Thứ Ba, 16 tháng 11, 2010

Võ bùa "tái xuất giang hồ" ?


Giadinh.net - Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, làng võ Việt xôn xao bởi sự xuất hiện của một phái võ kỳ lạ, gọi là "võ bùa" hay "thần quyền". Người theo môn võ ấy không cần luyện tập quyền cước mà chỉ cần thổi hương, uống bùa, gọi thần chú là có sức mạnh muôn người khôn địch...
Bởi cách thức có phần thần bí đó mà nhiều môn phái khác đã tìm các lò dạy võ bùa để tìm hiểu thực hư, phân tài cao thấp. Sự "truy sát" ấy, cùng nhiều lý do khác nữa nên chỉ ít thời gian sau, võ bùa phải lui vào ẩn dật.
Gần đây, trước sự nở rộ trở lại của phong trào học võ, lại có lời đồn võ bùa đang "tái xuất giang hồ". Chúng tôi đã đi tìm hiểu thực hư xung quanh môn võ này.
Cao nhân ẩn tích
Sau màn ra mắt vào những năm 80 của thế kỷ trước, võ bùa bỗng dưng mất hút một cách khó hiểu trên "chốn giang hồ". Không ai biết đệ tử của võ bùa ở đâu, hiện đang sống như thế nào, còn lao tâm khổ tứ tập luyện hay không?
Gần đây, một lần lang thang trên mạng, tôi tình cờ đọc được thông tin của một môn sinh "chánh phái" nói rằng, trước đây có hai cao thủ phái Thất Sơn đem võ bùa về dạy ở Hà Nội và chính họ là những sư phụ đầu tiên của môn phái ở đất Kinh kỳ. Thông tin trên mơ hồ, chỉ nói người thứ nhất tên Thành, làng võ vẫn gọi là Thành "vuông", người thứ hai tên là Chín, giang hồ gọi là Chín "cụt".
Liên hệ với một số cao thủ võ lâm ngoài Bắc thì được biết, Thành "vuông" tên đầy đủ là Nguyễn Văn Thành, từng sống ở khu vực Ô Chợ Dừa (Hà Nội), giờ đã qua Nga lập nghiệp. Người thứ hai là Chín "cụt", tên đầy đủ là Ngô Xuân Chín, là thương binh, hiện không biết phiêu dạt phương nào.
Thông tin trên làm tôi nhớ lại lần trò chuyện với võ sư Chu Há, Chủ nhiệm võ đường Hồng Gia. Võ sư Há cho biết, thủa trước, Chín "cụt" có tham gia một số phong trào thể thao của người khuyết tật và ngay từ buổi đầu tiên ấy, Chín cùng đệ tử đã từng dùng võ bùa để giành huy chương vàng một hội khỏe năm 1986.
Nhờ manh mối này, tôi vội tìm đến ông Vũ Thế Phiệt, Tổng Thư ký Hiệp hội Thể thao người khuyết tật Việt Nam. Từ số điện thoại ông Phiệt cho, tôi đã tìm được "cao nhân" ẩn tích bấy lâu nay - ông Chín.
Phận duyên tiền định
Vợ chồng ông Xuân Chín hiện đang sống ở một khu đô thị yên ả trên đường Lạc Long Quân (Hà Nội). Trò chuyện, Xuân Chín bảo, Thất Sơn thần quyền với ông như có duyên trời định.
Thời trai trẻ, Chín là lính trinh sát đóng quân ở tỉnh biên giới Cao Bằng. Khi còn ở quê nhà, bởi hiếu động nên Chín từng theo đám trai làng lăn lộn học quyền cước của mấy võ sư vườn, cũng lận lưng dăm ba miếng phòng thân. Bởi thế, khi hay tin trong trung đoàn có một đồng đội thường diễu quyền, phóng cước sau khi xong xuôi việc nhà binh, Chín muốn tìm đến xem "mặt mũi" thế nào và nhân thể thử tài luôn để phân cao thấp.
Sau nhiều lần hò hẹn, "thằng cha" đó cũng nhận lời thách đấu. Thế nhưng sau 2 lần "tỉ thí", Chín đều thua không kịp vuốt mặt. Chín đấm, đá cật lực mà cứ như đánh vào bị bông, đối thủ chẳng hề đổi thay sắc mặt. Đánh nhiều đuối sức, chùn tay, nên đành phải xin thua.
Từ sau trận quyết đấu đó, hai người trở thành bạn. Lúc này Chín mới biết người kia theo học Thần quyền của phái Thất Sơn, từ một sư phụ ở quê nhà, xã Văn Khúc, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ. Những câu chuyện mà người bạn kể về môn phái lạ lùng đã khiến Chín mê mệt. Anh ước ao có ngày được về quê bạn bái vị sư phụ ấy làm thầy.
Và rồi cái ngày anh mong mỏi ấy cũng đến. Được sự giới thiệu, ngay đêm hôm ấy, anh đã được diện kiến kỳ nhân. Người ấy là danh sư Nguyễn Văn Lộc, một nông dân chân chất, cũng chỉ hơn anh cỡ trên chục tuổi.
Thế nhưng hôm ấy, ý nguyện, mơ ước của anh đã không thành. Dù đã cố nài nỉ hết nước hết cái nhưng vị danh sư ấy vẫn không chịu thu nạp Chín làm đệ tử. Tuy mưu sự không thành nhưng anh vẫn không thôi hi vọng của mình.
Chừng tháng sau, anh lại tay nải từ Cao Bằng tìm về Phú Thọ. Lần này, thứ mà anh nhận được vẫn chỉ là những cái lắc đầu. Thế rồi, một lần (năm 1981), lúc đi làm nhiệm vụ, anh bị thương phải cắt bỏ hoàn toàn chân phải. Khi vết thương liền da, nhớ miền quê Văn Khúc và ông thầy võ... khó tính, anh lại lóc cóc tìm về.
Đi cùng anh lần này có cả Thành "vuông", một chàng trai Hà Nội, nghe tiếng vị sư phụ kỳ lạ mà háo hức muốn được tỏ tường. Gặp mặt, vị danh sư nói thẳng thừng: "Anh lành lặn tôi còn không nhận, huống chi nay đã là người tàn phế! Anh không học võ được đâu!". Câu nói đó đã làm ruột gan Chín quặn thắt. "Đau" hơn khi bạn đồng hành với anh, Thành "vuông", lại được sư phụ thu nạp.
Uất ức, trước khi ra về anh... thề: "Sư phụ nhận tôi thì 6 tháng tôi xuống một lần! Không nhận thì tháng nào tôi cũng xuống!". Tháng sau, một mình, anh xuống thật. Lần này, thấy anh lóc cóc chống nạng vượt quãng đường hơn 15 cây số, vị danh sư đã động lòng trắc ẩn. Ông đã đồng ý truyền võ cho anh nhưng với điều kiện chờ ngày tốt, về Bắc Giang ông mới dạy.
Võ phái kỳ lạ
"Ngày tốt" ấy là ngày 9/10/1984. Đã hẹn trước, anh Chín có mặt tại nhà một người quen của sư phụ ở làng Mỹ Độ, sát thị xã Bắc Giang. Đến được ít phút thì sư phụ anh cũng xuất hiện. Ngay chiều hôm ấy, anh đã thành người của phái Thất Sơn. Cũng ngay ngày hôm ấy, anh mới tường tận về môn phái của mình.
Theo lời thầy Lộc thì "thủ phủ" của Thất Sơn thần quyền nằm ở Huế, do tông sư Nguyễn Văn Cảo nắm quyền chưởng môn. Sáng tổ Nguyễn Văn Cảo học thần quyền từ một vị cao tăng người Ấn Độ. Cao tăng lưu lạc sang Việt Nam từ khi nào thì đến giờ vẫn không ai biết rõ. Tới Việt Nam, ông chọn vùng Bảy Núi (An Giang) làm chốn tu hành. (Có lẽ bởi bậc thánh nhân tu luyện nơi non thiêng này nên thầy Cảo đã đặt tên môn phái của mình là Thất Sơn).
Dựa trên những căn bản mà vị tu sĩ lạ lùng ấy truyền dạy, thầy Cảo đã truyền dạy thần quyền cho nhiều người khác. Thần quyền học nhanh, do vậy chỉ trong thời gian ngắn, ở Huế đã có rất nhiều người trở thành môn đồ của võ phái này.
Khi nhập môn, môn đồ của môn phái phải đứng trước ban thờ thề đủ 9 điều (Càng học cao thì số lời thề càng tăng thêm và cao nhất là 16 điều). Sau đó, mỗi người sẽ được sư phụ mình phát cho hai lá bùa hộ thân, một vuông, một dài. Trên những lá bùa ấy có vẽ hình đạo sĩ ngồi thiền và những "thông số", "mật mã" riêng của môn phái.
Trước khi truyền thụ những câu thần chú, bí kíp võ công của môn phái thì hai lá bùa ấy được đem đốt, lấy tro hoà vào nước cho người mới nhập môn... uống cạn. Thần chú của môn phái thì có rất nhiều, gồm chú gồng, chú xin quyền, chú chữa thương... Đã được truyền thần chú thì môn sinh cứ tự mình gọi chú mà xin sức mạnh, mà tập quyền cước.
Tuy thế, trước khi tập, người luyện thần quyền phải được sư phụ mình khai thông tất cả các huyệt đạo trên cơ thể. Việc ấy, các sư phụ của Thất Sơn thường làm bằng cách dùng nắm nhang đang nghi ngút khói thổi vào huyệt đạo của đệ tử. Với môn sinh là nam giới thì dùng 7 nén nhang thổi 7 lần vào mỗi huyệt đạo. Môn sinh là nữ thì dùng 9 nén, thổi đúng 9 lần.

