã về Bà Rá ở rồi sao? Sao lại có mặt ở chỗ này. Còn anh Ba thầy của em có khoẻ hôn? Ảnh có về hôn?
Tôi hỏi liên tu bất tận không kịp cho Bình trả lời, thằng nhỏ cứ đứng ngẩn ra mà cười. Một bàn tay vỗ nhẹ lên đầu gối của tôi, quay lại thấy Minh Tịnh vừa cười vừa chỉ vào cái ghế. Tôi lúc bấy giờ mớ ngớ ra là chưa cho thằng nhỏ ngồI xuống.
- Thôi chết, anh xin lỗi. Bình ngồi xuống rồi nói chuyện đi em. Gặp lại tao mừng quá nên quên cả việc mời ngồi.
- Dạ - Bình với tay kéo cái ghế ở bàn bên kia qua và từ tốn ngồi xuống. Trông nó có vẻ mệt mỏi.
- Em uống gì không?
- Dạ anh cho em ly cà phê đá ít đường.
- Sao em biết anh ở đây mà ghé?
- Dạ, em ghé nhà, nghe người nhà nói anh đi uống cà phê nên thử đi tìm. May sao chư thần chỉ lối vừa ra một đoạn là thấy anh đang ngồi với anh Hai…
- Ừ, lúc rảnh không biết làm gì là anh rủ ổng đi uống cà phê tán dóc cho đỡ buồn đó mà. Sao, còn em với thầy em dạo này thế nào?
- Dạ…

***
Tôi quen với thầy trò của Bình cũng trong một lần đi núi. Ngày ấy, trên núi Cấm còn hoang sơ lắm. Người hành hương tứ xứ tụ tập lên Điện Bồ Hong lễ bái cúng dường xong là trải chiếu dướI mấy gộp đá mà ngủ. Người có tiền thì chịu khó đi bộ xuống vài trăm bậc đá sẽ có mấy cái chòi che tạm để giăng võng ngủ. Nhưng hầu như mọI ngườI đều thích ở lạI trên đỉnh hơn. Có lẽ họ muốn được lãnh điển trờI hay vì muốn được tự do nhóm họp và ca hát…

