Thứ Hai, 8 tháng 11, 2010

"Thần y" đốt lưỡi bằng dao nung đỏ chữa bệnh cho dân


(VTC News) - Tôi sởn gai ốc khi thấy ông Cán thản nhiên thè lưỡi… liếm ngon lành con dao nung đỏ như đứa trẻ mút kem. Sức nóng từ lưỡi dao nung đỏ đốt lưỡi ông cháy xèo xèo.
Tiếp thu tất cả những gì đã khổ luyện, truyền nhân “ma hút” Vi Văn Cán đã chữa bệnh cho hàng nghìn trường hợp.

Không chỉ người dân ở vùng Tây Bắc đến nhờ ông Cán, nhiều người bên Lào cũng sang tận Sông Mã “rước” ông sang chữa bệnh giúp. Có chuyến ông đi chữa bệnh hàng tháng trời.

Câu chuyện bị ngắt quãng giữa chừng bởi ông Cán có khách, ông Lò Văn Cấu bên thị trấn Sông Mã, đưa con gái sang chữa bệnh.

Cô bé, trong một lần lên rừng, trúng phải khí độc, nên khi về đến nhà liền té xỉu. Suốt ngày em kêu đau đầu, choáng váng, không ăn được gì.

Tận mắt cảnh chữa bệnh, tôi không khỏi kinh ngạc. Nó như một màn ảo thuật kỳ lạ.

Ông Cán dúi con dao chẻ củi vào bếp than đỏ rực. Ông thắp ba nén hương và lầm rầm đọc thần chú bằng tiếng Xinh Mun. Vừa khấn ông vừa đốt nến và nhúng 3 chiếc lá vào một bát nước màu đen có hòa tổ tò vò.

Cho nguyên ngọn nến đang cháy vào miệng, ông quay sang thổi phù vào mặt bệnh nhân. Tiếp đó, ông đưa ngọn nến khua khua mấy vòng. Theo lời ông Cán, việc dùng nến soi không khác gì…chụp X quang ở bệnh viện.

Chỗ nào thấy “bệnh”, ông dùng ống tre ấn vào và hút bệnh ra. Mọi chất độc được thả vào chén rượu trong mâm để mọi người chứng kiến. Mấy lần hút cũng chỉ được một thứ cặn màu đen, lắng xuống đáy chén.

Tiếp đó là màn liếm dao nung đỏ. Tôi sởn gai ốc khi thấy ông Cán thản nhiên thè lưỡi… liếm ngon lành con dao nung đỏ như đứa trẻ mút kem. Sức nóng từ lưỡi dao nung đỏ đốt lưỡi ông cháy xèo xèo.

Liếm dao nung đỏ xong, ông Cán phả hơi nóng vào mặt cô bé. Ông bảo: "Đây là thuốc giảm đau với người bị vết thương kín và là cách cầm máu với những vết thương hở”.

Như có phép thuật, sau khi hút hết “khí độc” trong người, cô bé đã tươi tỉnh trở lại. Có sẵn chai rượu, ông bảo người nhà làm thêm món ăn, rồi quay sang bảo chúng tôi: “Nhà báo uống với tôi và mọi người một chén nhé, chẳng mấy khi ở Hà Nội về tận vùng Sông Mã xa xôi này”.

Bên mâm rượu, ông kể chuyện chữa bệnh cứu người của mình. Ông bảo, nếu như chúng tôi đến sớm hơn một ngày thì đã được xem cảnh hút đạn trong người. Vừa hôm qua có trường hợp tìm đến ông.

Một thanh niên người Thái tên Vi Văn Táo bị trúng đạn súng kíp ở cả chân, bụng và tay. Tuy nhiên, ca này bị thương không trầm trọng, nên hút xong họ đã về nhà. Anh này ở tận Điện Biên.

Không chỉ hút đạn, cũng bằng một chiếc ống tre, ông Cán đã giúp hàng nghìn ca bị hóc xương cá, xương gà, xương chó… Điều lạ là các vết thương không hề để lại sẹo.

Cháu Vì Văn Sáng ở bản Kéo, con của anh Sang vẫn còn nhớ như in cái lần bị hóc xương gà, suốt 2 ngày không ăn không uống được gì. Nhà không có tiền đưa con đi bệnh viện, ông bố vội đưa con tới nhờ ông Cán giúp. Sau khi xem xét, ông Cán dùng ống hút, chỉ một lát sau miếng xương được lấy ra, ở cổ chỉ hơi rớm máu.

Cách hút dị vật của ông Cán cũng rất đặc biệt. Bị hóc xương thì đặt ống tre sau gáy và hút xương ra theo phía đó. Nếu bị trúng đạn thì đạn vào đường nào hút ra theo đường ấy, không cần dao kéo, mổ xẻ, vì vậy cũng mất ít máu hơn. Đối với những trường hợp nhẹ, ông Cán hút mà không hề chảy máu.

Danh tiếng truyền nhân “ma hút” lan ra khắp vùng Tây Bắc, đến nỗi, gia đình nào có người bị dính đạn, ở cách xa vài trăm cây số cũng lặn lội đến tận nhà ông, cả bên Lào cũng sang.
Tôi hỏi chuyện xung quanh khả năng liếm lưỡi dao đang nung đỏ khác người của ông, ông cười bảo rằng, lúc đó không hề thấy nóng, nhưng nếu người khác làm vậy sẽ lập tức bỏng lưỡi.

Theo ông, khi đọc thần chú, ông như quên hết tất cả, tinh thần hòa nhập với trời đất. Mục đích liếm lưỡi dao là để hút khí nóng. Việc phả khí nóng vào bệnh nhân có tác dụng cầm máu và giảm đau cho bệnh nhân khi hút dị vật trong người.

Đang nói chuyện, bỗng giọng nói của ông trầm hẳn xuống: “Nhà báo à, tôi thì cũng sắp tới tuổi già, nhưng cho đến giờ vẫn chưa có ai kế thừa những phương pháp chữa bệnh này, tôi chỉ sợ thất truyền, không cứu giúp được mọi người nữa”.

Ông Cán bảo, nghề này không kiên trì thì không học được, mà chỉ sợ truyền nghề cho người thiếu đạo đức, họ lợi dụng để kiếm lợi thì nó sẽ mất thiêng, làm sai lệch tôn chỉ mà ông đã học được từ “ma hút”.