Thần chú vào... võ công ra
Anh Chín kể, hôm ấy, xong nghi thức nhập môn, sư phụ Lộc đã kéo anh ra sân và chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ, ông đã truyền thụ xong xuôi cho anh lời chú xin quyền.
Theo lời của sư phụ Lộc, lời chú ấy anh không được phép tiết lộ cho bất kỳ ai nếu chưa được phép của những người đứng đầu môn phái. Truyền chú xong, sư phụ anh bảo, cứ nhẩm theo câu chú ấy mà luyện. Chú "nhập" đến đâu thì công phu tự khắc... ra đến đó.
Thấy thầy dạy mình quá nhanh, anh hết sức ngạc nhiên. Cứ nghĩ, có lẽ bởi gượng ép khi thu nạp nên thầy Lộc mới dạy anh một cách sơ sài đến vậy. Sau này, khi trình độ bản thân được nâng cao, anh mới biết, với anh cuộc truyền thụ kỹ năng cơ bản của môn phái như vậy là quá lâu.
Thường thì khi truyền chú cho đệ tử khác, thầy Lộc chỉ làm trong thời gian vỏn vẹn 15 phút là xong. Anh cũng vậy, khi được phép dạy đệ tử, anh cũng chỉ mất ngần ấy thời gian là đã... hết bài. Còn học như thế nào, luyện như thế nào, trình độ đạt đến đâu là cơ duyên của mỗi người chứ thày không chỉ bảo được.
Ngay chiều hôm ấy, thầy Lộc đã kéo anh ra khoảng sân rộng, bắt đầu luyện tập quyền pháp. Trước khi tập, thầy lấy nắm nhang nghi ngút khói thổi vào tất cả những huyệt đạo trên cơ thể anh. Làm xong, thầy bảo anh nhẩm đọc chú để... gọi võ về. Thật ngạc nhiên, khi vừa đọc chú xong, anh bỗng thấy mình lâng lâng như người say rượu. Lúc thì thấy tay mình nhẹ bẫng, lúc thì thấy nặng như đang khuân cả khối sắt trăm cân.
Chín kể, khi đã "nhập đồng", cứ thấy nhẹ bên tay nào là "chưởng" đánh ra tay ấy. Trạng thái không kiểm soát ấy đã khiến anh lúc thì lăn lộn trên đất, lúc thì nhảy tưng tưng trên không, lao đầu vào tường, vào bụi gai cũng không hề hay biết.
Tỉ thí tranh tài
Hết nghỉ phép, Xuân Chín về nơi an dưỡng. Vì đang chờ chế độ nên anh có nhiều cơ hội để luyện tập môn võ mà mình vừa được học. Cứ đêm đến, anh lại một mình chống nạng lên quả đồi ở gần đó luyện tập. Sáu tháng sau, anh quay lại Văn Khúc để thầy Lộc kiểm tra "trình độ".
Sau bữa cơm chiều, thầy Lộc bảo ông sẽ không trực tiếp kiểm tra mà nhờ thầy "cao tay" hơn thẩm định. Vị ấy tên Cư, ở bến phà Tình Cương, cách nhà thầy Lộc chừng 25 cây số. Thần quyền ở Văn Khúc chính là do ông Cư mang từ trong Huế ra truyền dạy.
Tối hôm đó, hai thầy trò đã đèo nhau đến nhà ông Cư. Biết Chín muốn thử trình độ của mình, ông Cư đã gọi hai đệ tử to như hộ pháp đến. Trước khi đánh, ông Cư giới thiệu, hai đệ tử của ông được gọi là những “cây đấu” của Thất Sơn. Những ai muốn "khẳng định thương hiệu" của riêng mình thì đều phải đánh với hai "cây đấu" ấy.
Ngay phút khởi động, một “cây đấu” đã táng thẳng vào mặt Chín cú "thôi sơn" khiến anh nổ đom đóm mắt. Nhưng ngay sau cú đánh ấy, anh thấy mình tự dưng lùi ra, quay hẳn lưng vào đối thủ. Chẳng cần để mắt động tác khó hiểu của anh, người tấn công lại ngay lập tức lao vào. Thế nhưng, vừa vào gần đến nơi thì bỗng nhiên tay phải Chín vung ra một cú đòn cực mạnh. Một tiếng “bốp” chát chúa vang lên, “cây đấu” ấy bị đánh văng ra góc sân và nằm bất động.
Thấy đệ tử mình bị hạ nhanh một cách khó hiểu, ông Cư vội vàng chạy đến xem thực hư thế nào. Cậu học trò cưng nằm im, mồm miệng be bét máu. Phần thắng đã thuộc về Chín.
Sắp xếp công việc, ít lâu sau, anh Chín lại theo thầy Lộc vào Huế để nhờ tông sư môn phái kiểm tra trình độ thật sự của mình. Chưởng môn phái Nguyễn Văn Cảo (phường Phú Cát) đã đón hai thầy trò anh rất thân tình.
Hôm ấy, nhà thầy Cảo có một đệ tử học Thần quyền được 10 năm, từ Quảng Bình vào thăm. Thầy Cảo bảo Chín đấu với người này. Kịch bản của trận đấu ở Phú Thọ đã được lặp lại. Vào trận, ngay màn dạo đầu, Chín dính đòn tới tấp. Thế nhưng, trong lúc nguy nan, tự nhiên anh thấy chân mình mềm oặt. Xoay lưng lại đối thủ, anh quỳ xuống như người bị trúng đòn chí mạng. Đối thủ thấy vậy thừa thắng lao lên...
Nhưng, như có phép tiên, dù chỉ còn mỗi chân trái mà anh vẫn bật vút lên, lộn trên không một vòng rồi tung cú "thiết cước" vào thẳng bụng đối thủ. Cú đá ấy đã làm vị kia văng ra, thầy Cảo ngay lập tức cho dừng trận đấu. Sau trận đấu đó, bởi quá khâm phục sự tiến bộ kỳ lạ của anh, thầy Cảo đã cân nhắc để anh được thăng đai vượt cấp.
Thế nhưng, điều đó chưa từng có tiền lệ trong môn phái nên thầy đành để anh ở đai đỏ xuất sư. Người đeo đai đó thì đã có thể làm thầy, truyền thụ võ công cho những môn sinh khác. Sáu tháng sau, vào lại Huế, lần này chưởng môn Nguyễn Văn Cảo đích thân ra chợ mua chỉ về se đai tím cho anh.
Dựng nghiệp bất thành
Rời quân ngũ, anh Chín về quê sinh sống, thỉnh thoảng ra Hà Nội gặp gỡ bạn bè. Những năm ấy, phong trào chấn hưng võ thuật cổ truyền ở thủ đô đang ở cao trào, thấy Thất Sơn thần quyền của mình chưa có một tên tuổi trong làng võ Việt, anh và một số người bạn đã quyết tâm gây dựng môn phái.
Để khẳng định sức mạnh của Thần quyền, Hội khoẻ Phù Đổng năm 1986 được tổ chức ở Hà Nội, các bạn anh đã tiến cử anh tham gia. Chuẩn bị cho sự kiện này Chín đã lặn lội lên Cao Bằng, tìm cậu bé mà trước đây anh đã ngẫu hứng truyền thụ võ công, đưa về Hà Nội cùng mình biểu diễn. Cậu bé ấy tên Điệp, khi ấy vừa tròn 6 tuổi.
Tại sân vận động Hàng Đẫy, với tiết mục thần quyền của mình, hai thầy trò một tàn phế, một tóc còn để chỏm đã dinh về hai tấm huy chương vàng trước sự trầm trồ, thán phục của mọi người.
Sau màn ra mắt, được sự "chỉ đường mách lối" của cố võ sư Đỗ Hoá, anh cùng các bạn đã tìm đến một chức sắc ở Hội Võ thuật cổ truyền Hà Nội nhằm đưa môn phái "phát dương quang đại". Thế nhưng, nhiều người cho rằng Thất Sơn thần quyền là tà thuật, mê tín dị đoan nên mong ước của anh đã không thể thành hiện thực.
Dựng phái không thành, anh em tan rã mỗi người một nơi, Xuân Chín đâm nản. Tuy thế, sau này, tham gia phong trào thể thao người khuyết tật, anh vẫn đem thần quyền đi biểu diễn ở khắp nơi.
Năm 2004, tại một cuộc liên hoan võ thuật tại Hàn Quốc, anh đã được ban tổ chức trao tặng huy chương vàng cho tiết mục thần quyền độc đáo của mình. Càng hạnh phúc hơn khi ngay sau đó, hình ảnh của anh, một người cụt chân đang thăng hoa cùng quyền thuật đã được ban tổ chức in lên lịch lưu niệm tặng các vận động viên tham gia.
Cũng từ dạo ấy, bởi cuộc mưu sinh anh đã thôi không tham gia phong trào thể thao nữa. Thần quyền anh cũng ít tập hơn và cũng không truyền dạy bí kíp võ công này cho bất kỳ ai...
Lời thề của phái Thất Sơn
Một lòng hiếu thảo với cha mẹ; Không phản môn phái; Không phản thầy; Không phản bạn; Coi bạn như anh em ruột thịt; Không cưỡng bức kẻ yếu; Không làm điều gian ác; Không ham mê tửu sắc; Không nản chí khi luyện tập; Không thoái lui lúc nguy hiểm; Luôn bảo vệ kẻ yếu; Nhịn kẻ mất lòng ta; Thi hành nghiêm chỉnh những lời thầy dạy; Ôn hoà trong tình bạn; Không tự cao tự đắc; Cứu người trong lúc nguy nan...


Thanh Đào - Thiều Thúc

Thứ Hai, 15 tháng 11, 2010

Tổ ong thần bí trong thân cây và nọc độc kinh người

(VTC News) - Điều tai hại là sau khi bị ong đốt, đôi môi Thể to như hai quả chuối, nhìn phát khiếp. Đấy là mới chỉ bị một con ong đốt, chứ nếu bị vài con châm, thì không biết tính mạng Thể sẽ như thế nào.

Ngày cuối tuần, anh bạn rủ về Hải Dương đi lễ một ngôi miếu độc nhất Việt Nam, đó là ngôi miếu làm bằng… tôn. Tôi ít có thói quen đi đền miếu, song nghe kể về ngôi miếu làm bằng tôn thì thói tò mò lại nổi lên, muốn thực tế xem ra sao.

Sau một hồi lòng vòng xuyên qua mấy cánh đồng, mấy con đường đất đỏ lổn nhổn, chúng tôi tìm đến một ngọn đồi nhỏ, thấp lè tè, cây cối rậm um tùm giữa làng Bích Nham (An Đức, Chí Linh, Hải Dương).

Ngôi miếu gò bằng tôn. Ảnh: Nguyệt Diễm.

Quả thực, đây là ngôi miếu mà lần đầu tiên trong đời tôi gặp. Ngôi miếu gò bằng tôn, bé xíu, ước chừng rộng 1 mét vuông, cao 1,5m. Bên trong miếu có một tượng quan đội mũ cánh chuồn. Thanh long đao bằng gỗ dựng cao hơn cả ngôi miếu.

Ngôi miếu nằm nép dưới gốc cây đa cổ thụ. Hàng ngày, bà Tăng Thị Mức và ông Nguyễn Văn Trung đều quét dọn sân miếu một vài lần. Theo ông Trung, cây đa này có tuổi đời cả ngàn năm. Cụ của ông kể rằng, từ bé cụ đã thấy cây đa này, nó to đến mức phải gần 100 người ôm mới xuể. Những cái rễ lòng thòng xuống đất, to như gốc cây cổ thụ, tán lá trùm kín một góc đồi Nham. Hồi ông Trung 20 tuổi, đám thanh niên trong làng còn lập cả sân bóng đá và sân bóng chuyền dưới tán cây đa. Một chiếc bàn đá rộng độ 4 mét vuông nằm dưới gốc cây đa đã bị gốc và rễ cây trùm kín, nuốt gọn.

Tuy nhiên, thời chiến tranh, không hiểu vì sao, cây đa khổng lồ này cứ mục ruỗng, rồi chết dần, giờ chỉ còn lại một cái gốc nhỏ và một cái rễ to độ 2 người ôm. Dưới gốc lớn có một cái bàn đá, là nơi thờ cúng của dân làng, song gốc đa đã mọc trùm kín bàn đá, nên dân làng phải dựng ngôi miếu này.

Ông Trung là người trực tiếp được dân làng phân công xây dựng ngôi miếu, nhưng kỳ lạ thay, theo lời ông và người dân trong làng kể, hai lần xây miếu, khi sắp xong, miếu đều tự dưng đổ ập, tan tành. Các cột bê tông cũng vỡ tan như tro bụi. Điều lạ hơn là riêng cái cột ông Trung ngồi ở trên, thì không hề hấn gì. Hồi kháng chiến chống Pháp, dân làng Nham cũng đã từng dựng một ngôi miếu để có nơi thờ cúng dưới gốc đa, song cũng đã đổ ập một cách bí hiểm. Chính vì sự kỳ lạ đó, dân làng không dám xây miếu nữa, mà gò một ngôi miếu bằng tôn, rồi rước tượng về thờ.


Cây lách khổng lồ ngay trước ngôi miếu làm bằng tôn. Ảnh: Nguyệt Diễm.

Khi mọi người đang làm lễ ở ngôi miếu, thì tôi thấy một cậu thanh niên đứng chắp tay vái lạy, miệng lẩm nhẩm khấn bên một gốc cây đại thụ trước ngôi miếu nhỏ. Thấy lạ tôi liền đến xem. Bà Tăng Thị Mức bảo rằng, cậu thanh niên này đang vái lạy, tạ tội với… tổ “ong thần”. Lúc này, tôi mới để ý, và nghe thấy tiếng “u u u” cứ như có máy bay B52 từ xa vọng lại.