(Điện Bồ Hong)
Đêm đó, người ở lại trên điện đa phần là bổn đạo của phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa, phần còn lại là các vị có phần căn được vô hình dựa xác. Tôi tháp tùng theo đoàn khách hành hương ở khu người Hoa Chợ Lớn. Sau phần cúng lễ, hầu hết thành viên trong xe tôi đều xuống dướI triền để nghỉ ngơi. Chỉ riêng tôi cùng vài người ở lại ngồi đàm đạo chuyện đông tây kim cổ. Không khí lúc đó cũng vui, bên đây rì rầm nói chuyện, bên kia đọc tụng lào xào, Văng vẳng vang lên mấy bài kệ pháp của các vị linh căn về điển…
Bỗng, ở phía bên kia có tiếng la hét bất thường. Cảm giác có điều bất ổn , tôi cùng vài huynh đệ vôi chạy qua xem. Trong ánh sáng nhập nhoạng của đèn nến nghi ngút trên bệ thờ, tôi nhìn thấy một người phụ nữ đang vật vã. Những người xung quanh đều hoảng hốt tránh ra xa thành một vòng tròn , chỉ còn lại ngiữa vòng hai người đàn ông một trung niên, một trẻ tuổi. Anh bạn trẻ đang cố hết sức giữ chặt vai người phụ nữ, còn người đàn ông trung niên đang dùng nhang khoán thổi. Trớ trêu ở chỗ, càng khoán thổi người đàn bà càng vật vã giữ dội.
Sau một lúc, người phụ nữ vùng dậy được hất mạnh chàng trai té ngã vào đám đông và gầm gừ gào thét dữ dội. Người đàn ông trung niên có vẻ hốt hoảng và tức giận. Tôi thấy ông ta co tay trái thành Lôi ấn, chuyển chân thành bộ Cương, ngưng thần nắm chặt bó nhang trong tay…
Không hiểu động lực nào giật tôi ra khỏi đám đông, chạy đến chụp cổ tay ông lại. Người đàn ông quay sang nhìn tôi với vẻ khó hiểu và bực dọc. nhưng lúc ấy tôi còn để ý gì nữa đâu. Chụp ly nước để trên bệ thờ, tôi kết ấn Cát Tường đọc kinh thỉnh Tổ. Một luồng khí ấm áp từ đỉnh đầu lan xuống, tôi lâng lâng sảng khoái. Không hiểu sao tôi bật nói một tràng tiếng lạ, khẩu âm giống giống tiếng Khơme nhưng không phải.
Người đàn bà đang vật vã bỗng dịu hẳn lại. Bà ta ngồi yên lắng nghe tôi nói một cách chăm chú. Thế rồi…
Người phụ nữ cất tiếng trả lời. Tiếng nói cũng âm hưởng giống cách phát âm của tôi. Cả hai nói chuyện qua lại với nhau liên tu bất tận. Nói ra thì kỳ, trước nay có bao giờ tôi biết nói tiếng Miên tiếng Lèo gì đâu. Hôm nay sao đột ngột xuất khẩu thành lời, một thứ ngôn từ mà mình chưa bao giờ học. Thầy tôi có nói, đó là tiếng âm, tiếng của chư vị Lục Tổ chư vị Lục Xiêm ở cõi giới trên trao điổi với nhau. Nghe thì nghe vậy chứ có áp dụng lần nào đâu mà biết, giờ đây gặp chuyện, cái thứ tiếng lạ đó cứ tuôn trào như nước chảy. Lạ hơn nữa là người phụ nữ nói đến đâu, tôi hiểu ngay đến đó, hiểu một cách tự nhiên như đang nghe tiếng mẹ đẻ của mình…
Trao đổi với nhau một hồi lâu, người phụ nữ gật đầu ra vẻ đồng ý. Tôi liền bước tới gần hớp một hớp nước trong ly phun lên phía sau lưng người phụ nữ. Bà ta ưỡn người dựng đứng thân mình rồi rũ xuống như tàu lá chuối bị gió quật gãy. Sợ phần điển xuất ra mang theo sinh khí, tôi liền quỳ xuống phía sau lưng hoạ chữ Phật trong phép của Tổ sư Đại động vào giữa hai vai người phụ nữ, miệng lâm râm khấn vái:
MÔ TÂY PHƯƠNG SƯ TỔ, ÔNG BÙA ĐẠI TIÊN, LỤC CỤ CHUI.
NAM MÔ ÔNG BÙA, ĐỨC PHẬT VƯƠNG TRỢ LỰC CHO ĐỆ TỬ LÀM PHÉP GIÚP Đ ỜI..
Thời gian trôi nhanh khoảng chừng hớp một chung trà, người phụ nữ cựa mình tỉnh dậy. Bà đưa mắt ngơ ngác nhìn quanh như dò hỏi. Tôi ngoắc mấy người ngồi gần đưa bà ta ra khỏi tâm vòng tròn, đoạn trả chung nước lại trên bàn thờ. Tiện tay, tôi thắp bảy nén nhang kỉnh lễ chư vị…
Người đàn ông trung niên nãy giờ im lặng quan sát việc làm của tôi bây giờ mới lên tiếng:
- Chào huynh, chẳng hay huynh là…
- Dạ, tôi ở Sài Gòn mới xuống hồi chiều này.
- Tôi cũng ở Sài Gòn đây. Chẳng hay huynh ở quận mấy?
- Dạ, tôi ở quận 5, gần chùa Bà Thiên Hậu đường Nguyễn Trãi.
- Còn tui ở quận 8, gần cầu Chà Và. Tui với bổn đạo - vừa nói ông vừa chỉ mấy người ngồi quanh – cũng mới xuống hồi chiều này.
- Huynh ở gần cầu Chà Và vậy có ở đường Bến Ba Đình không vậy?
- Ủa, huynh biết hả? Tui ở cuối bến Ba Đình, gần chợ Xóm Củi đó.
- Dạ, thỉnh thoảng tôi cũng có qua đó thăm người quen – Tôi cố tình dấu tung tích của thầy mình.
- Hay quá. Vậy khi nào có qua, huynh cứ đến gần ngã ba hỏi thăm cậu Ba Hồng, ai cũng biết tui hết đó. Có dịp huynh ghé qua nghen. Còn đây là thằng Bình, học trò của tui – Ông ta quay sang chỉ người thanh niên đứng bên cạnh.
Khẽ gật đầu chào anh ta, tôi trả lời cho xong chuyện:
- Dạ. Khi rảnh tôi sẽ ghé…
Chưa đợi tôi nói hết, cậu Ba Hồng - tức người đàn ông trung niên - đã vội kéo tôi ra ngoài vòng tròn và hỏi nhỏ:
- Hồi nãy, huynh trao đổi gì với mấy ổng vậy?
Thì ra huynh ta đang thắc mắc cái vụ nói chuyện tiếng âm. Tôi cười hỏi lại cắc cớ:
- Vậy huynh biết mấy ổng là ai hôn?
- Tui biết là chư vị thôi, còn là ai thì chưa rõ lắm.
- Chưa rõ mà huynh định dùng Ngũ Lôi đánh người ta, thiệt là …
Ba Hồng cười gượng:
- Hồi nãy, thấy nó lì quá nên tui định trục ra…
Lần này đến tôi nghiêm mặt:
- Tôi nói thiệt lòng, mong huynh tha lỗi nếu có gì xúc phạm. Huynh chưa biết là ai, cũng chưa hỏi rõ ngọn nguồn đã thủ ấn đánh người, không khéo sau này gặp chuyện phiền phức không gỡ nỗi đó. Người ta là điển cô cậu, chưa đủ thời kỳ về xác, huynh triệu thỉnh các vị nhập về lại không giải điển được làm người ta bị kẹt trong xác, vậy mà còn định đánh Ngũ Lôi nữa thì lỗi của huynh nhiều quá xá.
Cậu Ba chống chế:
- Tôi nghĩ nếu là chư vị thì phải xuất nhập bình an chứ, có lý đâu lại …
- Muốn về xác phải có sắc lệnh. Cái xác thối tha này, nhất là xác nữ càng nhiều uế trược, ai mà ngự cho được chứ. Lỡ vào rồi chẳng khác gì cá vô lờ, mắc kẹt lại xác làm sao mà chịu nổi… Hồi nãy, các vị giận huynh lắm đó.
Cậu Ba Hồng dường như thấm thía, thở dài ngồi im nhìn vào khoảng không trước mặt…
***
Chuyện ấy xảy ra thắm thoắt đã gần 10 năm.
Sau này, thỉnh thoảng qua thăm thầy, tiện đường tôi cũng có ghé nhà cậu Ba Hồng chơi. Nhà cậu cũng không rộng rãi gì, một trệt một gác gỗ. Điện thờ ở trên gác, phần nhà trệt để bán tạp hoá và phòng ngủ, nhà bếp, nhà vệ sinh. Những chuyện giao lưu qua lại có lẽ không cần thiết phải dài dòng làm gì. Có điều, tôi không thường ghé nhà cậu mặc dù cậu rất quý tôi. Bởi mỗi lần ghé, ít nhiều gì tôi cũng phải ngồi đồng tiếp xúc với một loạt các đồng đạo của cậu ta. Nhìn thấy các vị ấy cứ lúc âm lúc dương, không bao giờ chịu tự chủ bản thân mà tu tiến, lúc nào họ cũng chờ đợi có ai nhập xác để nói chuyện huyền cơ khiến tôi cảm thấy buồn lòng. Chư vị về tá điển làm việc giúp đời chẳng qua là muốn lập đủ các công đức để thằng lên bậc cao. Công đức ấy, phần xác được hưởng một phần. Nếu ai biết nương theo điều đó mà tu tập thì mau thăng tiến, ngược lại sẽ trở thành con đồng không hơn không kém.
Tôi buồn và không muốn tiếp xúc vì hầu hết những người tôi gặp đều sống dựa vào cõi vô hình. Thậm chí không ai giáng điển họ cũng tìm cách gật gù ỡm ờ cho có vẻ linh thiêng huyền bí, nói chuyện thì cứ như người cõi trên, áo quần thì luôn khác người. Nếu không loè loẹt phấn son thì cũng ra vẻ tiên nhân giáng thế. Hỏi thăm gia đình họ mới biết đa số là con cái lang thang học hành không đến nơi đến chốn, vợ chồng hục hặc. Tôi chạnh nghĩ, lúc nào họ cũng ở trên mây như thế, chả trách chồng, vợ, con cái nản lòng mà xa cách. Tôi có đưa vấn đề ra nói thẳng, nhiều vị còn tỏ vẻ giận dỗi hoặc đổ thừa cho căn số. Thiết tưởng, căn số là hoàn cảnh trớ trêu mà con người tìm mọi cách thoát ra nhưng không thoát. Còn họ cứ bỏ nhà bỏ cửa đi hết chùa này miễu nọ, hết đình to am nhỏ, hết núi lớn đến sông dài thì gia đình làm sao cung phụng cho nỗi…
Càng nghĩ, tôi càng thấy họ xa dần những điều Phật dạy, mê mãi trong ánh hào quang mà chư vị tá về giúp độ. Ngày nào đó không xa, khi công thành quả mãn, chư vị rút điển đi còn trơ lại xác thân, lúc bấy giờ nghiệp đổ ra không ai gánh chịu giùm mình…
Bẵng một thời gian rất lâu tôi không ghé, nghe đâu gia đình cậu Ba bán nhà đi về kinh tế mới ở tận Bù Băng – Sông Bé (bây giờ là Bình Phước). Thằng Bình là đệ tử thân thiết, cũng không có người thân nên cậu Ba Hồng đưa nó theo sống chung.
Vậy mà thoắt cái đã hơn ba năm …