Đã có rất nhiều người xin theo học nhưng ông không dạy, ông bảo phải kiên quyết chờ cho đến lúc gặp được một người có đủ phẩm hạnh.

Chúng tôi chào ông ra về, ông tiễn ra đến cổng, ông tươi cười: “Nhà báo nhớ dịp nào đó lại quay về uống với tôi chén rượu nhé, biết đâu lúc đó tôi đã có truyền nhân”.

Trong cuộc sống có nhiều điều không thể giải thích được. Vùng cao của nước ta lại càng chứa đựng nhiều bí ẩn. Chứng kiến câu chuyện khó tin kể trên, tôi thiết nghĩ các ban ngành nên kiểm chứng cách chữa bệnh lạ lùng đó bằng phương pháp khoa học. Nếu khả năng “hút” bệnh của cha con ông Hối là có cơ sở, thì cũng nên tìm cách bảo tồn phương pháp chữa bệnh độc đáo này.

Minh Hải

Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010

“Đạp gió cưỡi mây” ở “nóc nhà” miền Tây

(NLĐO) – Cứ vào độ tháng 9 đến tháng 10 âm lịch hằng năm, ngọn núi Cấm ở An Giang – được mệnh danh là “nóc nhà” miền Tây - lại xuất hiện sương mù rải rác khắp triền núi. Sương mù nhiều nhất phải kể đến vồ Bò Hong với đỉnh cao 716m.
Đầu tháng 9 âm lịch năm nay, đỉnh núi Cấm xuất hiện những đợt sương mù dày đặc hiếm thấy. Không chỉ quấn quít trên cao, sương mù còn lan tỏa và bao phủ khắp các đỉnh đồi, đường sá… Phóng tầm mắt ra xa, các ngọn đồi, triền núi cứ trập trùng miên man trong sương trắng.

Đến vồ Bò Hong thời điểm này, du khách sẽ được trải nghiệm cảm giác “đạp gió cưỡi mây” vì gió luôn luôn rít mạnh, còn sương và mây bay là đà ngay dưới chân.

Nhiều du khách thích thú bảo quang cảnh “nóc nhà” miền Tây trở nên hữu tình, lãng mạn không khác gì “thành phố ngàn thông” Đà Lạt hay “thị trấn trong sương” Sapa.


Cầu Đỏ trên hồ cảnh quan Thủy Liêm bị sương mù bao phủ



Chùa Vạn Linh trên đỉnh núi Cấm lờ mờ trong sương sớm





Chùa Phật Lớn trong sương mù trông tựa như cảnh tiên bồng

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

Những hang động Thất Sơn huyền bí: Doanh trại tướng cướp Đơn Hùng Tín

Theo nhiều tài liệu và các bậc cao niên, tướng cướp Đơn Hùng Tín từng chọn núi Cấm làm doanh trại.
Đơn Hùng Tín là tướng cướp khét tiếng một thời làm đau đầu nhà cầm quyền người Pháp ở Đông Dương. Tuy nhiên, các giai thoại về ông không thống nhất.


Doanh trại của tướng cướp Đơn Hùng Tín xưa trở thành nơi cúng giải hạn, cầu cơ, xin số bất kể ngày đêm - Ảnh: T.Q - C.N

Nuôi chí... làm cướp

Có khá nhiều tài liệu ghi chép về tướng cướp Đơn Hùng Tín nhưng có nhiều điểm khác biệt nhau. Trong đó, nhà văn Sơn Nam ghi chép khá chi tiết. Đơn Hùng Tín tên thật là Lê Văn Tín, quê ở Cao Lãnh (nay là TP Cao Lãnh, Đồng Tháp). Xưa kia, ông chưa lấy tên là Đơn Hùng Tín mà chỉ là kẻ vô danh. Song, chàng thanh niên này lại mê đọc truyện Tống, truyện Đường và rất mê nhân vật Đơn Hùng Tín - một người can trung, tận nghĩa. Vậy là anh âm thầm nuôi chí lớn và chờ đợi thời cơ đến.

Tín biết rõ xứ núi Tà Lơn (Campuchia) là nơi xuất thế với các bậc siêu phàm, mình đầy võ nghệ, bùa chú nên cất công tìm tới. Sau nhiều ngày rảo khắp các hang động cheo leo, Tín gặp một người thanh niên. Qua trao đổi, Tín biết người này tên là Phép, từng là thầy giáo nên gọi là giáo Phép, quê ở miệt Châu Đốc. Không biết hà cớ gì hay muốn làm giàu, kiếm vàng muôn bạc nén mà giáo Phép tìm đến núi Tà Lơn để tìm "chúa" hiến mưu. Khi gặp Tín, người có dáng trượng phu, thân hình vạm vỡ "vai năm tấc rộng, thân mười thước cao", giáo Phép quyết theo phò.

Từ đó giáo Phép làm quân sư, giúp Tín đi tập hợp tiều phu, dân nghèo quanh núi để làm thuộc hạ. Sau lần Tín và Phép lừa được cả đám lâu la bằng chiêu "súng bắn không chết" mà Tín còn cắn được cả đầu đạn khiến đám người tin tưởng xin quy phục làm thuộc hạ. Từ đó, ông chính thức xưng là Đơn Hùng Tín, chuyên đi cướp của khắp vùng Bảy Núi, Tiền Giang, Hậu Giang…

Có người nói rằng Đơn Hùng Tín là một tướng cướp hành hiệp trượng nghĩa, cướp của Tây, cường hào ác bá phân phát cho người nghèo. Nhưng cũng có người cho rằng Đơn Hùng Tín là tên cướp bất nhân, cướp cả đồ đạc, tượng Phật của các chùa chiền.