Hóa ra, trong thân cây lách này, có một tổ ong lạ khổng lồ. Đàn ong bay trong thân cây, tạo ra tiếng “u u” rờn rợn như thế. Do chúng là loài ong lạ, sống cạnh miếu, nên nhân dân quanh xóm gọi là “ong thần”.

Cậu thanh niên này khấn vái xong, bà Mức tạ lễ, tôi liền trèo lên rễ cây, nhòm vào cái tổ ong trên hốc cây. Ở miệng hốc cây, có vài chú ong vàng chóe, bụng to, căng tròn, đang bò lổm ngổm. Thi thoảng lại có vài con bay vù ra ngoài, rồi từ ngoài táp vào hốc cây.

Quả thực, đây là lần đầu tiên trong đời tôi trông thấy loài ong lạ này. Thân nó rất to, bằng ngón tay, màu vàng chóe, song phải nhìn thật kỹ, thật gần mới thấy chiếc cánh bé xíu, mỏng tang và trong suốt. Với cái thân nặng nề và những bộ cánh nhỏ xíu như vậy, tốc độ của cánh phải khủng khiếp lắm mới nâng được cái thân đó lên. Loài ong này có màu vàng, song không giống với loại ong vàng có thân hình mảnh khảnh, đôi cánh dài quá đuôi mà tôi thường xuyên trông thấy.

Loài ong này thân rất to, nhưng cánh cực bé, nhìn không rõ. Ảnh: Nguyệt Diễm.

Ông Trung bảo rằng, từ ngày mới sinh ra, ông đã thấy cây lách to lớn, già cỗi như thế này. Dân làng ở đây gọi là cây lách, chứ thú thực, tôi chưa từng nhìn thấy loại cây này bao giờ. Tra trong sách vở thực vật, trên mạng, cũng không thấy loài cây nào tên là cây lách cả. Người dân nơi đây cũng đồn rằng, cây lách trước miếu có tuổi đời tương đương với cây đa, cũng phải đến ngàn năm rồi. Thân cây to áng chừng 3-4 người ôm, gốc xù xì, u mấu.

Từ ngày bé, ông Trung đã biết đến sự tồn tại của tổ ong lạ trong thân cây. Không ai biết đây là loài ong gì, cũng không thấy loài ong này xuất hiện, làm tổ ở nơi khác. Hầu hết những người đến tham quan miếu, cũng đều ngạc nhiên về loài ong lạ và họ đều khẳng định chưa từng nhìn thấy loài ong này ở nơi khác. Ông Trung đã từng nhờ vả nhiều thợ bắt ong, thợ nuôi ong đến xem xét, tìm hiểu xem đây là loài ong gì, làm tổ ra sao, có túi mật hay không, song các thợ săn ong, nuôi ong có kinh nghiệm cũng đều lắc đầu, không thể biết đây là loại ong gì, thậm chí, họ còn chưa từng nhìn thấy.

Tuy nhiên, sự lạ đáng chú ý về loài ong trong thân cây lách ngay trước đền thờ bằng tôn không phải ở hình dáng đặc biệt của nó, mà ở thứ nọc độc kinh hoàng.

Sở dĩ, chàng trai Nguyễn Văn Khương mà chúng tôi gặp, đang khấn vái bên gốc cây, là bởi vì, Khương đã bị một con “ong thần” đốt cách đây 6 năm.

Khương kể: “Hồi em 19 tuổi, thấy trên cây lách có tổ chim to lắm, không rõ loài chim gì. Mấy cậu bạn sợ tổ ong không dám trèo để bắt chim, nhưng em thì không sợ, cứ liều mạng trèo lên. Em bám nhẹ nhàng vào thân cây rồi trèo lên, không để bọn ong biết. Tuy nhiên, khi lên đến ngọn cây, chưa kịp bắt chim, thì đàn ong bay túa lua từ tổ ra, bay đen đặc quanh người em. Bọn bạn ở dưới nhìn thấy thế hoảng quá bỏ chạy hết. Khi đó, tiếng ong vo vo nhức cả óc, nhưng chúng chỉ bay quanh người. Dễ đến hàng vạn con. Chúng bay quanh người em một lúc, thì một con đốt trúng đùi. Lúc ấy đau buốt óc, nhưng em vẫn cố bám chặt cành cây. Một lúc sau, đàn ong bay về tổ, chui hết vào bọng cây, em mới lò dò mò xuống lết về nhà”.



Nhớ lại lần bị ong đốt, Khương vẫn còn bàng hoàng sợ hãi. Ảnh: Nguyệt Diễm.

Theo lời Khương, ngay khi bị ong đốt, người choáng váng, khó thở, y như trúng độc nặng. Khương sốt li bì mấy ngày liền. Điều đáng sợ là cứ đến ngày trái gió trở trời, toàn thân lại đau nhức, lên cơn sốt. Tính ra, từ ngày bị ong đốt đến nay đã 6 năm, song di chứng vẫn còn rõ rệt. Quả thực, nhìn Khương không ai nghĩ cậu đã 25 tuổi, bởi cậu gầy còm, quắt queo. Khương bảo, cơ thể cứ còi cọc mãi thế này có thể là do nọc độc của ong. Từ bấy, cứ đến ngày rằm, ngày lễ, gia đình Khương lại làm lễ tạ tội với… tổ ong!

Dù sao, so với cậu bạn cùng xóm là Nguyễn Văn Thể, thì Khương vẫn còn may chán. Mặc dù Khương bị ong đốt gây di chứng nặng nề như vậy, song Thể vẫn không sợ, liều mạng trèo lên cây lách bắt chim. Đàn ong cũng nhao ra, nhưng có đúng một con đốt trúng mặt Thể. Điều tai hại là sau khi bị ong đốt, đôi môi Thể to như hai quả chuối, nhìn phát khiếp. Đấy là mới chỉ bị một con ong đốt, chứ nếu bị vài con châm, thì không biết tính mạng Thể sẽ như thế nào.

Bà Mức là người ngăn không cho du khách lại gần tổ ong và thường xuyên cầu cúng cho hai thanh niên bị ong đốt từ nhiều năm nay. Ảnh: Nguyệt Diễm.

Gia đình đã đưa đi viện, tìm gặp đủ các loại thầy lang, song đôi môi ấy chỉ xẹp đi tạm thời. Cứ đến ngày trở giời trái gió, đôi môi lại sưng tướng, thâm xì và đau nhức, cực kỳ khó chịu. Bao nhiêu năm nay gia đình đã cúng vái tại miếu tôn và tổ ong ở gốc cây lách, song chưa ăn thua gì. Đến ngày trái gió, Thể không dám đi đâu vì đôi môi rất quái dị, chỉ nằm ở nhà chịu đau đớn, hoặc nhờ bà Mức dẫn đến gốc cây lách cúng khấn. Chúng tôi được bà Mức dẫn vào nhà Thể, song rất tiếc là cậu ta đi học lái xe ở xa.
Quả thực, tổ ong ở gốc cây lách là một loài ong khá đặc biệt và nọc độc của nó quả là kinh hoàng. Bà Mức, ông Trung hy vọng một ngày nào đó, có một nhà khoa học đến tìm hiểu, giải đáp cho dân làng biết đây là loài ong gì, nọc độc của nó kinh khủng ra sao, để biết cách bảo tồn, phòng tránh.
Phạm Nguyệt Diễm

Thứ Hai, 8 tháng 11, 2010

"Thần y" đốt lưỡi bằng dao nung đỏ chữa bệnh cho dân


(VTC News) - Tôi sởn gai ốc khi thấy ông Cán thản nhiên thè lưỡi… liếm ngon lành con dao nung đỏ như đứa trẻ mút kem. Sức nóng từ lưỡi dao nung đỏ đốt lưỡi ông cháy xèo xèo.
Tiếp thu tất cả những gì đã khổ luyện, truyền nhân “ma hút” Vi Văn Cán đã chữa bệnh cho hàng nghìn trường hợp.

Không chỉ người dân ở vùng Tây Bắc đến nhờ ông Cán, nhiều người bên Lào cũng sang tận Sông Mã “rước” ông sang chữa bệnh giúp. Có chuyến ông đi chữa bệnh hàng tháng trời.

Câu chuyện bị ngắt quãng giữa chừng bởi ông Cán có khách, ông Lò Văn Cấu bên thị trấn Sông Mã, đưa con gái sang chữa bệnh.

Cô bé, trong một lần lên rừng, trúng phải khí độc, nên khi về đến nhà liền té xỉu. Suốt ngày em kêu đau đầu, choáng váng, không ăn được gì.

Tận mắt cảnh chữa bệnh, tôi không khỏi kinh ngạc. Nó như một màn ảo thuật kỳ lạ.

Ông Cán dúi con dao chẻ củi vào bếp than đỏ rực. Ông thắp ba nén hương và lầm rầm đọc thần chú bằng tiếng Xinh Mun. Vừa khấn ông vừa đốt nến và nhúng 3 chiếc lá vào một bát nước màu đen có hòa tổ tò vò.

Cho nguyên ngọn nến đang cháy vào miệng, ông quay sang thổi phù vào mặt bệnh nhân. Tiếp đó, ông đưa ngọn nến khua khua mấy vòng. Theo lời ông Cán, việc dùng nến soi không khác gì…chụp X quang ở bệnh viện.

Chỗ nào thấy “bệnh”, ông dùng ống tre ấn vào và hút bệnh ra. Mọi chất độc được thả vào chén rượu trong mâm để mọi người chứng kiến. Mấy lần hút cũng chỉ được một thứ cặn màu đen, lắng xuống đáy chén.

Tiếp đó là màn liếm dao nung đỏ. Tôi sởn gai ốc khi thấy ông Cán thản nhiên thè lưỡi… liếm ngon lành con dao nung đỏ như đứa trẻ mút kem. Sức nóng từ lưỡi dao nung đỏ đốt lưỡi ông cháy xèo xèo.

Liếm dao nung đỏ xong, ông Cán phả hơi nóng vào mặt cô bé. Ông bảo: "Đây là thuốc giảm đau với người bị vết thương kín và là cách cầm máu với những vết thương hở”.

Như có phép thuật, sau khi hút hết “khí độc” trong người, cô bé đã tươi tỉnh trở lại. Có sẵn chai rượu, ông bảo người nhà làm thêm món ăn, rồi quay sang bảo chúng tôi: “Nhà báo uống với tôi và mọi người một chén nhé, chẳng mấy khi ở Hà Nội về tận vùng Sông Mã xa xôi này”.

Bên mâm rượu, ông kể chuyện chữa bệnh cứu người của mình. Ông bảo, nếu như chúng tôi đến sớm hơn một ngày thì đã được xem cảnh hút đạn trong người. Vừa hôm qua có trường hợp tìm đến ông.

Một thanh niên người Thái tên Vi Văn Táo bị trúng đạn súng kíp ở cả chân, bụng và tay. Tuy nhiên, ca này bị thương không trầm trọng, nên hút xong họ đã về nhà. Anh này ở tận Điện Biên.

Không chỉ hút đạn, cũng bằng một chiếc ống tre, ông Cán đã giúp hàng nghìn ca bị hóc xương cá, xương gà, xương chó… Điều lạ là các vết thương không hề để lại sẹo.

Cháu Vì Văn Sáng ở bản Kéo, con của anh Sang vẫn còn nhớ như in cái lần bị hóc xương gà, suốt 2 ngày không ăn không uống được gì. Nhà không có tiền đưa con đi bệnh viện, ông bố vội đưa con tới nhờ ông Cán giúp. Sau khi xem xét, ông Cán dùng ống hút, chỉ một lát sau miếng xương được lấy ra, ở cổ chỉ hơi rớm máu.