***
- Dạ.. thầy em có lời hỏi thăm huynh và anh Hai…
Câu nói của Bảy Bình kéo tôi trở về với thực tại.
- Vậy dạo này cậu Ba ổng sống ra sao?
- Vất vả lắm huynh ơi - Giọng Bảy Bình lắng xuống cố nén một tiếng thở dài.
- Đành chịu thôi. Về vùng kinh tế mới mà, có phải như ở thành phố đâu mà đòi hỏi tiện nghi sung sướng.
Minh Tịnh cũng góp vào một câu:
- Ngẫm ra chỉ ở tại đất Sài Gòn này là hạnh phúc nhất. Có nghèo đến đâu cũng không đến nỗi đói kém.
- Về trên ấy, mọi người sống bằng gì?
- Dạ, thì cũng làm rẫy là chủ yếu.
- Ở trên đó yên tĩnh, gần rừng núi, chắc là cậu Ba ổng luyện dữ lắm hả Bình?
Thằng Bình khẽ cúi đầu:
- Mất hết rồi huynh ơi. Thầy Tổ hết độ rồi…
- Vậy là sao ? – Tôi ngơ ngác.
- Dạ… sư phụ không những chữa bệnh hết được mà còn bị ma rừng phá phách nữa!
- Trời đất! Có chuyện đó sao?
Bảy Bình bắt đầu kể, nó kể nhiều lắm nhưng tôi chỉ lược thuật lại hai câu chuyện :
… Sau khi về Sông Bé gần một năm thì các nguồn hỗ trợ dành cho người đi kinh tế mới cạn sạch. Chính quyền thì ở xa, điều kiện đi lại thì khó khăn, rẫy bắp trồng suốt thời gian qua không cho được bao nhiêu trái, lại không bán được cho ai. Thế là đói.
Thầy trò thằng Bình phải đi bẫy thú, bắn chim để cải thiện.
Hôm đó, hai thầy trò đang đi thăm bẫy thì nghe tiếng ếch kêu vang rân. Cậu Ba soi đèn và phát hiện trên mấy gò đất ếch hội đầy. Con nào con nấy bự bằng bàn tay trở lên. Mắt ếch phản chiếu ánh đèn lấp lánh. Mừng rỡ như bắt được vàng, hai thầy trò bỏ cả việc thăm bẫy lao vào bắt ếch. Cái dòng ếch nghĩ cũng lạ, bị đèn chiếu vào mắt là ngồi trơ ra như bị thôi miên, người ta chỉ có việc bước tới nắm lấy ngang thân bỏ vào lồng.
Chẳng mấy chốc, cái lồng đan bằng tre lồ ô đã đầy. Hai thầy trò khệ nệ mang về nhà, vừa đi vừa tiếc rẻ mấy con ếch chưa bắt.

Đổ hết giỏ ếch vào cái lu gạo đã trống rỗng, thằng Bình chắn lên nắp đậy một cục đá to cho chắc ăn. Nó cẩn thận để hở ra một chút vừa đủ cho lũ ếch không chết ngộp. Xong, hai thầy trò đi ngủ. Cậu Ba vào ngủ trong buồng, thằng Bình ngủ ở nhà sau….
Chỉ mới lim dim chưa kịp thả hồn thì.. thằng Bình chợt nghe không khí yên lặng một cách lạ kỳ. Cái im lặng thật đáng sợ. Nó tạo cho người ta một cảm giác bất an. Thằng Bình trăn trở một hồi chợt nhận ra nãy giờ không hề nghe tiếng ếch kêu. Quái! Không con này kêu thì cũng còn con khác chứ, lẽ nào im dữ vậy!
Nó mò mẫm trong bóng tối lần ra sau hè. Đứng bên lu ếch, Bình đánh que diêm cháy sáng. Một tay cầm diêm, một tay kéo nắp lu xích ra một chút. Vừa nhìn vào lu, Bình đã hốt hoảng hét lên…
(TADN)

Chuyện cây chuối

(Thấy blog TADN đóng cửa, TGVH cũng im lìm, tui tiếc mấy bài viết hay nên coppy về đây để anh chị em đọc đỡ buồn. Chắc là tác giả không nỡ trách cứ).