“Xin” bào thai vợ luyện... bùa

Buổi ban đầu Đơn Hùng Tín chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt và chưa có nhiều võ nghệ hay bùa chú gì. Song, sau khi đã trở thành đại vương của những tay "lương sơn bạc", để tồn tại và đám lâu la kính nể, Đơn Hùng Tín đã dày công khổ luyện võ nghệ. Quân sư giáo Phép vốn là một kẻ nhát gan nhưng lại lắm mưu nhiều kế. Sau nhiều năm giáo Phép lên núi Tà Lơn, y biết rằng nhiều lão tiên sinh đang tu tiên tại đây có cất giữ một cuốn bí kíp võ công gọi là "Thiên thư bí quyết" nên đã bày kế cho Đơn Hùng Tín học loại võ công này. Theo lời thuật của giáo Phép, có một ông lão tại núi Tà Lơn học được phép mầu trong quyển "Thiên thư bí quyết". Ông này nuôi một con khỉ, mỗi ngày cho nó nuốt một lá bùa nhưng đến ngày thứ 7 thì khỉ lăn ra chết. Đem xác khỉ cất vào cái hộp, đúng trăm ngày giở ra, khỉ mở mắt, ông liền cho uống lá bùa thứ 8 thì khỉ sống lại, lanh lẹ và nhất nhất tuân lời ông. Mỗi ngày con khỉ chạy xuống chân núi trộm lấy 2 đồng xu về cống nạp cho ông lão.

Sau đó, Đơn Hùng Tín theo cách đó mà luyện tập và đã tám phần thông thạo. Theo nhiều tài liệu ghi lại, nhà chức trách Pháp lúc bấy giờ không thể lần ra dấu vết của ông sau mỗi vụ cướp vì ông biến hóa đại tài, lúc ẩn lúc hiện. Về sau, ông đã có vợ thì sơn trại được dời lên núi Cấm thuộc huyện Bảy Núi lúc bấy giờ. Về đây, Đơn Hùng Tín tiếp tục luyện tập bùa phép. Tương truyền, ông đã xin bào thai của vợ để luyện bùa, được vợ đồng ý nên liền mổ bụng vợ lấy thai nhi. Hằng đêm, Đơn Hùng Tín đem bào thai ra giữa trời để tu luyện cho đến khi nó khô lại thì được ông mang theo người như vật bất ly thân (giống như tương truyền về ma cóc ở Tây Nguyên). Từ đó, Đơn Hùng Tín càng ngang dọc, ẩn hiện, biến hóa mà không sợ bị bắt. Lúc bấy giờ, người Pháp treo thưởng cho người tìm ra tung tích của ông với giá rất cao. Song, cũng do ỷ lại tài cao khiến ông mất cảnh giác, bị một tên thuộc hạ phản trắc, báo tin cho người Pháp trong một lần được cho đi chợ ở Mỹ Tho. Mọi nẻo đường tiến thoái, kế hoạch của Đơn Hùng Tín đều bị lộ khiến chính quyền Mỹ Tho siết chặt vòng vây và pháo kích, hạ sát ông vào năm 1926.

Đi tìm dấu vết

Ông Đinh Phi Vân, nguyên là cán bộ Công an xã An Hảo, huyện Tịnh Biên (An Giang), người sống trên ngọn núi cao nhất miền Tây này cho biết qua các tài liệu ông đọc được thì chính khu vực hang ông Thẻ là đại bản doanh của Đơn Hùng Tín. Sở dĩ ông Vân quả quyết địa điểm này là doanh trại của tướng cướp lừng danh vì thỉnh thoảng có người vẫn nhặt được những cổ vật từ trong hang núi và quanh khu vực này. Ông Vân nói theo nhiều tài liệu thì tảng đá lớn ngay trước cửa hang ông Thẻ trông như bàn thạch là nơi xưa kia Đơn Hùng Tín mổ bụng vợ lấy bào thai.

Nói đoạn, ông Vân ôm lấy thân cây rừng rồi theo rễ cây tuột xuống một vách đá dựng. Chúng tôi cũng thử một phen làm "Tarzan" đu theo rễ cây rừng và dây leo thám hiểm quanh khu vực. Rõ là bên dưới bờ vực sâu này có rất nhiều vách đá dựng cheo leo và "lò ảng" (hang đá tự nhiên do hai phiến đá tựa vào nhau tạo khoảng trống bên dưới - PV) rộng lớn. Đi đến mỗi "lò ảng" ông Vân đều dừng lại, cùng chúng tôi len lỏi vào trong hang để thị sát. "Hang ông Thẻ xưa kia là nơi cất giấu lương thực, của cải mà bọn "khăn trắng" cướp được, về sau gọi là hang ông Thẻ. Còn bọn cướp thì ăn ngủ, trú ngụ theo các vách đá, lò ảng. Điều này nghe cũng hợp lý vì lợi dụng địa hình hiểm trở để dễ dàng ẩn nấp, tránh sự kiểm tra của nhà chức trách lúc bấy giờ", ông Vân phân tích.

Suốt nửa ngày đánh đu, chuyền từ cây này sang bờ vực khác quanh các vách đá dựng như "người rừng", chúng tôi tìm thấy rất nhiều hang đá theo các tài liệu mô tả về nơi ẩn náu của thủ lĩnh và bộ hạ tướng cướp Đơn Hùng Tín. Song dấu vết thì hầu như không để lại gì. Dù vậy, lão đạo sĩ Ba Lưới cũng khẳng định nơi đây tướng cướp khét tiếng Đơn Hùng Tín hùng cứ một thời.

Thanh Quốc - Chí Nhân

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2010

Những hang động huyền bí ở Thất Sơn: Hang Mãng xà

Rất nhiều người dân sinh sống trên núi Cấm khẳng định họ đã từng chạm trán mãng xà và may mắn trở về từ cõi chết.

Thiên Cấm sơn (núi Cấm) ở xã An Hảo, H.Tịnh Biên, An Giang, có đỉnh cao đến 716m, cao nhất vùng Thất Sơn và cũng là nơi chứa đựng nhiều điều huyền bí.