Cách hút dị vật của ông Cán cũng rất đặc biệt. Bị hóc xương thì đặt ống tre sau gáy và hút xương ra theo phía đó. Nếu bị trúng đạn thì đạn vào đường nào hút ra theo đường ấy, không cần dao kéo, mổ xẻ, vì vậy cũng mất ít máu hơn. Đối với những trường hợp nhẹ, ông Cán hút mà không hề chảy máu.

Danh tiếng truyền nhân “ma hút” lan ra khắp vùng Tây Bắc, đến nỗi, gia đình nào có người bị dính đạn, ở cách xa vài trăm cây số cũng lặn lội đến tận nhà ông, cả bên Lào cũng sang.
Tôi hỏi chuyện xung quanh khả năng liếm lưỡi dao đang nung đỏ khác người của ông, ông cười bảo rằng, lúc đó không hề thấy nóng, nhưng nếu người khác làm vậy sẽ lập tức bỏng lưỡi.

Theo ông, khi đọc thần chú, ông như quên hết tất cả, tinh thần hòa nhập với trời đất. Mục đích liếm lưỡi dao là để hút khí nóng. Việc phả khí nóng vào bệnh nhân có tác dụng cầm máu và giảm đau cho bệnh nhân khi hút dị vật trong người.

Đang nói chuyện, bỗng giọng nói của ông trầm hẳn xuống: “Nhà báo à, tôi thì cũng sắp tới tuổi già, nhưng cho đến giờ vẫn chưa có ai kế thừa những phương pháp chữa bệnh này, tôi chỉ sợ thất truyền, không cứu giúp được mọi người nữa”.

Ông Cán bảo, nghề này không kiên trì thì không học được, mà chỉ sợ truyền nghề cho người thiếu đạo đức, họ lợi dụng để kiếm lợi thì nó sẽ mất thiêng, làm sai lệch tôn chỉ mà ông đã học được từ “ma hút”.

Đã có rất nhiều người xin theo học nhưng ông không dạy, ông bảo phải kiên quyết chờ cho đến lúc gặp được một người có đủ phẩm hạnh.

Chúng tôi chào ông ra về, ông tiễn ra đến cổng, ông tươi cười: “Nhà báo nhớ dịp nào đó lại quay về uống với tôi chén rượu nhé, biết đâu lúc đó tôi đã có truyền nhân”.

Trong cuộc sống có nhiều điều không thể giải thích được. Vùng cao của nước ta lại càng chứa đựng nhiều bí ẩn. Chứng kiến câu chuyện khó tin kể trên, tôi thiết nghĩ các ban ngành nên kiểm chứng cách chữa bệnh lạ lùng đó bằng phương pháp khoa học. Nếu khả năng “hút” bệnh của cha con ông Hối là có cơ sở, thì cũng nên tìm cách bảo tồn phương pháp chữa bệnh độc đáo này.

Minh Hải

Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010

“Đạp gió cưỡi mây” ở “nóc nhà” miền Tây

(NLĐO) – Cứ vào độ tháng 9 đến tháng 10 âm lịch hằng năm, ngọn núi Cấm ở An Giang – được mệnh danh là “nóc nhà” miền Tây - lại xuất hiện sương mù rải rác khắp triền núi. Sương mù nhiều nhất phải kể đến vồ Bò Hong với đỉnh cao 716m.
Đầu tháng 9 âm lịch năm nay, đỉnh núi Cấm xuất hiện những đợt sương mù dày đặc hiếm thấy. Không chỉ quấn quít trên cao, sương mù còn lan tỏa và bao phủ khắp các đỉnh đồi, đường sá… Phóng tầm mắt ra xa, các ngọn đồi, triền núi cứ trập trùng miên man trong sương trắng.

Đến vồ Bò Hong thời điểm này, du khách sẽ được trải nghiệm cảm giác “đạp gió cưỡi mây” vì gió luôn luôn rít mạnh, còn sương và mây bay là đà ngay dưới chân.

Nhiều du khách thích thú bảo quang cảnh “nóc nhà” miền Tây trở nên hữu tình, lãng mạn không khác gì “thành phố ngàn thông” Đà Lạt hay “thị trấn trong sương” Sapa.


Cầu Đỏ trên hồ cảnh quan Thủy Liêm bị sương mù bao phủ



Chùa Vạn Linh trên đỉnh núi Cấm lờ mờ trong sương sớm





Chùa Phật Lớn trong sương mù trông tựa như cảnh tiên bồng

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

Những hang động Thất Sơn huyền bí: Doanh trại tướng cướp Đơn Hùng Tín

Theo nhiều tài liệu và các bậc cao niên, tướng cướp Đơn Hùng Tín từng chọn núi Cấm làm doanh trại.
Đơn Hùng Tín là tướng cướp khét tiếng một thời làm đau đầu nhà cầm quyền người Pháp ở Đông Dương. Tuy nhiên, các giai thoại về ông không thống nhất.


Doanh trại của tướng cướp Đơn Hùng Tín xưa trở thành nơi cúng giải hạn, cầu cơ, xin số bất kể ngày đêm - Ảnh: T.Q - C.N

Nuôi chí... làm cướp

Có khá nhiều tài liệu ghi chép về tướng cướp Đơn Hùng Tín nhưng có nhiều điểm khác biệt nhau. Trong đó, nhà văn Sơn Nam ghi chép khá chi tiết. Đơn Hùng Tín tên thật là Lê Văn Tín, quê ở Cao Lãnh (nay là TP Cao Lãnh, Đồng Tháp). Xưa kia, ông chưa lấy tên là Đơn Hùng Tín mà chỉ là kẻ vô danh. Song, chàng thanh niên này lại mê đọc truyện Tống, truyện Đường và rất mê nhân vật Đơn Hùng Tín - một người can trung, tận nghĩa. Vậy là anh âm thầm nuôi chí lớn và chờ đợi thời cơ đến.

Tín biết rõ xứ núi Tà Lơn (Campuchia) là nơi xuất thế với các bậc siêu phàm, mình đầy võ nghệ, bùa chú nên cất công tìm tới. Sau nhiều ngày rảo khắp các hang động cheo leo, Tín gặp một người thanh niên. Qua trao đổi, Tín biết người này tên là Phép, từng là thầy giáo nên gọi là giáo Phép, quê ở miệt Châu Đốc. Không biết hà cớ gì hay muốn làm giàu, kiếm vàng muôn bạc nén mà giáo Phép tìm đến núi Tà Lơn để tìm "chúa" hiến mưu. Khi gặp Tín, người có dáng trượng phu, thân hình vạm vỡ "vai năm tấc rộng, thân mười thước cao", giáo Phép quyết theo phò.

Từ đó giáo Phép làm quân sư, giúp Tín đi tập hợp tiều phu, dân nghèo quanh núi để làm thuộc hạ. Sau lần Tín và Phép lừa được cả đám lâu la bằng chiêu "súng bắn không chết" mà Tín còn cắn được cả đầu đạn khiến đám người tin tưởng xin quy phục làm thuộc hạ. Từ đó, ông chính thức xưng là Đơn Hùng Tín, chuyên đi cướp của khắp vùng Bảy Núi, Tiền Giang, Hậu Giang…

Có người nói rằng Đơn Hùng Tín là một tướng cướp hành hiệp trượng nghĩa, cướp của Tây, cường hào ác bá phân phát cho người nghèo. Nhưng cũng có người cho rằng Đơn Hùng Tín là tên cướp bất nhân, cướp cả đồ đạc, tượng Phật của các chùa chiền.

“Xin” bào thai vợ luyện... bùa

Buổi ban đầu Đơn Hùng Tín chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt và chưa có nhiều võ nghệ hay bùa chú gì. Song, sau khi đã trở thành đại vương của những tay "lương sơn bạc", để tồn tại và đám lâu la kính nể, Đơn Hùng Tín đã dày công khổ luyện võ nghệ. Quân sư giáo Phép vốn là một kẻ nhát gan nhưng lại lắm mưu nhiều kế. Sau nhiều năm giáo Phép lên núi Tà Lơn, y biết rằng nhiều lão tiên sinh đang tu tiên tại đây có cất giữ một cuốn bí kíp võ công gọi là "Thiên thư bí quyết" nên đã bày kế cho Đơn Hùng Tín học loại võ công này. Theo lời thuật của giáo Phép, có một ông lão tại núi Tà Lơn học được phép mầu trong quyển "Thiên thư bí quyết". Ông này nuôi một con khỉ, mỗi ngày cho nó nuốt một lá bùa nhưng đến ngày thứ 7 thì khỉ lăn ra chết. Đem xác khỉ cất vào cái hộp, đúng trăm ngày giở ra, khỉ mở mắt, ông liền cho uống lá bùa thứ 8 thì khỉ sống lại, lanh lẹ và nhất nhất tuân lời ông. Mỗi ngày con khỉ chạy xuống chân núi trộm lấy 2 đồng xu về cống nạp cho ông lão.

Sau đó, Đơn Hùng Tín theo cách đó mà luyện tập và đã tám phần thông thạo. Theo nhiều tài liệu ghi lại, nhà chức trách Pháp lúc bấy giờ không thể lần ra dấu vết của ông sau mỗi vụ cướp vì ông biến hóa đại tài, lúc ẩn lúc hiện. Về sau, ông đã có vợ thì sơn trại được dời lên núi Cấm thuộc huyện Bảy Núi lúc bấy giờ. Về đây, Đơn Hùng Tín tiếp tục luyện tập bùa phép. Tương truyền, ông đã xin bào thai của vợ để luyện bùa, được vợ đồng ý nên liền mổ bụng vợ lấy thai nhi. Hằng đêm, Đơn Hùng Tín đem bào thai ra giữa trời để tu luyện cho đến khi nó khô lại thì được ông mang theo người như vật bất ly thân (giống như tương truyền về ma cóc ở Tây Nguyên). Từ đó, Đơn Hùng Tín càng ngang dọc, ẩn hiện, biến hóa mà không sợ bị bắt. Lúc bấy giờ, người Pháp treo thưởng cho người tìm ra tung tích của ông với giá rất cao. Song, cũng do ỷ lại tài cao khiến ông mất cảnh giác, bị một tên thuộc hạ phản trắc, báo tin cho người Pháp trong một lần được cho đi chợ ở Mỹ Tho. Mọi nẻo đường tiến thoái, kế hoạch của Đơn Hùng Tín đều bị lộ khiến chính quyền Mỹ Tho siết chặt vòng vây và pháo kích, hạ sát ông vào năm 1926.

Đi tìm dấu vết

Ông Đinh Phi Vân, nguyên là cán bộ Công an xã An Hảo, huyện Tịnh Biên (An Giang), người sống trên ngọn núi cao nhất miền Tây này cho biết qua các tài liệu ông đọc được thì chính khu vực hang ông Thẻ là đại bản doanh của Đơn Hùng Tín. Sở dĩ ông Vân quả quyết địa điểm này là doanh trại của tướng cướp lừng danh vì thỉnh thoảng có người vẫn nhặt được những cổ vật từ trong hang núi và quanh khu vực này. Ông Vân nói theo nhiều tài liệu thì tảng đá lớn ngay trước cửa hang ông Thẻ trông như bàn thạch là nơi xưa kia Đơn Hùng Tín mổ bụng vợ lấy bào thai.