Cây chuối có tánh âm, nhất là chuối xiêm. Những oan hồn có thể mượn thân chuối lâu năm mà tá nhập vào để dưỡng linh. Vì vậy, người xưa thường trồng cây chuối bên cạnh mộ người con gái chết khi còn mang bầu. Linh hồn cô gái nương vào thân chuối ngày hứng dương quang đêm thu âm khí đủ thời kỳ hoa chuối trổ buồng cũng là lúc đứa nhỏ trong bào thai xác chết chào đời. Có như vậy vong hồn người chết mới không nặng oán hờn, dễ dàng siêu độ. Lúc đó, thầy đẵn lấy thân chuối, cho mặc áo quần người đã khuất, hoa chuối vừa trổ được gói lại thành hình hài nhi đặt vào lòng mẹ. Thầy làm pháp sự, trì chú vãng sanh, tụng kinh hoá hồn giúp cho mẹ con vong linh an lòng ra đi không vương vấn. Sau khi hoàn mãn pháp sự, tất cả được thiêu ra tro rải xuống sông lớn để hoá giải.

Ở xóm trong nhà tôi có chị Xuân lấy chồng được ba năm. Chồng là anh Tư Móm chạy xích lô máy, chở mối đi chợ sớm. Cứ độ 3 giờ sáng là anh chồng nổ máy đùng đùng chạy từ trong xóm ra đường báo thức mọi người. Riết rồi cũng quen. Tôi ngủ trên bộ ván gõ của ông nội để lại ở nhà trước. Khi xích lô máy anh Tư chạy qua cũng là lúc tôi ngồi dậy tu luyện (thật ra luyện phép trong giờ Dần là điều không nên, nhưng ngặt nỗi nhà tôi thức khuya coi Tivi ngay nhà trước. Nằm chờ mọi người đi ngủ thì… tôi đã ngủ trước từ tám đời rồi). Thời gian đầu thầy tôi chỉ cho tôi trì chuỗi và niệm Phật. Sau vài tháng thầy mới bắt đầu hướng dẫn kết ấn Chuẩn Đề trì chú pháp…
Tôi không ngờ chuyện lại bắt đầu từ chị Xuân vợ anh Tư móm…
Hôm đó tôi đi học về thì thấy xóm trong ồn ào xôn xao. Nhìn tụi Út Chín Út Mười con bà Hai Cẩu đang chạy lon ton chen vào đám đông, tôi cũng quăng cặp chạy theo bất kể tiếng réo í a í ới của bà nội. Len qua được chân của đám đông đang chen chúc, bàn tán, tụi tôi đã đứng ngay trước cửa nhà anh Tư móm.
Nhìn vào trong, tôi chợt lạnh cả người…
Nằm trên cái đi – văng giữa nhà là một xác người đắp mền. Cái mền nhỏ không đủ phủ hết toàn thân, tôi thấy lộ ra hai bàn chân nhỏ nhắn trong đó bàn chân bên phải đen bầm. Cái xác nằm ngửa nên tôi thấy rõ cái bụng to đùng nhô lên muốn che khuất cả nải chuối dằn trên bụng.
Ông trời ơi! Đúng là chị Xuân rồi. Ở nhà có mình chị là có bầu thôi. Cái bụng bầu hơn bốn tháng kia đúng là của chị rồi chứ còn ai vô đây nữa! Hổng lẽ chị chết?
Tôi rón rén chuồn qua chân mọi người đi ra bên ngoài. Thấy bà Hai Nhà bìa và mấy bà xóm trong nói chuyện về chị Xuân, tôi mon men lại nghe.
- Tội nghiệp – bà Hai vừa xỉa cục thuốc bự chảng vừa nói – Nó bị rắn lục xanh cắn mà không chịu đi chữa liền. Chỉ mời ông thầy rắn về nhà đắp thuốc thôi mới sanh chuyện vậy đó. Nó mà nghe lời đi vô bệnh viện là đâu đến nỗi.
- Chị cứ mê tín bệnh viện. Vô trỏng có ba mớ thuốc đỏ bông gòn với trụ sinh làm gì mà chữa rắn cắn. Nói vậy là có lỗi với ông thầy đó nghen. Chính mắt tui thấy ổng chữa nè! – Bà Mười Tình cãi lại.
- Ổng chữa sao?
- Ông thầy này Miên hay Chà gì đó, tay ổng xăm bùa thấy phát ớn luôn. Tui qua coi chừng phụ với má thằng Tư, thấy ổng bắt con Xuân nằm trên bộ ván đó, rồi ổng lấy một lá trầu với lại một cây nhang làm phép. Ổng vẽ gì đó lên lá trầu rồi lấy lá trầu rà trên mình con nhỏ, vừa rà lên rà xuống ổng vừa gỏ cây nhang lên lá trầu. Miệng ổng xí xô xí xào tiếng Miên tiếng Lèo gì hổng biết mà …
Bà Mười Tình ngừng lại phun miếng cổ trầu đỏ hoét ra, lấy hai ngón tay vuốt dọc theo mép vét sạch nước đỏ còn dính rồi thong thả kể tiếp:
- Con Xuân nó nằm rên như ai đánh nó, rồi nó bắt đầu uốn éo. Chèn đét ơi, cái bầu nó chang bang vậy mà nó uốn qua uốn lại dẻo quẹo như cái mình con rắn. Nó vừa vặn vẹo vừa rên, nước miếng nó chảy ròng ròng như chó điên thấy phát ớn. Mấy bà biết sao hôn, chừng nhai dập miếng bả trầu là ông thầy ngưng lại, tui thấy lá trầu ổng cần đổ nhớt thấy ghê. Sau đó ổng lấy miếng vải trắng băng lại. Ổng nói con Xuân có bầu nên ổng trục nọc ra không hết. Phải trị ba ngày, mỗi ngày một chút mới dứt.
- Ổng làm hay vậy sao con nhỏ chết chứ? – Bà Hai hỏi ngang.
- Vậy mới nói. Tại thằng Tư móm hết trơn. Nó giết vợ nó đó.- Bà Mười kể tiếp - Ông thầy về hồi trưa hôm qua, tối thằng Tư về nhà mới hay vợ nó bị rắn cắn. Nó vạch chân ra xem, thấy có miếng vải trắng băng ngang , nó tháo ra luôn. Tui cũng không biết sao con nhỏ lại để cho chồng nó tháo nữa. Nọc chạy lên cổ, một chút thôi tui nghe nó la làng, chạy qua khiêng nó lên xích lô chở vô bệnh viện đến gần sáng thì con nhỏ chết. Thiệt là tội nghiệp, nó chết kéo theo luôn đứa nhỏ…
Nói không dứt câu, bà Mười thở dài sườn sượt…
Đám ma chị Xuân tổ chức sơ sài. Thầy trng chùa coi ngày nói phải chôn nhanh mới kịp ngày giờ tốt, còn không phải chờ đến tuần sau. Vậy là đám ma bữa trước, bữa sau gia đình vội vã đem chôn ở miếng đất phía sau nhà gần ruộng rau muống. Bên cạnh ngôi mộ là cây chuối xiêm tươi non.
Vào mùa khô, ruộng rau muống cạn dần không trồng tỉa gì được. Mấy đứa trong xóm tôi thường kéo nhau ra chơi đá banh, nhảy dây. Nhưng vui cỡ nào, tụi nó cũng không dám bén mảng đến gần ngôi mộ và cây chuối. Chỉ có tôi…