Ba đời "diện kiến" mãng xà

Theo lời của nhiều người dân trên núi Cấm, hiện nay rắn lớn cỡ bắp đùi còn khá nhiều. Ông Trần Huy Dũng, tổ trưởng tổ 1, ấp Vồ Đầu trên đỉnh núi Cấm nói rằng, đến tận bây giờ vẫn còn bị ám ảnh bởi suýt làm mồi cho rắn khổng lồ. Chuyện xảy ra đã hơn 10 năm. Bữa đó, khi ông Dũng đang từ trên triền xuống chân núi thì nhìn thấy con chim chìa vôi và con sóc đang nhảy tung tăng như đùa giỡn với nhau trên mặt đất. "Cảnh này thiệt lạ. Một con trên trời, một con dưới đất sao lại giỡn với nhau? Định thần lại, tôi rùng mình khi thấy cái đầu rắn to đùng đang hướng về phía 2 con vật. Lúc đó tôi mới biết là chúng đã bị nọc độc rắn làm mù mắt và sẽ trở thành mồi cho con rắn. Tôi sựng lại khi chỉ cách con rắn chừng 5m và "chết đứng" một hồi lâu. May mắn là con mãng xà đang đặt tầm ngắm vào 2 con mồi kia nên không phát hiện ra tôi, nếu không...". Theo ông Dũng, đó là con rắn hổ mây to bằng cái khạp năm cân (còn gọi là hũ đường), nhưng không thể phát hiện nó từ xa vì hổ mây có bộ da mốc thít, rất giống với da cây cổ thụ trong rừng.

Bà Mai Thị Nguyệt, hàng xóm ông Dũng, nói bà là đời thứ 3 trong gia tộc đã từng được "diện kiến" rắn khổng lồ trên núi Cấm. Bà kể: gần 20 năm trước, nhà bà ở khu vực Cao Đài tự gần suối Thanh Long, đường đi bộ lên núi Cấm. Khi cùng chồng đi hái cây thuốc, đến khu vực suối Sư Bình (phía trên suối Thanh Long), bà ngửi thấy mùi hôi tanh. Lần theo hướng phát ra mùi hôi, thì đến một hang đá lớn. Khi chỉ còn cách hang chưa đầy 4m, bà "chết đứng" khi nhìn thấy một con rắn khổng lồ đang khoanh mình. "Trong tư thế nằm khoanh, đầu gác lên khoanh mình cuối cùng, vậy mà con rắn cao hơn đầu tôi cả nửa thước, thật khủng khiếp. Lúc đó tôi đứng chết trân không dám động đậy và nghĩ phen này mình chết chắc. Nhưng có điều lạ là con rắn cũng nằm im. Sau một lúc trấn tĩnh, tôi lạy con rắn: "Nếu ông ở đây tu thì nằm im cho con đi ra. Con vô tình lạc vào đây chứ không có ý quấy phá". Thấy "ổng" không động tịnh gì, tôi bước thụt lùi ra khỏi hang rồi chạy một mạch về nhà", bà Nguyệt kể tiếp.

Ngay sau khi về đến nhà, bà Nguyệt thuật lại câu chuyện gặp rắn khổng lồ cho mẹ là bà Nguyễn Thị Khoe nghe. Bà Khoe nghe xong bảo rằng chính bà và người cha (ông ngoại bà Nguyệt) cũng từng chạm mặt con rắn lớn đó ngay tại nơi bà Nguyệt đã gặp. "Má tôi kể dù đã cùng ông ngoại trèo lên đọt cây để tránh nhưng khi nhìn lại thì đầu con rắn đã ngẩng lên sát đít. Sau ông ngoại tôi vì quá kinh hãi đã phát bệnh mà chết", bà Nguyệt nói.

Hang rắn khổng lồ


Nghe câu chuyện của bà Nguyệt, ông Dũng khẳng định em trai ông cũng từng chạm trán một con rắn rất lớn gần khu vực suối Thanh Long cách đây gần chục năm. "Buổi chiều đi học về đến khu vực phía trên suối Thanh Long, em tôi và mấy đứa học trò nghịch đá ném đàn khỉ bên kia bờ suối. Bầy khỉ bỏ chạy thì bất ngờ xuất hiện một con rắn khổng lồ giương cao đầu rượt đuổi mấy đứa học trò. May mà tụi nhỏ chạy thoát", ông Dũng cho biết. Ông Dũng còn chỉ cho chúng tôi cái hang rắn khổng lồ dưới gốc cây da, chỉ cách nhà ông độ hơn 10 công đất. Ông quả quyết đã rất nhiều lần nhìn thấy con rắn bò vô, bò ra cái hang này. "Năm 1997, có một đoàn người của trại rắn Đồng Tâm mang theo súng ống, đồ nghề, thuốc mê lên đây gặp tôi nhờ dẫn đường tới hang rắn. Nhưng tôi ngăn cản quyết liệt vì nó quá lớn, mấy cái dụng cụ đó chẳng nhằm nhò gì, nguy hiểm lắm", ông Dũng nói.

Chúng tôi được một thanh niên tên Sang dẫn vào hang rắn cây da, nơi ông Dũng chỉ. Sang cho biết anh là người trông coi đất cho một thầy tu tại đây và đã 2 lần nhìn thấy con rắn ra vào hang cây da. Sang bảo lần anh nhìn thấy sau cùng cách đây chưa đầy một năm và khẳng định con rắn vẫn ở hang này. Chỉ cho chúng tôi gốc cây to độ nửa vòng tay ôm, Sang nói: "Nó to cỡ đó". Mặc dù rất hoang mang nhưng chúng tôi vẫn bạo gan bám theo Sang vào hang rắn. Lúc sau, Sang bất ngờ dừng lại, nói: "Tới hang nó rồi nè!". Tôi tái mặt nhưng cố làm tỉnh để tự trấn an. Bất chợt nhìn lại thấy mình đang đứng trên một vồ đá cheo leo, trước mặt là một cái hang đá to tướng với mùi hôi tanh xộc lên mũi. Cố thò đầu vào miệng hang quan sát, chúng tôi thấy ngổn ngang những đống màu đen như phân rắn, vô cùng hôi tanh. Sang quả quyết chính cái mùi hôi đặc quánh này mà người chủ đất trước đây đã bán lại mảnh rừng này với giá rẻ bèo.