Nói đoạn, ông Vân ôm lấy thân cây rừng rồi theo rễ cây tuột xuống một vách đá dựng. Chúng tôi cũng thử một phen làm "Tarzan" đu theo rễ cây rừng và dây leo thám hiểm quanh khu vực. Rõ là bên dưới bờ vực sâu này có rất nhiều vách đá dựng cheo leo và "lò ảng" (hang đá tự nhiên do hai phiến đá tựa vào nhau tạo khoảng trống bên dưới - PV) rộng lớn. Đi đến mỗi "lò ảng" ông Vân đều dừng lại, cùng chúng tôi len lỏi vào trong hang để thị sát. "Hang ông Thẻ xưa kia là nơi cất giấu lương thực, của cải mà bọn "khăn trắng" cướp được, về sau gọi là hang ông Thẻ. Còn bọn cướp thì ăn ngủ, trú ngụ theo các vách đá, lò ảng. Điều này nghe cũng hợp lý vì lợi dụng địa hình hiểm trở để dễ dàng ẩn nấp, tránh sự kiểm tra của nhà chức trách lúc bấy giờ", ông Vân phân tích.

Suốt nửa ngày đánh đu, chuyền từ cây này sang bờ vực khác quanh các vách đá dựng như "người rừng", chúng tôi tìm thấy rất nhiều hang đá theo các tài liệu mô tả về nơi ẩn náu của thủ lĩnh và bộ hạ tướng cướp Đơn Hùng Tín. Song dấu vết thì hầu như không để lại gì. Dù vậy, lão đạo sĩ Ba Lưới cũng khẳng định nơi đây tướng cướp khét tiếng Đơn Hùng Tín hùng cứ một thời.

Thanh Quốc - Chí Nhân

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2010

Những hang động huyền bí ở Thất Sơn: Hang Mãng xà

Rất nhiều người dân sinh sống trên núi Cấm khẳng định họ đã từng chạm trán mãng xà và may mắn trở về từ cõi chết.

Thiên Cấm sơn (núi Cấm) ở xã An Hảo, H.Tịnh Biên, An Giang, có đỉnh cao đến 716m, cao nhất vùng Thất Sơn và cũng là nơi chứa đựng nhiều điều huyền bí.

Ba đời "diện kiến" mãng xà

Theo lời của nhiều người dân trên núi Cấm, hiện nay rắn lớn cỡ bắp đùi còn khá nhiều. Ông Trần Huy Dũng, tổ trưởng tổ 1, ấp Vồ Đầu trên đỉnh núi Cấm nói rằng, đến tận bây giờ vẫn còn bị ám ảnh bởi suýt làm mồi cho rắn khổng lồ. Chuyện xảy ra đã hơn 10 năm. Bữa đó, khi ông Dũng đang từ trên triền xuống chân núi thì nhìn thấy con chim chìa vôi và con sóc đang nhảy tung tăng như đùa giỡn với nhau trên mặt đất. "Cảnh này thiệt lạ. Một con trên trời, một con dưới đất sao lại giỡn với nhau? Định thần lại, tôi rùng mình khi thấy cái đầu rắn to đùng đang hướng về phía 2 con vật. Lúc đó tôi mới biết là chúng đã bị nọc độc rắn làm mù mắt và sẽ trở thành mồi cho con rắn. Tôi sựng lại khi chỉ cách con rắn chừng 5m và "chết đứng" một hồi lâu. May mắn là con mãng xà đang đặt tầm ngắm vào 2 con mồi kia nên không phát hiện ra tôi, nếu không...". Theo ông Dũng, đó là con rắn hổ mây to bằng cái khạp năm cân (còn gọi là hũ đường), nhưng không thể phát hiện nó từ xa vì hổ mây có bộ da mốc thít, rất giống với da cây cổ thụ trong rừng.

Bà Mai Thị Nguyệt, hàng xóm ông Dũng, nói bà là đời thứ 3 trong gia tộc đã từng được "diện kiến" rắn khổng lồ trên núi Cấm. Bà kể: gần 20 năm trước, nhà bà ở khu vực Cao Đài tự gần suối Thanh Long, đường đi bộ lên núi Cấm. Khi cùng chồng đi hái cây thuốc, đến khu vực suối Sư Bình (phía trên suối Thanh Long), bà ngửi thấy mùi hôi tanh. Lần theo hướng phát ra mùi hôi, thì đến một hang đá lớn. Khi chỉ còn cách hang chưa đầy 4m, bà "chết đứng" khi nhìn thấy một con rắn khổng lồ đang khoanh mình. "Trong tư thế nằm khoanh, đầu gác lên khoanh mình cuối cùng, vậy mà con rắn cao hơn đầu tôi cả nửa thước, thật khủng khiếp. Lúc đó tôi đứng chết trân không dám động đậy và nghĩ phen này mình chết chắc. Nhưng có điều lạ là con rắn cũng nằm im. Sau một lúc trấn tĩnh, tôi lạy con rắn: "Nếu ông ở đây tu thì nằm im cho con đi ra. Con vô tình lạc vào đây chứ không có ý quấy phá". Thấy "ổng" không động tịnh gì, tôi bước thụt lùi ra khỏi hang rồi chạy một mạch về nhà", bà Nguyệt kể tiếp.

Ngay sau khi về đến nhà, bà Nguyệt thuật lại câu chuyện gặp rắn khổng lồ cho mẹ là bà Nguyễn Thị Khoe nghe. Bà Khoe nghe xong bảo rằng chính bà và người cha (ông ngoại bà Nguyệt) cũng từng chạm mặt con rắn lớn đó ngay tại nơi bà Nguyệt đã gặp. "Má tôi kể dù đã cùng ông ngoại trèo lên đọt cây để tránh nhưng khi nhìn lại thì đầu con rắn đã ngẩng lên sát đít. Sau ông ngoại tôi vì quá kinh hãi đã phát bệnh mà chết", bà Nguyệt nói.

Hang rắn khổng lồ


Nghe câu chuyện của bà Nguyệt, ông Dũng khẳng định em trai ông cũng từng chạm trán một con rắn rất lớn gần khu vực suối Thanh Long cách đây gần chục năm. "Buổi chiều đi học về đến khu vực phía trên suối Thanh Long, em tôi và mấy đứa học trò nghịch đá ném đàn khỉ bên kia bờ suối. Bầy khỉ bỏ chạy thì bất ngờ xuất hiện một con rắn khổng lồ giương cao đầu rượt đuổi mấy đứa học trò. May mà tụi nhỏ chạy thoát", ông Dũng cho biết. Ông Dũng còn chỉ cho chúng tôi cái hang rắn khổng lồ dưới gốc cây da, chỉ cách nhà ông độ hơn 10 công đất. Ông quả quyết đã rất nhiều lần nhìn thấy con rắn bò vô, bò ra cái hang này. "Năm 1997, có một đoàn người của trại rắn Đồng Tâm mang theo súng ống, đồ nghề, thuốc mê lên đây gặp tôi nhờ dẫn đường tới hang rắn. Nhưng tôi ngăn cản quyết liệt vì nó quá lớn, mấy cái dụng cụ đó chẳng nhằm nhò gì, nguy hiểm lắm", ông Dũng nói.

Chúng tôi được một thanh niên tên Sang dẫn vào hang rắn cây da, nơi ông Dũng chỉ. Sang cho biết anh là người trông coi đất cho một thầy tu tại đây và đã 2 lần nhìn thấy con rắn ra vào hang cây da. Sang bảo lần anh nhìn thấy sau cùng cách đây chưa đầy một năm và khẳng định con rắn vẫn ở hang này. Chỉ cho chúng tôi gốc cây to độ nửa vòng tay ôm, Sang nói: "Nó to cỡ đó". Mặc dù rất hoang mang nhưng chúng tôi vẫn bạo gan bám theo Sang vào hang rắn. Lúc sau, Sang bất ngờ dừng lại, nói: "Tới hang nó rồi nè!". Tôi tái mặt nhưng cố làm tỉnh để tự trấn an. Bất chợt nhìn lại thấy mình đang đứng trên một vồ đá cheo leo, trước mặt là một cái hang đá to tướng với mùi hôi tanh xộc lên mũi. Cố thò đầu vào miệng hang quan sát, chúng tôi thấy ngổn ngang những đống màu đen như phân rắn, vô cùng hôi tanh. Sang quả quyết chính cái mùi hôi đặc quánh này mà người chủ đất trước đây đã bán lại mảnh rừng này với giá rẻ bèo.

Còn tại điện U Minh trên đỉnh núi Két (thị trấn Nhà Bàn, H.Tịnh Biên), ông Nguyễn Văn Sơn, chủ núi, khẳng định trong hang núi này từng có một cặp rắn khổng lồ sinh sống. Chúng tôi theo ông Sơn vào thám hiểm hang sâu giữa ban ngày nhưng cứ nghe sống lưng lành lạnh. Chỉ cặp tượng rắn bằng xi măng to tướng đang phồng mang, thè lưỡi đầy uy lực, ông Sơn nói cặp rắn thật còn lớn hơn gấp nhiều lần. Cái hang núi càng trở nên thâm u, huyền bí vì lối đi sâu bên trong không có ánh sáng và cũng không ai dám đi đến tận cùng hang. "Để khắc chế "mấy ổng", tôi tạc tượng một cặp rắn to trấn ải miệng hang. Đêm đêm khi ra đến đây gặp cặp rắn giả, "mấy ổng" bị... dội, rút trở vào hang sâu không quấy phá con người", ông Sơn nói.

Ba Lưới giết rắn

Ông Ba Lưới tên thật là Nguyễn Văn Y (98 tuổi, quê ở xã Mỹ Hiệp, H.Chợ Mới, An Giang) lên núi ẩn tu từ năm 1935, khi mới 23 tuổi. Cuộc sống trên núi lúc bấy giờ vô cùng khó khăn, hiểm nguy rình rập. Mỗi khi đi làm rẫy hay ra khỏi nhà, ai cũng phải cầm theo cây săn mây (làm từ cây mây rừng, dài gần 2m một đầu tròn nhọn, đầu kia dẹp mỏng bén như lưỡi dao) và chiếc búa lận lưng để phòng thân. Một lần đang băng qua rừng, ông Ba Lưới chạm trán con rắn hổ mây dài độ 10m, nặng hơn 90 kg. Nghe tiếng động, con hổ mây quay lại xòe cặp mang rộng cỡ 1,5m, đầu ngẩng cao, khè khè như muốn nuốt chửng ông. Không nao núng, Ba Lưới bước lùi thủ thế. Con rắn vừa lao đến tấn công đã nhận ngay nhát chém rụng đầu.

Lần thứ hai, khi ông đang đi cặp đường ô lên dốc núi. Một con rắn hổ mây nặng chừng 40 kg trườn mình thoăn thoắt xuống, ông không kịp tránh đường. "Sẵn cây săn mây đang làm gậy chống đường tao vung chém ngay đầu con rắn. Nhát chém làm con mãng xà bị thương, máu văng xối xả. Chưa kịp ngẩng đầu chống trả, ác thú nhận tiếp một đòn chí mạng, đứt lìa đầu, chết lăn xuống đường ô. Tao đem cả đầu và xác rắn chôn bên vách đá", ông kể.

Thanh Quốc - Chí Nhân

Những hang động huyền bí ở Thất Sơn: Đi tìm hang hổ


Hang Bạch Hổ ở Vồ Thiên Tuế
Núi Cấm xưa kia có rất nhiều hổ với những truyền thuyết ly kỳ. Đến bây giờ nhiều người dân đi rừng vẫn còn nhìn thấy dấu chân chúa sơn lâm.
Từ những truyền thuyết, giai thoại về hổ trên vùng Bảy Núi, chúng tôi trở lại Thiên Cấm sơn để tìm hiểu. Hiện trên ngọn núi này có đến gần 10 hang hổ và theo người dân, trong số đó có nơi vẫn còn ông “ba mươi” trú ngụ.

Trận chiến ly kỳ

Tương truyền xưa kia, các võ sĩ ở miệt Thất Sơn thường đấu hổ, song lão đạo sĩ cuối cùng trên đỉnh Thiên Cấm sơn - Ba Lưới bảo đó chỉ là lời đồn thổi. Bởi theo ông, xưa kia hổ trên núi nhiều vô số kể nhưng đều là hổ tu không làm hại mà còn bảo vệ con người. Trong đó có hai con hắc hổ (hổ đen) và một con bạch hổ - chúa sơn lâm trên núi Cấm.