Ỷ lạI vào công tu luyện Chuẩn Đề và có thầy tôi làm hậu thuẫn, tôi chẳng hề sợ hãi ngôi mộ đất và cây chuốI kia.Trong khi mấy đứa bạn nhí nhố chơi giỡn ngoài xa thì tôi cứ ung dung bắt chuồn chuồn gần mộ. Có lúc tò mò tôi còn đứng bên mộ quan sát cây chuối. Thật ra cây chuốI cũng bình thường thôi, chẳng có gì thần bí hay ma quái như lờI kể của mọI người. Trồng mới có ba tháng mà chuốI mọc xanh tốt nõn nà. Nhìn kỹ, tôi thấy trên thân cây còn buộc miếng vảI sô tang màu trắng.
“Chắc ngườI ta cột để làm dấu” – Tôi nghĩ.
Gió ngoài ruộng thổI mạnh, cây chuốI uốn éo phe phẩy mấy tàu lá xanh. Bất giác tôi đưa tay sờ vào thân cây…
Một dòng điện lạnh từ cây chuốI truyền sang ngón tay tôi, chạy dọc theo sống lưng lên thẳng trên ót. Tôi giật bắn ngườI rụt tay lạI. Cả ngườI tôi rần rật , cảm giác ngột ngạt khó thở mặc dù gió chiều vẫn đang thổI lồng lộng trên ruộng rau muống. Tôi bỏ chạy về nhà…
Chiều hôm đó tôi bỏ ăn, ngườI ngây ngấy sốt. Má tôi vộI chạy mua hai viên Aspirin cho tôi uống. Nhưng tình hình vẫn không đỡ chút nào. Tôi nằm lịm trên giường trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh…
… Ruộng rau muống cuốI xóm trảI rộng trước mắt, tôi ngơ ngác lướt nhẹ trên các tảng đất khô nứt mà không có cảm giác đau đớn gì. Bầu trờI sao mà ảm đạm quá, cứ nhờ nhờ như buổI sáng chuẩn bị mưa. Chẳng thấy ai ngoài ruộng ngoài tôi. Bước chân vô tình cứ đưa tôi đến gần ngôi mộ đất. Cây chuốI vẫn cứ im lìm đứng bên ngôi mộ. Tôi bước đến gần đưa tay sờ vào cây chuốI, động tác giống y lúc chiều… Thân chuốI trơn lì, mát lạnh. Đột ngột, cây chuốI chuyển động, nó uốn éo rồI đổ oặt xuống. Trong lúc chưa biết chuyện gì xảy ra thì thân chuốI bỗng quấn chặt lấy chân tôi. Nhìn xuống. TrờI đất ơi! một con rắn lục xanh lè cái mình to bằng thân cây chuốI lúc nãy đang nằm dài bên ngôi mộ. Đuôi rắn khoá chặt hai chân tôi, đầu rắn ngóc cao lên dần. Tôi thấy mồn một hai con mắt tròn như miệng ly uống trà, cái lưỡI đỏ hoét chẻ hai cứ thò ra thụt vô. Đôi điếng hồn nhìn trân vào đôi mắt rắn, miệng cứng ngắc không niệm được câu chú nào trong khi lòng tôi đang gào thét dữ dội. Thoáng mơ hồ phía sau đầu rắn là bóng chị Xuân đang đứng bên cạnh mộ vớI cái bụng bầu bự chảng…

Con rắn bắt đầu há cái miệng ra. To dần, to dần… Hai cái răng nanh của nó nhọn hoắt, cái lưỡi đỏ thè ra thụt vào gần đụng chót mũi của tôi. Thân thể tôi cứng đờ, đầu óc hầu như tê dại. Tôi đứng yên giương mắt nhìn cái miệng rắn đang banh ra hết cỡ, không còn một chút hơi sức nào. Lỗ tai tôi lùng bùng, thân thể dường như đang tan ra hoà vào một thứ gì đó sền sệt, dẻo quẹo. Lúc cảm giác ấy lan dần lên đến ngực là lúc miệng rắn chuẩn bị hạ xuống đầu tôi…
Ngay lúc đó, giữa đỉnh đầu tôi nổ “bụp”. Trong cảm giác mơ hồ ngây dại, tôi còn thoáng thấy một tia sáng màu vàng trắng hắt lên từ đầu tôi. Con rắn lục khổng lồ nhạt dần rồi biến mất. Thân thể tôi nhẹ tâng tưởng chừng có thể bay được lên cao như chim vậy…