Còn tại điện U Minh trên đỉnh núi Két (thị trấn Nhà Bàn, H.Tịnh Biên), ông Nguyễn Văn Sơn, chủ núi, khẳng định trong hang núi này từng có một cặp rắn khổng lồ sinh sống. Chúng tôi theo ông Sơn vào thám hiểm hang sâu giữa ban ngày nhưng cứ nghe sống lưng lành lạnh. Chỉ cặp tượng rắn bằng xi măng to tướng đang phồng mang, thè lưỡi đầy uy lực, ông Sơn nói cặp rắn thật còn lớn hơn gấp nhiều lần. Cái hang núi càng trở nên thâm u, huyền bí vì lối đi sâu bên trong không có ánh sáng và cũng không ai dám đi đến tận cùng hang. "Để khắc chế "mấy ổng", tôi tạc tượng một cặp rắn to trấn ải miệng hang. Đêm đêm khi ra đến đây gặp cặp rắn giả, "mấy ổng" bị... dội, rút trở vào hang sâu không quấy phá con người", ông Sơn nói.

Ba Lưới giết rắn

Ông Ba Lưới tên thật là Nguyễn Văn Y (98 tuổi, quê ở xã Mỹ Hiệp, H.Chợ Mới, An Giang) lên núi ẩn tu từ năm 1935, khi mới 23 tuổi. Cuộc sống trên núi lúc bấy giờ vô cùng khó khăn, hiểm nguy rình rập. Mỗi khi đi làm rẫy hay ra khỏi nhà, ai cũng phải cầm theo cây săn mây (làm từ cây mây rừng, dài gần 2m một đầu tròn nhọn, đầu kia dẹp mỏng bén như lưỡi dao) và chiếc búa lận lưng để phòng thân. Một lần đang băng qua rừng, ông Ba Lưới chạm trán con rắn hổ mây dài độ 10m, nặng hơn 90 kg. Nghe tiếng động, con hổ mây quay lại xòe cặp mang rộng cỡ 1,5m, đầu ngẩng cao, khè khè như muốn nuốt chửng ông. Không nao núng, Ba Lưới bước lùi thủ thế. Con rắn vừa lao đến tấn công đã nhận ngay nhát chém rụng đầu.

Lần thứ hai, khi ông đang đi cặp đường ô lên dốc núi. Một con rắn hổ mây nặng chừng 40 kg trườn mình thoăn thoắt xuống, ông không kịp tránh đường. "Sẵn cây săn mây đang làm gậy chống đường tao vung chém ngay đầu con rắn. Nhát chém làm con mãng xà bị thương, máu văng xối xả. Chưa kịp ngẩng đầu chống trả, ác thú nhận tiếp một đòn chí mạng, đứt lìa đầu, chết lăn xuống đường ô. Tao đem cả đầu và xác rắn chôn bên vách đá", ông kể.

Thanh Quốc - Chí Nhân

Những hang động huyền bí ở Thất Sơn: Đi tìm hang hổ


Hang Bạch Hổ ở Vồ Thiên Tuế
Núi Cấm xưa kia có rất nhiều hổ với những truyền thuyết ly kỳ. Đến bây giờ nhiều người dân đi rừng vẫn còn nhìn thấy dấu chân chúa sơn lâm.
Từ những truyền thuyết, giai thoại về hổ trên vùng Bảy Núi, chúng tôi trở lại Thiên Cấm sơn để tìm hiểu. Hiện trên ngọn núi này có đến gần 10 hang hổ và theo người dân, trong số đó có nơi vẫn còn ông “ba mươi” trú ngụ.

Trận chiến ly kỳ

Tương truyền xưa kia, các võ sĩ ở miệt Thất Sơn thường đấu hổ, song lão đạo sĩ cuối cùng trên đỉnh Thiên Cấm sơn - Ba Lưới bảo đó chỉ là lời đồn thổi. Bởi theo ông, xưa kia hổ trên núi nhiều vô số kể nhưng đều là hổ tu không làm hại mà còn bảo vệ con người. Trong đó có hai con hắc hổ (hổ đen) và một con bạch hổ - chúa sơn lâm trên núi Cấm.

Rít điếu thuốc đỏ lừ, từ từ nhả khói, đạo sĩ già 97 tuổi, kể: Hồi đó ông lên núi tu chưa được bao lâu, độ khoảng năm 1940 thì phải. Ở phía đông nam có ngọn núi cao tên là núi Bà Đội Ôm (trên đỉnh núi có cục đá to như đầu người phụ nữ đội cà ôm). Hồi đó, trên núi này có rất nhiều ác thú. Người dân quanh vùng thường bị chúng phá phách, giết hại. Nhất là con hạm tinh (giống như hổ, nhưng chuyên ăn thịt người, xác chết, thịt thối) được coi là chúa tể của núi này.

Một ngày kia, hạm tinh băng rừng tìm theo đường mòn lên núi Cấm. Vừa tới cửa núi ở vồ Thiên Tuế đã bị hai con hổ đen chặn đánh. Lúc này trời bỗng nổi trận cuồng phong, các loài thú nhỏ thì tháo chạy, chim trời bay tứ tán. Biết có chuyện, những cư sĩ trên núi lúc bấy giờ trèo lên các ngọn cây cao xem thử. “Tình cờ tao và mọi người chứng kiến trận ác chiến đang diễn ra trên vồ đá to ngay cửa núi. Hai hổ đen xông vào nghênh chiến, xung quanh cả trăm hổ vằn ngồi lặng yên theo dõi. Sau nhiều giờ giao đấu không phân thắng bại, bỗng từ xa có tiếng gầm rú vang vọng cả núi rừng. Hai hổ đen dạt ra xa, bạch hổ bất ngờ xuất hiện, lao vào tấn công hạm. Chưa đầy nửa hiệp, chúa sơn lâm đã móc họng, giết chết hạm tinh và đẩy xác xuống vực sâu bên vồ Thiên Tuế. Núi Cấm trở nên yên ổn từ khi đó”, ông Ba Lưới kể.

Nghe mùi “khét”, chó chạy cong đuôi

Ông Đinh Phi Vân, nhà ở vồ Mồ Côi, núi Cấm cho biết mãi đến năm 2004 rừng núi Cấm vẫn còn thấy bóng dáng hổ. “Thỉnh thoảng đi rừng tôi vẫn bắt gặp dấu chân của “ông ba mươi” in rõ trên nền đất cứt trùng. Rừng trong khu vực của tôi còn rất hoang sơ nên có thể còn có cọp. Chó xóm tôi thường bỏ chạy cong đuôi khi ngửi được mùi “khét” đặc trưng của mấy “ổng” ”, ông Vân quả quyết.