Rít điếu thuốc đỏ lừ, từ từ nhả khói, đạo sĩ già 97 tuổi, kể: Hồi đó ông lên núi tu chưa được bao lâu, độ khoảng năm 1940 thì phải. Ở phía đông nam có ngọn núi cao tên là núi Bà Đội Ôm (trên đỉnh núi có cục đá to như đầu người phụ nữ đội cà ôm). Hồi đó, trên núi này có rất nhiều ác thú. Người dân quanh vùng thường bị chúng phá phách, giết hại. Nhất là con hạm tinh (giống như hổ, nhưng chuyên ăn thịt người, xác chết, thịt thối) được coi là chúa tể của núi này.

Một ngày kia, hạm tinh băng rừng tìm theo đường mòn lên núi Cấm. Vừa tới cửa núi ở vồ Thiên Tuế đã bị hai con hổ đen chặn đánh. Lúc này trời bỗng nổi trận cuồng phong, các loài thú nhỏ thì tháo chạy, chim trời bay tứ tán. Biết có chuyện, những cư sĩ trên núi lúc bấy giờ trèo lên các ngọn cây cao xem thử. “Tình cờ tao và mọi người chứng kiến trận ác chiến đang diễn ra trên vồ đá to ngay cửa núi. Hai hổ đen xông vào nghênh chiến, xung quanh cả trăm hổ vằn ngồi lặng yên theo dõi. Sau nhiều giờ giao đấu không phân thắng bại, bỗng từ xa có tiếng gầm rú vang vọng cả núi rừng. Hai hổ đen dạt ra xa, bạch hổ bất ngờ xuất hiện, lao vào tấn công hạm. Chưa đầy nửa hiệp, chúa sơn lâm đã móc họng, giết chết hạm tinh và đẩy xác xuống vực sâu bên vồ Thiên Tuế. Núi Cấm trở nên yên ổn từ khi đó”, ông Ba Lưới kể.

Nghe mùi “khét”, chó chạy cong đuôi

Ông Đinh Phi Vân, nhà ở vồ Mồ Côi, núi Cấm cho biết mãi đến năm 2004 rừng núi Cấm vẫn còn thấy bóng dáng hổ. “Thỉnh thoảng đi rừng tôi vẫn bắt gặp dấu chân của “ông ba mươi” in rõ trên nền đất cứt trùng. Rừng trong khu vực của tôi còn rất hoang sơ nên có thể còn có cọp. Chó xóm tôi thường bỏ chạy cong đuôi khi ngửi được mùi “khét” đặc trưng của mấy “ổng” ”, ông Vân quả quyết.

Trên núi Cấm hiện nay có đến gần 10 hang được cho là hang hổ trước đây. Hang hổ cao nhất là trên đỉnh vồ Bò Hong, nằm bên vách núi cheo leo. Chúng tôi tìm đến hang hổ này nhưng nơi đây đã bị rào chắn lại không cho bất cứ ai vào thám hiểm. Trước đây do hiếu kỳ nhiều người đã tìm đến miệng hang nhưng vách đá cheo leo khiến có người tử nạn nên nơi đây đã trở thành khu vực cấm. Ông Đinh Thành Tươi, 78 tuổi, nhà ở động Thủy Liêm, núi Cấm, cho biết trước đây hang động này do ông Mười Thành (Trương Minh Thành, đã mất), nguyên chủ trì Phi Lai Cổ tự ở xã Núi Voi, huyện Tịnh Biên, đến ẩn tu. Sau khi ông Mười Thành bỏ hang động thì cọp đến ở. Từ đó người ta gọi là hang ông hổ hay điện ông hổ đến bây giờ.

Song, hiểm trở và kỳ bí nhất là hang hổ ở vồ Đá Dựng. Nằm bên vách đá dựng đứng, chúng tôi hết sức khó khăn, vất vả mới vào được trong hang. Hang đá không sâu lắm, chỉ độ chừng 7m, các gờ thành, miệng hang đá bóng loáng và trơn lùi như có vật gì đó cọ xát hằng ngày. Ngay trong hang và quanh quẩn khu vực hang này chúng tôi ngửi thấy có cái mùi “khen khét”. Quan sát xung quanh không thấy có ai đốt lá cây rừng hay đóng tàn un nào cháy dở nhưng mùi khét vẫn cứ luẩn quẩn đâu đó. Nhiều người bảo ở hang đá dựng này “ông ba mươi” vẫn còn trú ngụ nhưng thường lánh mặt con người vào ban ngày, chỉ đêm tìm về ngủ.

Theo nhiều người cho biết, ở vồ Thiên Tuế còn có đến 3 hang hổ, trong đó một hang nằm dưới bờ vực sâu là hang bạch hổ, một hang ở ngay nhà lão đạo sĩ Ba Lưới và hang còn lại ở điện Bát Tiên. Khu vườn phía sau nhà lão đạo sĩ Ba Lưới còn y vẻ nguyên sơ với rất nhiều hang đá trông vô cùng kỳ bí. Chỉ cho chúng tôi cái hang hổ ngay dưới gốc một cây cổ thụ, ông Ba Lưới nói nơi đây xưa kia có rất đông cọp beo tụ họp. Còn hang hổ ở điện Bát Tiên chỉ sâu khoảng 3m. Chúng tôi phải đưa chân vào miệng hang rồi từ từ tuột xuống. Song, bên trong bụng hang rộng đến cỡ 2m, cao vừa vặn đầu người ngồi. Nếu nhìn từ bên trong hang ra ngoài, trần hang có dốc nghiêng giống như một mái nhà.

Phía đông bắc vồ Thiên Tuế có rất nhiều phiến đá dựng cheo leo. Từ đỉnh vách đá này đến triền dốc nơi có hang bạch hổ cao đến hàng chục mét. Vậy mà, theo các bậc cao niên trên núi Cấm nói rằng nơi đó là đại bản doanh của chúa sơn lâm ngày trước. Mỗi cú nhảy của chúa sơn lâm đã lên đến đỉnh dốc đá dễ dàng. Ngày nay, do có nhiều khách hành hương đến tham quan, cúng viếng hang bạch hổ nên đã được xây dựng các bậc thang dẫn từ đầu dốc cao xuống miệng hang. Chúng tôi chui vào tận hang sâu tăm tối trong cảm giác lo sợ lẫn tò mò. Để khám phá bên trong, mỗi người chúng tôi phải cầm theo một cây nến. Ngay trước miệng hang có tượng của bạch hổ bệ vệ ngồi trấn ải. Miệng hang nhẵn bóng, vừa vặn cho một người chui lọt. Hang sâu độ hơn 6m, hai bên thành đá cũng nhẵn bóng. Bên trong hang khá rộng, càng vào sâu càng lớn ra và dù tối om nhưng không ngột ngạt. Cuối đáy hang là một “gian phòng” rộng có phiến đá dài. “Đó là giường ngủ của bạch hổ”, người dẫn đường cho biết.

Thanh Quốc - Chí Nhân

Những hang động Thất Sơn huyền bí: Điện Mười Ba, hang Công Đức




Mỗi người khi qua được cửa “mẹ đẻ” đều gõ vào chuông đá ở tầng điện thứ 13

Điện Mười Ba còn được gọi là điện Mẹ và hang Công Đức ở núi Cấm là hai hang động được nhiều khách hành hương, du lịch tìm đến.
Điện Mười Ba nằm chếch về hướng đông bắc của núi Cấm. Vì có tất cả 13 tầng, mỗi tầng đều có cửa thông suốt với nhau và một nơi để cho du khách có thể thắp hương cầu nguyện khi đi qua nên hang động này gọi là điện Mười Ba.

Vào cửa “mẹ đẻ”

Từ đỉnh núi, nơi đánh dấu khu vực điện, để đi xuống được đến cửa vào hang phải băng qua những bậc thang thẳng đứng, gập ghềnh và nhiều mỏm đá cao, cheo leo. Nhìn từ bên ngoài, điện Mười Ba trông bình thường như bao hang đá khác, nhưng khi đặt chân vào bên trong mới biết được sự huyền bí và cảm nhận được điều kỳ diệu của các tầng điện. Mặc dù chỉ có một lối đi lớn thông suốt trong 13 tầng điện, thế nhưng nếu không có người dân địa phương dẫn đường, khách lạ rất dễ bị lạc trong mê cung đá mà không cách nào tìm được lối ra. Vì thế, không phải bất cứ ai cũng có đủ can đảm chinh phục hang động huyền bí này.

Chúng tôi lần theo vách đá xuống cửa hang với những cây nến cháy sáng trên tay. Vừa bước vào cửa hang thì cả không gian tối om bao phủ, không còn nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Đi được một đoạn, đến quãng trống khá rộng rãi trong hang, nơi có đặt chiếc lư hương còn nghi ngút khói, Hưng, người dẫn đường nói đã chinh phục được cửa đầu tiên. “Phía sau chiếc lư hương là cửa thông qua tầng điện thứ 2 và càng về sau cửa sẽ càng nhỏ hẹp lại. Đặc biệt ở cửa thứ 12 qua cửa 13 rất nhỏ hẹp, nhìn thấy ai cũng sợ mình chui qua không lọt. Tuy nhiên, phải biết cách, thò đầu qua trước rồi luồn lách thân mình thì dù người mập hay ốm đều qua cửa dễ dàng”, Hưng quả quyết.

Cũng theo lời Hưng thì qua được cửa này là đã chinh phục được cửa... “mẹ đẻ”, coi như kết thúc hành trình. Đặc biệt hơn, trước cửa ra của tầng điện thứ 13 có một mỏm đá được gọi là “chuông đá”. Mỗi người khi qua được cửa “mẹ đẻ” đều nhặt lấy một cục đá trong hang gõ vào chuông đá. Kỳ lạ thay, phiến đá phát ra những âm vang rất thanh nhã và trầm ấm như tiếng chuông khiến lòng người thanh thản.

“Đo” công đức

Khách hành hương lên núi Cấm thường truyền tai nhau rằng sau khi đi khắp năm non, cúng viếng tất cả chùa chiền thì phải ghé lại hang Công Đức. Sở dĩ tên gọi của hang như thế vì có giai thoại rằng dưới hang kia là một cán cân bằng đá, có khả năng đo được công đức của con người.


Trong lòng điện Mười Ba

Ngày nay, hang Công Đức chỉ là một hang nhỏ nằm trong điện Ông Thẻ, trong quần thể hang Bác Vật Lang. Một ông lão làm trong một Hội Chữ thập đỏ chuyên đi rừng hái thuốc, kể với chúng tôi ông đã từng chứng kiến điều kỳ diệu ở hang Công Đức. Theo lời kể của ông lão này, một người phụ nữ cao lớn bước xuống hang thì cả người đều bị khuất sâu dưới hang, chỉ ló từ cằm đến đầu, nghĩa là có nhiều công đức. Rồi một bé gái bước xuống hang thình lình chiếc cân đẩy cả người em lên cao khỏi miệng hang, là vì còn nhỏ nên chưa có bao nhiêu công đức. Nhiều người khẳng định hang này là thước đo công đức của con người. Từ những câu chuyện truyền miệng như thế, hang Công Đức lại được rất nhiều người vô tình hay cố ý đồn thổi, thêu dệt bao điều huyền hoặc.
Để khám phá thực hư hang Công Đức, chúng tôi đã chui vào điện Ông Thẻ với lối đi vô cùng chật hẹp. Người đi phải lách, bò, trườn qua những kẽ đá, thạch nhũ vừa vặn thân mình. Điện Ông Thẻ là một hang đá tự nhiên. Đến nơi đặt chiếc lư hương để viếng Ông Thẻ nhìn sang bên trái có một khoảng rộng nhưng tối om, nơi đó là hang Công Đức. Hang này nhỏ và cạn, chỉ là một hang suôn đứng, vừa vặn một thân hình người. Bên cạnh đó, có một khoảng trống vừa chỗ cho một người ngồi đợi đến lượt xuống hang.