… Tôi mở mắt. Xung quanh giường đứng ngồi lố nhố mấy người. Bà nội, cô Ba, bà mợ Ba và… chao ôi, có cả thầy tôi nữa. Tôi mở miệng toan nói nhưng dường như hơi sức tan đi đâu hết. Thầy biết ý phẩy tay ra dấu. Đoạn, thầy quay sang bà nội:
- Cháu nó tỉnh rồi, thím để tui xoa bóp mấy huyệt đạo của nó một chút cho thông máu.
- Mô Phật, nó tỉnh lại là may - nội tôi nói – nó nằm mê man cả ngày nay làm tui mất vía luôn vậy đó. May nhờ có thầy tình cờ ghé thăm, nếu không thì… tui cũng hổng biết làm sao. Chắc chở nó vô bệnh viện quá.
Thầy tôi cười nhẹ khẽ đưa mắt nhìn tôi. Ánh mắt và nụ cười đầy ý nghĩa.
Nội tôi yên tâm rút ra nhà sau ngồi ăn trầu với bà mợ. Cô Ba tôi cũng vô bếp làm cơm. Còn lại hai thầy trò. Tôi toan mở miệng nói lần nữa thì thầy tôi đã lật tôi nằm sấp trở lại. Thầy lấy trong cái túi cũ ra một hộp kim châm và cây ngãi cứu đã phơi khô cuộn tròn thành điếu thuốc sâu kèn. Bàn tay thầy nhanh thoăn thoắt cắm một lúc mười mấy cây kim trên lưng tôi. Vừa cắm thầy vừa đọc nho nhỏ:

- NAM MÔ ĐỨC NGỌC HÒANG THƯỢNG ĐẾ, TỨ VỊ THẦN TRỜI.
- NAMÔ THÁI ÂM PHẬT - NAMÔ THÁI DƯƠNG PHẬT.
- NAMÔ CHÍN PHƯƠNG TRỜI MƯỜI PHƯƠNG PHẬT.
- NAM MÔ SƯ TỔ Ở ĐẠI ĐỘNG HỘ ĐỘ ĐỆ TỬ GIÚP ĐỜI.


Châm xong mấy cây kim, thầy mồi lửa vào cây ngãi và đốt mấy đầu kim. Hơi nóng từ đầu kim lan toả xuống các huyệt đạo dọc sống lưng làm tôi thấy dễ chịu hẳn…


Thầy tôi ra về sau khi để lại ba hoàn thuốc tể đen thui như cục than để tôi uống mỗi đêm trước khi ngủ và dặn dò nội tôi mua bảy thứ lá ba thứ gai để xông và tắm…
Ngày Chủ nhật đã đến. Viện lý do vào trường lao động, tôi đạp xe đến nhà thầy.
Căn nhà thầy chật hẹp lại càng chật hẹp hơn vì số lượng người quá tải. Ngoài hai ông sư huynh là Minh An, Minh Tịnh thường xuyên mỗi tuần, hôm nay nhà thầy có một ông thầy chùa áo lam tướng mạo gầy gò trạc tuổi thầy tôi.
Thấy tôi dẫn xe vào, thầy tôi nhìn ra cười nói với ông thầy:
- Nhắc nó thì nó đến.
Ông thầy nhìn tôi chăm chú làm tôi lúng túng đến nỗi không tháo được cái giỏ đựng sổ tay móc trên ghi-đông xe.
Tôi vừa bước vào nhà, thầy tôi đã chỉ sang ông thầy, nói:
- Chào sư bá đi con. Sư bá đang tu với sư công trên Thủ Đức đó.
Tôi cúi đầu chào sư bá, chào thầy và vào đốt nhang bàn Phật. Tai vẫn nghe sư bá nói:
- Thằng này có căn tốt lắm. Xác hội đó. Ông lượm ở đâu mà được mấy đứa tốt quá vậy?
- Huynh hổng nhớ nửa năm trước, khi thầy xuống núi về chùa tu đó sao?
- Nhớ, mà sao?
- Trước khi xuống núi một tháng thầy đã cho em thằng nhỏ này đó.
Thầy kể nhanh câu chuyện về tôi ( trong “Một cõi âm dương”). Nghe xong, sư bá gật gù:
- Ông còn có duyên thầy trò, tôi giống như cây độc. Không biết sao này ra sao.
- Lo nghĩ gì huynh ơi! Huynh còn được tu bên thầy, còn tôi phải gánh một gánh này- vừa nói thầy vừa chỉ tay xung quanh - Huynh có phước đức hơn tôi nhiều. Vả lại, “trồng ba cây, hưởng được hơn một cây” thôi huynh à!
- Vậy hả? Dù sao cũng tốt hơn không có gì.
Nghe hai người lớn nói chuyện, thiệt tình ba huynh đệ tôi chẳng hiểu ất giáp gì ráo. Mãi mấy mươi năm sau, tôi mới biết huyền cơ…
Nhưng đó là chuyện khác. Tôi kể tiếp chuyện tôi.
Sau khi lễ Phật, lễ Tổ. Tôi kéo ghế ngồi sau lưng thầy bên cạnh hai ông huynh. Thầy tôi bảo nhắc ghế lên trước có việc. Đoạn, thầy hỏi lại căn cơ sự việc tôi bị bệnh. Tôi thực tình kể hết đầu đuôi, thầy và sư bá ngồi nghe chăm chú. Nghe xong, sư bá cười:
- Cái thằng căn tốt, dễ cảm thông với linh giới. Ông mà không nhận nó, một thời gian sau tự nó cũng làm thầy mà thôi. Nhưng mà… lúc đó nó về đâu thì chỉ có trời mới biết.
- Tôi và nó cũng có duyên. Hôm trước thắp nhang cúng ngọ, nghe trong người khó chịu. Tôi xin một quẻ Lục Nhâm, tính ra có người trong thân gặp chuyện, kiểm lại chỉ có thằng này kỵ ngày kỵ tháng. Tôi vội đi ngay. Đến không kịp chắc vía của nó đi dạo Trung giới luôn rồi.
Tôi rụt rè xen vào:
- Thầy ơi, tại sao con bị bệnh vậy thầy?
- Cây chuối có tánh âm, giờ đây có thêm hồn phách cô gái có mang bị chết oan phụ vào, dĩ nhiên là âm tính càng mạnh. Con là đồng tử, lại có căn âm, dễ cảm nhận linh giới hơn người khác nên dương khí bị ảnh hưởng chứ sao.
- Nhưng con thấy con rắn lục tổ bố luôn. Nó muốn nuốt con…
- Chẳng có con rắn nào hết. Oan khí hoá hình đó thôi. Cô gái chết oan vì bị rắn cắn, bây giờ oán khí ấy kết trong thân cây chuối hiện thành hình rắn. Con phạm vào cây chuối, tất nhiên bị rắn nuốt rồi…
- Vậy con hiểu rồi. Nếu cổ bị chó cắn chết thì… con sẽ thấy con chó hả thầy?
Thầy tôi và sư bá nhìn nhau cười.
- Nhưng hồi con rắn nuốt con, tại sao có ánh sáng trên đầu con vậy?
- Đó là linh quang hộ thể. Khi con nhập đạo, thầy thỉnh điển quang của Sư Tổ Đại động tá nhập vào con để hộ thân. Thời gian qua con trì chú Chuẩn Đề, mặc dù không thấy ấn chứng gì nhưng linh quang càng mạnh. Gặp lúc nguy hiểm , linh quang sẽ phóng ra bảo hộ.
- Sao nó không bảo hộ từ đầu…
- Thần trí con không định làm sao linh quang xuất hiện được. Khi nào tu tập đến mức cao thì con mới có thể tuỳ ý vận dụng linh quang hộ thân, chữa bệnh…
Thì ra là vậy. Trước đây tôi cứ tưởng học bùa phép là có một hoặc nhiều ông thần nhập vô mình, đi theo mình,mình sai bảo gì mấy ổng sẽ làm theo giống như mấy ông tiên trong truyện Phong Thần. Vậy ra, cái mà ta tưởng là chư thần đi theo, chỉ là điển quang của các vị mà thôi. Trước đây tôi còn nghĩ, có một ông thần mà cấp cho quá xá người, làm sao ông ta lo cho xuể. Bây giờ nghĩ lại thấy mình non nớt ngây thơ làm sao…