Trên núi Cấm hiện nay có đến gần 10 hang được cho là hang hổ trước đây. Hang hổ cao nhất là trên đỉnh vồ Bò Hong, nằm bên vách núi cheo leo. Chúng tôi tìm đến hang hổ này nhưng nơi đây đã bị rào chắn lại không cho bất cứ ai vào thám hiểm. Trước đây do hiếu kỳ nhiều người đã tìm đến miệng hang nhưng vách đá cheo leo khiến có người tử nạn nên nơi đây đã trở thành khu vực cấm. Ông Đinh Thành Tươi, 78 tuổi, nhà ở động Thủy Liêm, núi Cấm, cho biết trước đây hang động này do ông Mười Thành (Trương Minh Thành, đã mất), nguyên chủ trì Phi Lai Cổ tự ở xã Núi Voi, huyện Tịnh Biên, đến ẩn tu. Sau khi ông Mười Thành bỏ hang động thì cọp đến ở. Từ đó người ta gọi là hang ông hổ hay điện ông hổ đến bây giờ.

Song, hiểm trở và kỳ bí nhất là hang hổ ở vồ Đá Dựng. Nằm bên vách đá dựng đứng, chúng tôi hết sức khó khăn, vất vả mới vào được trong hang. Hang đá không sâu lắm, chỉ độ chừng 7m, các gờ thành, miệng hang đá bóng loáng và trơn lùi như có vật gì đó cọ xát hằng ngày. Ngay trong hang và quanh quẩn khu vực hang này chúng tôi ngửi thấy có cái mùi “khen khét”. Quan sát xung quanh không thấy có ai đốt lá cây rừng hay đóng tàn un nào cháy dở nhưng mùi khét vẫn cứ luẩn quẩn đâu đó. Nhiều người bảo ở hang đá dựng này “ông ba mươi” vẫn còn trú ngụ nhưng thường lánh mặt con người vào ban ngày, chỉ đêm tìm về ngủ.

Theo nhiều người cho biết, ở vồ Thiên Tuế còn có đến 3 hang hổ, trong đó một hang nằm dưới bờ vực sâu là hang bạch hổ, một hang ở ngay nhà lão đạo sĩ Ba Lưới và hang còn lại ở điện Bát Tiên. Khu vườn phía sau nhà lão đạo sĩ Ba Lưới còn y vẻ nguyên sơ với rất nhiều hang đá trông vô cùng kỳ bí. Chỉ cho chúng tôi cái hang hổ ngay dưới gốc một cây cổ thụ, ông Ba Lưới nói nơi đây xưa kia có rất đông cọp beo tụ họp. Còn hang hổ ở điện Bát Tiên chỉ sâu khoảng 3m. Chúng tôi phải đưa chân vào miệng hang rồi từ từ tuột xuống. Song, bên trong bụng hang rộng đến cỡ 2m, cao vừa vặn đầu người ngồi. Nếu nhìn từ bên trong hang ra ngoài, trần hang có dốc nghiêng giống như một mái nhà.

Phía đông bắc vồ Thiên Tuế có rất nhiều phiến đá dựng cheo leo. Từ đỉnh vách đá này đến triền dốc nơi có hang bạch hổ cao đến hàng chục mét. Vậy mà, theo các bậc cao niên trên núi Cấm nói rằng nơi đó là đại bản doanh của chúa sơn lâm ngày trước. Mỗi cú nhảy của chúa sơn lâm đã lên đến đỉnh dốc đá dễ dàng. Ngày nay, do có nhiều khách hành hương đến tham quan, cúng viếng hang bạch hổ nên đã được xây dựng các bậc thang dẫn từ đầu dốc cao xuống miệng hang. Chúng tôi chui vào tận hang sâu tăm tối trong cảm giác lo sợ lẫn tò mò. Để khám phá bên trong, mỗi người chúng tôi phải cầm theo một cây nến. Ngay trước miệng hang có tượng của bạch hổ bệ vệ ngồi trấn ải. Miệng hang nhẵn bóng, vừa vặn cho một người chui lọt. Hang sâu độ hơn 6m, hai bên thành đá cũng nhẵn bóng. Bên trong hang khá rộng, càng vào sâu càng lớn ra và dù tối om nhưng không ngột ngạt. Cuối đáy hang là một “gian phòng” rộng có phiến đá dài. “Đó là giường ngủ của bạch hổ”, người dẫn đường cho biết.

Thanh Quốc - Chí Nhân

Những hang động Thất Sơn huyền bí: Điện Mười Ba, hang Công Đức




Mỗi người khi qua được cửa “mẹ đẻ” đều gõ vào chuông đá ở tầng điện thứ 13

Điện Mười Ba còn được gọi là điện Mẹ và hang Công Đức ở núi Cấm là hai hang động được nhiều khách hành hương, du lịch tìm đến.
Điện Mười Ba nằm chếch về hướng đông bắc của núi Cấm. Vì có tất cả 13 tầng, mỗi tầng đều có cửa thông suốt với nhau và một nơi để cho du khách có thể thắp hương cầu nguyện khi đi qua nên hang động này gọi là điện Mười Ba.

Vào cửa “mẹ đẻ”

Từ đỉnh núi, nơi đánh dấu khu vực điện, để đi xuống được đến cửa vào hang phải băng qua những bậc thang thẳng đứng, gập ghềnh và nhiều mỏm đá cao, cheo leo. Nhìn từ bên ngoài, điện Mười Ba trông bình thường như bao hang đá khác, nhưng khi đặt chân vào bên trong mới biết được sự huyền bí và cảm nhận được điều kỳ diệu của các tầng điện. Mặc dù chỉ có một lối đi lớn thông suốt trong 13 tầng điện, thế nhưng nếu không có người dân địa phương dẫn đường, khách lạ rất dễ bị lạc trong mê cung đá mà không cách nào tìm được lối ra. Vì thế, không phải bất cứ ai cũng có đủ can đảm chinh phục hang động huyền bí này.