Anh Kiếm, một thổ địa ở Thiên Cấm sơn, rành rẽ mọi ngõ ngách hang động trên ngọn núi này và là người dẫn đường cho chúng tôi. Anh Kiếm cho rằng hang này chẳng có gì huyền bí mà chủ yếu do sự tín ngưỡng, niềm tin của mỗi người rồi về truyền miệng nhau mà thôi. Khi chúng tôi bước chân xuống, ánh sáng duy nhất là cây nến nhỏ le lói chỉ soi thấy mặt người ở cự ly gần. Miệng hang chật hẹp, thân hình gầy nhom nhưng để chân xuống đụng đáy hang cũng không phải dễ dàng. Khi chân chạm gờ đất dưới cùng trong hang thì miệng hang tới ngang vai.

“Độ sâu của hang là cố định nhưng những người mê tín dị đoan vào đây đo công đức thì cho ra nhiều kết quả khác nhau. Muốn người khác nghĩ mình công đức nhiều thì người trong hang khuỵu chân xuống để miệng hang đến gần mũi, gần đầu. Họ chỉ tự gạt mình chứ hang đá làm gì có thước nào mà đo công đức”, anh Kiếm nói.

Thanh Quốc - Chí Nhân

Thứ Tư, 29 tháng 9, 2010

Những kẻ hoang tưởng tri thức

(Tin tuc 24h) - Phần lớn những người có ý đồ khuếch trương “khả năng xuất chúng” là để trục lợi… Tuy nhiên, cũng có không ít những người có trình độ hẳn hoi, song lại rơi vào tình trạng hoang tưởng rất hài hước.

Tuyên bố dùng năng lượng cơ thể đẩy đuổi nhưng cơn mưa khỏi Hà Nội của ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh được coi là quá hoang đường. Tuy nhiên, so với một số “siêu nhân” khác, thì tuyên bố của ông Tuấn Anh còn khiêm tốn chán. Có “siêu nhân” ở nước ta còn tuyên bố đẩy được bão cấp 15, 16 ra khỏi biển Đông. Siêu đẳng hơn nữa là “siêu nhân” dùng năng lượng cơ thể lọc nước Hồ Tây. Vĩ đại hơn cả là siêu nhân xuất hồn lên… sao Hỏa!

Dùng năng lượng công phá bão

Cách đây 3 năm, đúng vào ngày mà các phương tiện truyền thông liên tục đưa tin về siêu bão ở Thái Bình Dương sắp tràn qua Philippines vào Việt Nam, thì ông Vũ Thế Khanh mời tôi đến hiệp hội UIA ở số 1, phố Đông Tác (Kim Liên) để tham dự một cuộc khảo nghiệm rất… đặc biệt. Nhân vật trong cuộc khảo nghiệm đó là ông Đinh Văn nghị, 60 tuổi, quê ở thị trấn Xuân Mai (Hà Nội). Đó là người đàn ông có dáng dấp đạo mạo, trán cao, tóc bạc. Ông Nghị từng là một cán bộ đã về hưu. Có tri thức hẳn hoi. Ông từng tham gia một lớp học cảm xạ và có tham gia một số việc liên quan đến phong thủy, chữa bệnh.

Trước mắt đông đảo các nhà khoa học, ông Nghị tuyên bố, ông đã ứng dụng sức mạnh của mình vào việc đẩy đuổi các cơn bão ra khỏi biển Đông, tránh cho nước ta không biết bao nhiêu là thiệt hại, có thể tính bằng cả tỉ đô la. Ông Nghị đưa ra các bằng chứng cụ thể từng năm: Chẳng hạn như năm X, có 14 cơn bão tràn qua Philippines vào biển đông, nhưng ông đẩy được 13 cơn bão. Năm Y có 12 cơn bão, thì ông đuổi được 11 cơn, và năm Z có 9 cơn bão thì ông đấy được 7 cơn bão… Ông Nghị yêu cầu các nhà khoa học cho làm cuộc khảo nghiệm ngay với cơn bão đang chuẩn bị vào biển Đông nước ta.

Sau khi ông Nghị rời khỏi bục phát biểu, ông Vũ Thế Khanh phát biểu: “Nếu một người khoe đã tốt nghiệp đại học, thì ít nhất ông ta phải thuộc bảng cửu chương, còn nếu ông ta không thuộc bảng cửu chương thì đừng nên khoe đã bảo vệ tiến sĩ. Vận dụng cụ thể vào cuộc khảo nghiệm này, ông Nghị sẽ dùng khả năng để làm việc nhỏ trước khi áp dụng cho cơn bão ngoài Thái Bình Dương …”

Phát biểu xong, ông Khanh hỏi ông Nghị: “Bác có biết năng lượng cơn bão mạnh thế nào không?”, ông Nghị trả lời: “Rất mạnh, bằng cả ngàn quả bom nguyên tử. Tuy nhiên năng lượng của tôi lấy từ vũ trụ nên còn mạnh hơn cả bão”. Ông Khanh hỏi tiếp: “Vậy sức gió của cơn bão so với cái quạt điện thế nào?”. “Bằng tỉ tỉ cái quạt điện”. Khi nghe ông Nghị nói vậy, ông Khanh tuyên bố: “Vậy chưa cần làm thử nghiệm với cơn bão. Nếu bác Nghị làm được việc nhỏ bằng một phần tỉ tỉ việc dịch chuyển cơn bão cũng đủ làm tôi nhận bác làm sư phụ”. Nói rồi, ông Khanh bê chiếc quạt có 5 số đặt ở góc nhà rồi bật số 5. Ông yêu cầu: “Bác chỉ cần chuyển sức gió của quạt từ số 5 xuống số 4 hoặc số 3 cho đỡ tốn sức, hoặc lái gió của quạt sang một bên là cuộc thí nghiệm thành công”. Mọi người cùng vỗ tay tán đồng vì cuộc khảo nghiệm khá đơn giản mà rất thông minh của ông Khanh. Ông Nghị cũng không thể nghĩ ra lí do gì để từ chối cuộc khảo nghiệm này.

Ông Nghị ngồi xuống nền nhà, mắt nhắm nghiền để hấp thụ năng lượng vũ trụ qua các luân xa. Khi thấy năng lượng trong cơ thể đã hòm hòm, ông vận công phóng vào chiếc quạt. Chả biết năng lượng của ông dồi dào thế nào mà ông phóng vã cả mồ hôi mà cái quạt vẫn quay vù vù, thổi bay cả tóc với tà áo của ông. Sau khi phóng hết năng lượng, người ngợm mệt nhoài, ông Nghị đành thú nhận: “Tôi tưởng không ai có thể sáng chế nổi chiếc máy đo năng lượng của tôi, vậy mà chỉ bằng thí nghiệm rất đơn giản của ông, nhưng để lại cho tôi quan điểm phải nhìn nhận lại vấn đề”. Sau vụ đó, không thấy ông Nghị có tuyên bố động trời nào nữa.

Dùng năng lượng khử sạch nước Hồ Tây

Mới đây, Liên hiệp UIA lại đón tiếp ông Nguyễn Văn Thanh ở Hà Nội. Ông này cũng là học viên của một lớp cảm xạ, thích đọc sách thần bí, viễn tưởng. Ông ta đưa ra một tuyên bố động trời, đó là dùng năng lượng cơ thể làm sạch nước Hồ Tây, khiến mùi hôi tanh, ô nhiễm biến mất. Thời điểm đó, nước Hồ Tây ô nhiễm khá nặng, cá chết nổi đầy hồ. Đã có dự án đưa ra như nạo vét Hồ Tây, thay nước cho Hồ Tây… Các dự án đưa ra đều tốn kém nhiều USD. Tuyên bố của ông Thanh đưa ra thật đúng lúc, hợp hoàn cảnh. Với nhiệm vụ tìm kiếm những người có khả năng đặc biệt để phục vụ đất nước, nên ông Khanh không thể từ chối cuộc khảo nghiệm này.

Khi bắt đầu cuộc khảo nghiệm, ông Khanh chỉ ôn tồn nói: “Theo bác, chén nước so với Hồ Tây thì thế nào?”. Ông Thanh trả lời hồn nhiên: “Là một trời một vực, làm sao so ao tù với đại dương được”.

Chỉ chờ ông Thanh nói vậy, TS Vũ Thế Khanh liền mang ra 3 chén nước tinh khiết. Ông vắt 1 quả chanh cho vào chén thứ nhất, nhỏ vài giọt dầu gió vào chén thứ hai, còn chén thứ 3 ông để nguyên nước trắng. Ông yêu cầu “siêu nhân” Nguyễn Văn Thanh dùng năng lượng khử mùi chén có dầu gió đang bốc mùi ngào ngạt và khử màu đục của chén nước bị vắt quả chanh. Khi nào hai chén nước trong suốt và không có mùi như chén thứ 3 thì sẽ làm khảo nghiệm tiếp.

Ông Thanh đã dùng con lắc để phóng năng lượng cảm xạ suốt 3 giờ đồng hồ mà chẳng ăn thua. Chén nước chanh vẫn đục, chén nước dầu gió vẫn bốc mùi. Vậy là, cuộc khảo nghiệm thành công, còn khả năng của “siêu nhân” Nguyễn Văn Thanh thì thất bại. Từ đó, không thấy ông này tuyên ngôn gì nữa.



"Siêu nhân đi mây về gió"

Ngoài những “siêu nhân” hô mưa, đuổi bão, khử ô nhiễm môi trường, truyền năng lượng chữa bệnh (số “siêu nhân” tuyên bố có khả năng truyền năng lượng chữa bệnh nhiều vô số kể), còn có “siêu nhân” tuyên bố có khả năng “đi mây về gió”, chả khác gì Tôn Ngộ Không.

Siêu nhân có khả năng “xuất hồn” kiểu như Tôn Ngộ Không trong Tây Du Kí là ông Trần Quang Bình, 70 tuổi, ở Hà Nội. Ông này khẳng định với TS. Vũ Thế Khanh là thường xuyên “xuất hồn” sang tận tháp Eiffel ở Thủ đô Pari của Pháp. Đôi khi, ông còn hứng chí đưa hồn lên tận Mặt Trăng, sao Hỏa! Nếu cần thiết ông cũng có thể xuất hồn về quá khứ hàng ngàn năm, hoặc xuất hồn xuống thế giới âm phủ xem ma qủy sống thế nào. Ông Khanh trộm nghĩ, nếu ông Bình có khả năng này thì đất nước ta có phúc. Chả cần ông Bình phải xuất hồn lên Mặt trăng, sao Hỏa, chỉ cần ông ta xuất hồn đến các tập đoàn, các cơ sở khoa học để “mượn” chút tri thức nhân loại thì nước ta tốt biết mấy. Nếu không có khả năng ấy thì xuất hồn ra biển cứu ngư dân mùa bão, hoặc xuất hồn đi tìm mấy tên tội phạm, xâm nhập vào hang ổ tội phạm phục vụ công an cũng là điều tốt đẹp, lớn lao rồi.