- Sư huynh nè. Nếu là sư huynh, cái vụ cây chuối đó sư huynh sẽ tính làm sao.
- Người thường theo phong tục chỉ biết trồng chuối bên mộ mà chưa biết cách siêu độ. Lẽ ra, sau khi cây chuối trổ hoa, họ phải đẵn thân chuối, cho mặc quần áo người chết vào. Cắt hoa chuối, quấn lại như quấn em bé đặt vào lòng hình nộm ấy. Tụng kinh hoặc chú để cầu siêu. Sau đó, đem đốt đi, thả tro xuống sông là an.
Ngó sang tôi, sư bá nói:
- Thằng này có duyên với phần âm, bây giờ nó phải trợ duyên cho người ta.
- Ý trời! sư bá ơi, con hổng biết làm gì đâu. Đừng kêu con lại gần cái mã đó nữa. (mà đúng vậy, sau này tôi rất sợ đến gần mấy ngôi mộ có trồng chuối, đặc biệt lại càng sợ rắn).
- Con tạo ra duyên thì con phải giải. Sư bá chỉ cho con cách này…. Yên tâm, đã có sư bá rồi…
… Ngày cây chuối trổ hoa, tôi lẻn gia đình ra mộ chị Xuân làm phép tán sa. Nói làm phép chứ thật ra tôi chỉ cầm chén cát đáy sông hoà với châu sa mà sư bá tôi đã chú nguyện từ trước. Vừa rải lên mộ tôi vừa đọc Quang Minh Cam Lộ thần chú:
“Oum, Amôga Vairocana maha mudra mani padme jvala pravattaya Hum”.
Tối hôm đó, trong giấc ngủ, tôi thấy chị Xuân mặc bộ quần áo bà ba thiệt đẹp, ẳm trong tay một đứa bé. Cái bụng bầu đã biến mất. Chị bước đi trên con đường nhựa thật rộng, rộng hơn cả xa lộ Đại hàn. Khẽ quay lại nhìn tôi, chị mỉm cười. Một nụ cười thiệt đẹp. Tôi nhớ hoài nụ cười hiền lành hạnh phúc ấy.

Viết xong ngày 11 tháng 10 năm 2008

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2010

Một đêm thức cùng “nhà ma”

Mấy chục năm trước đây, ông Minh vốn không phải là một người nghèo. Khi đó ông có một đội xe đò chạy liên tỉnh. Nhưng rồi tài sản của ông lụn bại dần cho đến khánh kiệt. Giờ đây, ông trở thành người đặc biệt khi đơn độc trú ngụ trong một ngôi nhà hoàn toàn không bình thường chút nào.



Tôi ngồi im lặng quan sát ông, cứ tự hỏi vì sao ông lại có thể bình thản sống trong ngôi nhà đáng sợ này hàng chục năm trời nay. “Con người quan trọng nhất là ở cái tâm, có cái tâm rồi thì chẳng phải sợ gì ma quỷ nữa” – ông Minh cười ý nhị.

Rồi ông lụi cụi đi tưới hoa. Phía dưới đồi, ông có mấy liếp rau và su hào. Đó là cái rẫy của ông. Ở đây, ông sinh hoạt như người dân tộc, gần như tự cung tự cấp. Tài sản còn lại của ông hầu như chẳng đáng gì, bao gồm cả con chó nhỏ chạy lạc vào ngôi nhà này mà ông đang nuôi.

Cùng với con chó, hội họa, hay nói đơn giản hơn là một cách tập tành vẽ tranh – những bức tranh mực tàu mà ông chỉ có thể tặng chứ không bao giờ bán – đó là niềm vui sống duy nhất của ông. Còn tại sao chỉ vẽ bằng mực tàu thì thật dễ hiểu: Ông lão chỉ có chừng ấy tiền mà thôi.