Chúng tôi lần theo vách đá xuống cửa hang với những cây nến cháy sáng trên tay. Vừa bước vào cửa hang thì cả không gian tối om bao phủ, không còn nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Đi được một đoạn, đến quãng trống khá rộng rãi trong hang, nơi có đặt chiếc lư hương còn nghi ngút khói, Hưng, người dẫn đường nói đã chinh phục được cửa đầu tiên. “Phía sau chiếc lư hương là cửa thông qua tầng điện thứ 2 và càng về sau cửa sẽ càng nhỏ hẹp lại. Đặc biệt ở cửa thứ 12 qua cửa 13 rất nhỏ hẹp, nhìn thấy ai cũng sợ mình chui qua không lọt. Tuy nhiên, phải biết cách, thò đầu qua trước rồi luồn lách thân mình thì dù người mập hay ốm đều qua cửa dễ dàng”, Hưng quả quyết.

Cũng theo lời Hưng thì qua được cửa này là đã chinh phục được cửa... “mẹ đẻ”, coi như kết thúc hành trình. Đặc biệt hơn, trước cửa ra của tầng điện thứ 13 có một mỏm đá được gọi là “chuông đá”. Mỗi người khi qua được cửa “mẹ đẻ” đều nhặt lấy một cục đá trong hang gõ vào chuông đá. Kỳ lạ thay, phiến đá phát ra những âm vang rất thanh nhã và trầm ấm như tiếng chuông khiến lòng người thanh thản.

“Đo” công đức

Khách hành hương lên núi Cấm thường truyền tai nhau rằng sau khi đi khắp năm non, cúng viếng tất cả chùa chiền thì phải ghé lại hang Công Đức. Sở dĩ tên gọi của hang như thế vì có giai thoại rằng dưới hang kia là một cán cân bằng đá, có khả năng đo được công đức của con người.


Trong lòng điện Mười Ba

Ngày nay, hang Công Đức chỉ là một hang nhỏ nằm trong điện Ông Thẻ, trong quần thể hang Bác Vật Lang. Một ông lão làm trong một Hội Chữ thập đỏ chuyên đi rừng hái thuốc, kể với chúng tôi ông đã từng chứng kiến điều kỳ diệu ở hang Công Đức. Theo lời kể của ông lão này, một người phụ nữ cao lớn bước xuống hang thì cả người đều bị khuất sâu dưới hang, chỉ ló từ cằm đến đầu, nghĩa là có nhiều công đức. Rồi một bé gái bước xuống hang thình lình chiếc cân đẩy cả người em lên cao khỏi miệng hang, là vì còn nhỏ nên chưa có bao nhiêu công đức. Nhiều người khẳng định hang này là thước đo công đức của con người. Từ những câu chuyện truyền miệng như thế, hang Công Đức lại được rất nhiều người vô tình hay cố ý đồn thổi, thêu dệt bao điều huyền hoặc.
Để khám phá thực hư hang Công Đức, chúng tôi đã chui vào điện Ông Thẻ với lối đi vô cùng chật hẹp. Người đi phải lách, bò, trườn qua những kẽ đá, thạch nhũ vừa vặn thân mình. Điện Ông Thẻ là một hang đá tự nhiên. Đến nơi đặt chiếc lư hương để viếng Ông Thẻ nhìn sang bên trái có một khoảng rộng nhưng tối om, nơi đó là hang Công Đức. Hang này nhỏ và cạn, chỉ là một hang suôn đứng, vừa vặn một thân hình người. Bên cạnh đó, có một khoảng trống vừa chỗ cho một người ngồi đợi đến lượt xuống hang.

Anh Kiếm, một thổ địa ở Thiên Cấm sơn, rành rẽ mọi ngõ ngách hang động trên ngọn núi này và là người dẫn đường cho chúng tôi. Anh Kiếm cho rằng hang này chẳng có gì huyền bí mà chủ yếu do sự tín ngưỡng, niềm tin của mỗi người rồi về truyền miệng nhau mà thôi. Khi chúng tôi bước chân xuống, ánh sáng duy nhất là cây nến nhỏ le lói chỉ soi thấy mặt người ở cự ly gần. Miệng hang chật hẹp, thân hình gầy nhom nhưng để chân xuống đụng đáy hang cũng không phải dễ dàng. Khi chân chạm gờ đất dưới cùng trong hang thì miệng hang tới ngang vai.

“Độ sâu của hang là cố định nhưng những người mê tín dị đoan vào đây đo công đức thì cho ra nhiều kết quả khác nhau. Muốn người khác nghĩ mình công đức nhiều thì người trong hang khuỵu chân xuống để miệng hang đến gần mũi, gần đầu. Họ chỉ tự gạt mình chứ hang đá làm gì có thước nào mà đo công đức”, anh Kiếm nói.

Thanh Quốc - Chí Nhân

Thứ Tư, 29 tháng 9, 2010

Những kẻ hoang tưởng tri thức

(Tin tuc 24h) - Phần lớn những người có ý đồ khuếch trương “khả năng xuất chúng” là để trục lợi… Tuy nhiên, cũng có không ít những người có trình độ hẳn hoi, song lại rơi vào tình trạng hoang tưởng rất hài hước.

Tuyên bố dùng năng lượng cơ thể đẩy đuổi nhưng cơn mưa khỏi Hà Nội của ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh được coi là quá hoang đường. Tuy nhiên, so với một số “siêu nhân” khác, thì tuyên bố của ông Tuấn Anh còn khiêm tốn chán. Có “siêu nhân” ở nước ta còn tuyên bố đẩy được bão cấp 15, 16 ra khỏi biển Đông. Siêu đẳng hơn nữa là “siêu nhân” dùng năng lượng cơ thể lọc nước Hồ Tây. Vĩ đại hơn cả là siêu nhân xuất hồn lên… sao Hỏa!

Dùng năng lượng công phá bão

Cách đây 3 năm, đúng vào ngày mà các phương tiện truyền thông liên tục đưa tin về siêu bão ở Thái Bình Dương sắp tràn qua Philippines vào Việt Nam, thì ông Vũ Thế Khanh mời tôi đến hiệp hội UIA ở số 1, phố Đông Tác (Kim Liên) để tham dự một cuộc khảo nghiệm rất… đặc biệt. Nhân vật trong cuộc khảo nghiệm đó là ông Đinh Văn nghị, 60 tuổi, quê ở thị trấn Xuân Mai (Hà Nội). Đó là người đàn ông có dáng dấp đạo mạo, trán cao, tóc bạc. Ông Nghị từng là một cán bộ đã về hưu. Có tri thức hẳn hoi. Ông từng tham gia một lớp học cảm xạ và có tham gia một số việc liên quan đến phong thủy, chữa bệnh.