Ông Khanh yêu cầu ông Bình xuất hồn sang tháp Eiffel, thì thấy ông ta “xuất” đi một lúc, khi quay về, tả ngôi tháp khá tận tường. Rồi ông ta tiếp tục xuất hồn về chùa Đậu mấy trăm năm về trước, sau đó tả vanh vách: “Tôi nhìn thấy thiền sư Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh ngồi thiền trên giàn hỏa. Các đệ tử ngồi dưới sân. Hơi nóng và khói từ từ bốc lên. Một tuần sau cơ thể từ từ khô đét lại và tồn tại cho đến ngày nay”. Nghe thấy ông Bình tả thế, ông Khanh đã thấy nhảm nhí và phản khoa học rồi.

Để làm khảo nghiệm, ông Khanh chuẩn bị hai chiếc camera rồi cài đặt đồng hồ hiện lên màn hình. Ông Khanh đề nghị các nhà khoa học mang một chiếc đặt trong phòng khách nhà ông Bình, một chiếc quay cuộc khảo nghiệm. Ông Khanh nói: “Tôi không yêu cầu bác xuất hồn lên sao Hỏa, chỉ cần xuất hồn về nhà bác, tính ra đường chim bay có 2 cây số, như vậy không thể nói hồn bác đi nhầm đường vào nhà khác được. Sẽ có một nhà khoa học làm việc ở nhà bác. Bác hãy xuất hồn về và kể những việc làm của họ”.

Ông Bình nhắm mắt… dẫn hồn về nhà mình và tả rành rọt mọi thứ. Nào là ông A đang đi lại, cô B ngồi uống nước, anh C đi vào nhà vệ sinh.

Cuộc khảo nghiệm xuất hồn kết thúc. Chiếc camera được mang về. Hai chiếc camera được cắm vào 2 tivi và cùng chạy lại cuốn băng. Thời gian hiện trên màn hình của hai chiếc đều trùng khớp. Màn hình ghi lại lời ông Bình tả thao thao bất tuyệt. Nhưng màn hình kia thì chỉ thấy có một ngôi nhà trống trơn. Chẳng có bóng người nào. Ông Bình thừa nhận đấy đích xác là ngôi nhà mà gia đình ông đang ở. Cuốn băng chạy chưa hết, mọi người nhìn lại không thấy bóng dáng ông Bình đâu cả. Sau này, không thấy ông Bình tuyên bố thêm điều gì với Liên hiệp UIA nữa, nhưng ông vẫn tích cực xem bói, tìm mộ, gọi hồn, xuất hồn cho thiên hạ xem.

Theo lời ông Khanh, nhưng người có tuyên bố động trời, làm được những việc phi thường hầu hết đều là những người mắc bệnh hoang tưởng. Họ có thể là tri thức, là người bình thường nhưng vì môn cảm xạ học, khai mở huyệt đạo không đúng cách nên bị “tẩu hỏa nhập ma”. Nhiều người chỉ vì đọc lắm sách thần bí, sách luyện công nhảm nhí, rồi tập luyện theo, nên bị ám thị, viễn tưởng rằng mình có năng lượng siêu phàm. Căn bệnh của những người này sẽ mỗi ngày một nặng thêm, nếu không được điều trị kịp thời, đúng cách.
24H.COM.VN (Theo Tuổi trẻ Thủ đô)

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2010

Huyền thoại ông tổ và Ngày sân khấu

Ngày 12.8 âm lịch được chọn là Ngày sân khấu Việt Nam, đó cũng chính là ngày giỗ tổ sân khấu hằng năm mà giới làm nghề phía Nam đều tổ chức trang trọng.
Ông tổ sân khấu là ai?


Cho đến bây giờ không người nào trả lời được chắc chắn câu hỏi trên.

Theo NSND Đinh Bằng Phi thì truyền thuyết được biết nhiều nhất là có một nhà vua không có con nên làm lễ cầu xin Trời Phật ban phúc. Mỗi khi làm lễ, có một người giả làm thần vừa múa hát vừa bay lên trời dâng sớ. Thế là hoàng hậu sinh hạ hai vị hoàng tử. Để tạ ơn trời, hằng năm vua đều cho diễn lại lễ ấy, có con hát đàn ca vui vẻ, có người đóng vai thần linh, và coi như một tiết mục biểu diễn trong cung.

Hai vị hoàng tử lớn lên rất mê ca hát, suốt ngày quanh quẩn bên bội đình. Một hôm, mọi người tìm mãi không thấy hai hoàng tử đâu, hóa ra họ lén vua cha vào trong buồng hát mà xem, đến nỗi quên ăn quên ngủ, rồi kiệt sức, ôm nhau chết tự lúc nào. Từ đó, nghệ sĩ thường thấy hai hoàng tử hiện về xem hát, bèn lập bàn thờ phụng, gọi là tổ. Cho nên, trong đoàn hát có một trang thờ bằng gỗ sơn đỏ, đặt hai cốt gỗ nhỏ xíu như con búp bê tượng trưng cho nhị vị hoàng tử. Mỗi khi có lớp diễn sinh con, nghệ sĩ hay đến bàn thờ thỉnh một vị ra làm hài nhi. Hoàng tử trẻ tuổi, ham vui, chắc chắn sẽ không phật lòng, mà còn thích diễn là đằng khác. Nhưng NSND Đinh Bằng Phi còn nói: "Thờ cốt gỗ trẻ con cũng có ý nghĩa hướng về khán giả trẻ, vì chính họ sẽ là người nuôi sân khấu tương lai".

Cũng có truyền thuyết nói rằng tổ sân khấu vốn xuất thân từ ăn mày, bởi nghề hát sống nhờ vào đồng tiền của khán giả gom lại, có khác chi ăn mày khán giả. Cho nên nghệ sĩ làm từ thiện ở đâu thì làm chứ không dám bố thí cho người ăn xin, vì như thế là phạm thượng với tổ.

Thật ra, sân khấu miền Nam xuất phát điểm là hát bội, nên ông tổ chỉ được thờ trong các đoàn hát bội mà thôi. Sau này, có thêm cải lương rồi kịch cũng lấy luôn ông tổ này làm tổ của mình.

"Tổ phạt", "tổ độ"...

Nghệ sĩ thờ tổ rất thành kính, luôn nhớ những điều cấm kỵ, nếu không sẽ bị “tổ phạt”. Nhưng theo NSND Đinh Bằng Phi thì những điều này vừa là "tâm linh" vừa là khoa học. Chẳng hạn, giờ hóa trang không được giỡn hớt, nói tục trước bàn thờ tổ, có nghĩa là nghệ sĩ phải yên tĩnh, tập trung cho vai diễn sắp tới, thì sẽ diễn tốt hơn. Cấm đụng tới chiêng trống, bảo đó là một bộ phận trong cơ thể ông tổ, thật ra sợ lỡ tay làm hư rồi không sửa kịp, thiếu nhạc cụ để diễn. Cấm trẻ con hoặc khán giả đem theo trái thị, sợ ông tổ nghe mùi thơm chạy theo mà bỏ nghệ sĩ, không phù hộ. Sự thật là mùi trái thị thơm nức mũi, nghệ sĩ hít vô liền bị phân tâm, quên vai mà thôi. Cấm mang guốc vông, vì gỗ cây vông đẽo thành tượng tổ mà chà đạp dưới chân ắt có tội. Thật ra, thời xưa nghệ sĩ thường đi chân đất, lúc diễn mới mang hia, hài, nếu ai đi guốc cồm cộp sẽ làm mất yên tĩnh, tập trung cho người khác.

Và những câu chuyện truyền miệng trong giới không biết có phải do tổ linh thiêng hay không... Gánh hát bội của nghệ sĩ Mười Vàng nổi tiếng, có anh kép rất giỏi nhưng hay làm bể sô của ông bầu. Lần nọ, anh cũng bỏ một sô, báo hại ông bầu Mười Vàng phải nhảy lên đóng thay. May mắn, ông là nghệ sĩ kỳ cựu nên ai bỏ vai gì ông cũng đóng được hết. Lần này ông bực quá, rầy anh kép nọ. Anh chối hoài, ông bảo anh phải thề. Anh thề: "Nếu tôi nói dối thì cho bữa hát này tổ lấy hơi tôi đi!". Lát sau, anh ra sân khấu, mới dõng dạc hát một câu tự nhiên tắt giọng liền. Anh gân cổ hát mãi cũng không được, hoảng hốt tìm cách lui vào hậu trường bảo vợ đi mua con gà tạ lỗi với tổ. NSND Đinh Bằng Phi lúc ấy đang là giảng viên của trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn, đi theo gánh hát, chứng kiến đầu đuôi sự tình. Ông cười: "Chẳng biết tổ linh hay có thể giải thích rằng do cả đêm anh ta thức đánh bài, sáng dậy mất giọng".

Còn một câu chuyện khác, có anh kép cải lương nổi tiếng một thời, cát-sê ngang ngửa với nghệ sĩ Út Trà Ôn, Thành Được, lần nọ uống rượu ngà ngà hát không nổi, liền tới trước bàn thờ tổ lè nhè: "Bộ muốn lấy giọng tui hả?". Tự nhiên sau đó vài năm anh "xuống" luôn, và giã từ sân khấu khá sớm.

Đó là những chuyện "tổ phạt". Còn chuyện "tổ độ" cũng không thiếu. Có nhiều đào kép ngoài đời không đẹp lắm nhưng lên sân khấu lại sáng trưng và duyên dáng lạ kỳ. Chẳng hạn NSƯT Ngọc Giàu từng nói thẳng là mình nhỏ con không sánh nổi nhan sắc cỡ Thanh Nga, Phượng Liên, nhưng tổ thương nên nghề nghiệp vẫn thành công. Mỗi khi chị lên sân khấu, khán giả chỉ thấy cái đẹp của nhân vật, và cho tới bây giờ vẫn yêu mến chị cuồng nhiệt. Cô đào trẻ Tú Sương cũng hơi yếu về sắc vóc, nhưng trên sàn diễn lại là ngôi sao cải lương. Có lẽ "tổ độ" vì cô làm nghề nghiêm túc, vượt mọi khó khăn để sống chết với nghề. Vai nào Tú Sương đóng cũng thấy sự tập luyện kỹ lưỡng, khán giả không yêu sao được.

Bên cạnh những vị tổ truyền thuyết ấy còn có những vị tổ rất cụ thể mà giới làm nghề gọi là hậu tổ. Đó là những vị tổ sư của các ngành nghề có liên quan đến vai diễn của nghệ sĩ, gọi là thập nhị công nghệ. Thí dụ: nghề may, nghề mộc, đi buôn, thợ rèn, y dược... Mỗi vai diễn, nghệ sĩ phải lấy thực tế từ người thật nghề thật rồi mới cách điệu lên, nên tri ân nghề đó. Hậu tổ còn bao gồm cả những nghệ sĩ lão thành có công với sân khấu, hoặc những nhân tài xuất chúng, như ông Trương Duy Toản, ông Năm Tú, ông Cao Văn Lầu, NSND Năm Châu, Ba Vân, Trần Hữu Trang, Phùng Há, Năm Phỉ, Tư Đồ...
(TNO)

Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2010

Nghệ thuật điêu khắc lá trên cây

Không thể tin được là những chiếc lá cũng có thể trở thành cảm hứng để các nghệ sĩ sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp.


Các nghệ nhân của Hội Nghệ thuật chạm khắc trên lá cây ở California, Mỹ phải thực hiện một quá trình rất công phu, tỉ mỉ với 60 công đoạn mới có thể tạo nên những kiệt tác nghệ thuật thu nhỏ.


Mỗi tác phẩm như thế này mất khoảng 1 tuần để hoàn thành.




Nghệ thuật chạm khắc trên lá cây bắt nguồn từ Trung Quốc và đã lan rộng ra khắp thế giới.


Dean Prator, 55 tuổi, Chủ tịch Hội Nghệ thuật chạm khắc trên lá cây ở California, cho hay mọi người đều rất nhạc nhiên khi chiêm ngưỡng các tác phẩm tuyệt vời trên lá.








Xuất sắc luôn