Thế nhưng, đó lại là một con người tự trọng, vì đáng lẽ ra với không ít khách đến tham quan ngôi nhà ma đầu đèo này, ông đã có thể làm được chí ít cái động tác thu “vé vào cửa”. Vậy mà, ông lại không hề nhận tiền của ai, còn tận tình hướng dẫn khách lên lầu xuống gác.

Đêm trong ngôi nhà


Ngược hẳn với dự tính ban đầu, đêm đó tôi đã ngủ lại ngôi nhà đầu đèo. Ông Minh cười hóm hỉnh, hỏi tôi muốn ngủ phòng nào. Trước đó trong bữa ăn tối, tôi đã bốc lên nói rằng tôi muốn có đôi chút cảm xúc gì đó để có thể viết một truyện ngắn về ngôi nhà này.

Đã trót thì phải trét, nhưng vấn đề là phòng nào? Trong ngôi nhà này, căn phòng nào cũng đều có lịch sử ớn lạnh của nó. Nếu là phòng hướng Đông thì đã từng có một tay anh chị ở chợ Đà Lạt, không biết cá cược với chúng bạn thế nào, đến xin ông Minh cho ở ba đêm.

Nhưng chỉ đến đêm thứ hai, tay này mặt cắt không còn hột máu, nói như thét vào mặt ông lão giữ nhà là đã thấy một người đàn bà mặc đồ trắng, tóc tai rũ rượi cứ kéo chân hắn. Còn nếu là căn phòng mà cô gái treo cổ ở phía Tây thì càng đáng sợ hơn, vì vết sơn đỏ mà cơ quan chức năng làm dấu trên tường chỗ có buộc dây thòng lọng vẫn còn sờ sờ ra đó.

Thế là chỉ còn duy nhất căn phòng nằm chính giữa ở tầng trên.


Tai quái thay, căn phòng này lại có đến ba cửa. Cả ba cửa đều không có khóa, chưa kể cánh cửa ra vào luôn sẵn sàng bật tung mỗi khi có một cơn gió thốc tới. Suốt đêm đó, tôi không tài nào ngủ được, dù đã tự cố trấn an mình bằng mọi lý lẽ.

Đêm càng khuya, gió càng mạnh, quăng quật và lồng lộn. Tôi ngồi nép sát vào vách tường, cố làm sao để có thể quan sát đồng thời cả ba cánh cửa. Đến 1g sáng, tôi bắt đầu có ảo giác, mắt tôi bắt đầu nhìn thấy những ảo ảnh chập chờn ở phía sau những cánh cửa.

Có một thoáng, khi tôi vừa nhắm mắt lại, cánh cửa ra vào bỗng bật tung ra. Tôi điếng người, cảm thấy máu trong cơ thể mình đông cứng lại. Đến 5g sáng, không còn đủ sức chịu đựng nữa, tôi bật dậy như lò xo, lao xuống cầu thang. Vừa hết cầu thang, tôi suýt ngã nhào khi trông thấy một cái bóng dài ngoằng.

Trấn tĩnh lại mới nhận ra ông lão giữ nhà. Chẳng cần phải hỏi, chỉ nhìn mặt tôi, ông hiểu ra tất cả.

Đoạn kết về ông lão giữ nhà

Thời gian trôi qua, tôi không còn thấy ngôi nhà ma ấy đáng sợ nữa. Chỉ có điều, thỉnh thoảng nó vẫn làm trong tôi trào lên một cảm xúc khó tả, một thứ cảm giác cô quạnh của hình ảnh ông lão lọm cọm bước đi trên sườn đồi trong ráng chiều hôm.

Nhiều lần, người ta nghe nói đến những dự án cải tạo lại ngôi nhà để phục vụ vào việc kinh doanh du lịch, nghe đâu còn có cả một ý tưởng lớn lao hơn. Nhưng rồi, mọi thứ cứ lãng quên dần, chẳng biết có còn ai đoái hoài tới chúng hay không.

Chỉ biết một điều hiển nhiên là ngoài ông lão thân cô thế cô đang giữ nhà, thật sự không một ai khác có đủ can đảm để coi đó là chỗ ở, hay là chỗ vui chơi của mình.

Bẵng đi một thời gian, tôi không có dịp lên Đà Lạt nên không gặp lại ông lão giữ nhà. Thế rồi nhân lễ kỷ niệm 110 năm của thành phố sương mù, tôi lên Đà Lạt liền ghé lại ngôi nhà. Tôi nhìn thấy một ông già, nhỏ tuổi hơn ông Minh một chút, đang đứng trên cầu thang ngôi nhà.

Tôi vội hỏi thăm về ông lão giữ nhà thì được trả lời: “Ông ấy chết rồi”. Tôi bàng hoàng. Tôi xin phép vào phòng khách thắp nhang cho ông Minh. Chỉ có một lư hương nhỏ đặt trên cái bàn xiêu vẹo, ngoài ra chẳng còn gì khác. Lát sau thấy tôi với ông Minh có vẻ là chỗ thân tình, ông già giữ nhà mới nói nhỏ: “Nghe nói là ông ấy uống thuốc trừ sâu”.

Tôi bật hiểu. Việc ông lão giữ nhà bị con cái hắt hủi thì tôi đã từng nghe, chỉ có điều tôi không ngờ mọi chuyện lại kết thúc như thế này.

Những đợt gió lạnh từ phía thung lũng tràn thốc vào ngôi nhà. Tôi ngẩng lên nhìn người kế nhiệm ông Minh. Ông ấy tên là Mận. Lại một ông già nữa. Nhưng ông già này còn mới quá, hay chính xác hơn là còn trẻ quá so với bề dày thời gian của cái nơi mà ông đang coi giữ.

Thậm chí, hỏi chuyện mới hay ông ta còn không biết có một cái giếng đã bị lấp đi nằm bên hông của ngôi nhà, nơi có một cô gái bị giết....

Theo Phạm Chí Dũng (SGGPO)