Trước mắt đông đảo các nhà khoa học, ông Nghị tuyên bố, ông đã ứng dụng sức mạnh của mình vào việc đẩy đuổi các cơn bão ra khỏi biển Đông, tránh cho nước ta không biết bao nhiêu là thiệt hại, có thể tính bằng cả tỉ đô la. Ông Nghị đưa ra các bằng chứng cụ thể từng năm: Chẳng hạn như năm X, có 14 cơn bão tràn qua Philippines vào biển đông, nhưng ông đẩy được 13 cơn bão. Năm Y có 12 cơn bão, thì ông đuổi được 11 cơn, và năm Z có 9 cơn bão thì ông đấy được 7 cơn bão… Ông Nghị yêu cầu các nhà khoa học cho làm cuộc khảo nghiệm ngay với cơn bão đang chuẩn bị vào biển Đông nước ta.

Sau khi ông Nghị rời khỏi bục phát biểu, ông Vũ Thế Khanh phát biểu: “Nếu một người khoe đã tốt nghiệp đại học, thì ít nhất ông ta phải thuộc bảng cửu chương, còn nếu ông ta không thuộc bảng cửu chương thì đừng nên khoe đã bảo vệ tiến sĩ. Vận dụng cụ thể vào cuộc khảo nghiệm này, ông Nghị sẽ dùng khả năng để làm việc nhỏ trước khi áp dụng cho cơn bão ngoài Thái Bình Dương …”

Phát biểu xong, ông Khanh hỏi ông Nghị: “Bác có biết năng lượng cơn bão mạnh thế nào không?”, ông Nghị trả lời: “Rất mạnh, bằng cả ngàn quả bom nguyên tử. Tuy nhiên năng lượng của tôi lấy từ vũ trụ nên còn mạnh hơn cả bão”. Ông Khanh hỏi tiếp: “Vậy sức gió của cơn bão so với cái quạt điện thế nào?”. “Bằng tỉ tỉ cái quạt điện”. Khi nghe ông Nghị nói vậy, ông Khanh tuyên bố: “Vậy chưa cần làm thử nghiệm với cơn bão. Nếu bác Nghị làm được việc nhỏ bằng một phần tỉ tỉ việc dịch chuyển cơn bão cũng đủ làm tôi nhận bác làm sư phụ”. Nói rồi, ông Khanh bê chiếc quạt có 5 số đặt ở góc nhà rồi bật số 5. Ông yêu cầu: “Bác chỉ cần chuyển sức gió của quạt từ số 5 xuống số 4 hoặc số 3 cho đỡ tốn sức, hoặc lái gió của quạt sang một bên là cuộc thí nghiệm thành công”. Mọi người cùng vỗ tay tán đồng vì cuộc khảo nghiệm khá đơn giản mà rất thông minh của ông Khanh. Ông Nghị cũng không thể nghĩ ra lí do gì để từ chối cuộc khảo nghiệm này.

Ông Nghị ngồi xuống nền nhà, mắt nhắm nghiền để hấp thụ năng lượng vũ trụ qua các luân xa. Khi thấy năng lượng trong cơ thể đã hòm hòm, ông vận công phóng vào chiếc quạt. Chả biết năng lượng của ông dồi dào thế nào mà ông phóng vã cả mồ hôi mà cái quạt vẫn quay vù vù, thổi bay cả tóc với tà áo của ông. Sau khi phóng hết năng lượng, người ngợm mệt nhoài, ông Nghị đành thú nhận: “Tôi tưởng không ai có thể sáng chế nổi chiếc máy đo năng lượng của tôi, vậy mà chỉ bằng thí nghiệm rất đơn giản của ông, nhưng để lại cho tôi quan điểm phải nhìn nhận lại vấn đề”. Sau vụ đó, không thấy ông Nghị có tuyên bố động trời nào nữa.

Dùng năng lượng khử sạch nước Hồ Tây

Mới đây, Liên hiệp UIA lại đón tiếp ông Nguyễn Văn Thanh ở Hà Nội. Ông này cũng là học viên của một lớp cảm xạ, thích đọc sách thần bí, viễn tưởng. Ông ta đưa ra một tuyên bố động trời, đó là dùng năng lượng cơ thể làm sạch nước Hồ Tây, khiến mùi hôi tanh, ô nhiễm biến mất. Thời điểm đó, nước Hồ Tây ô nhiễm khá nặng, cá chết nổi đầy hồ. Đã có dự án đưa ra như nạo vét Hồ Tây, thay nước cho Hồ Tây… Các dự án đưa ra đều tốn kém nhiều USD. Tuyên bố của ông Thanh đưa ra thật đúng lúc, hợp hoàn cảnh. Với nhiệm vụ tìm kiếm những người có khả năng đặc biệt để phục vụ đất nước, nên ông Khanh không thể từ chối cuộc khảo nghiệm này.

Khi bắt đầu cuộc khảo nghiệm, ông Khanh chỉ ôn tồn nói: “Theo bác, chén nước so với Hồ Tây thì thế nào?”. Ông Thanh trả lời hồn nhiên: “Là một trời một vực, làm sao so ao tù với đại dương được”.

Chỉ chờ ông Thanh nói vậy, TS Vũ Thế Khanh liền mang ra 3 chén nước tinh khiết. Ông vắt 1 quả chanh cho vào chén thứ nhất, nhỏ vài giọt dầu gió vào chén thứ hai, còn chén thứ 3 ông để nguyên nước trắng. Ông yêu cầu “siêu nhân” Nguyễn Văn Thanh dùng năng lượng khử mùi chén có dầu gió đang bốc mùi ngào ngạt và khử màu đục của chén nước bị vắt quả chanh. Khi nào hai chén nước trong suốt và không có mùi như chén thứ 3 thì sẽ làm khảo nghiệm tiếp.

Ông Thanh đã dùng con lắc để phóng năng lượng cảm xạ suốt 3 giờ đồng hồ mà chẳng ăn thua. Chén nước chanh vẫn đục, chén nước dầu gió vẫn bốc mùi. Vậy là, cuộc khảo nghiệm thành công, còn khả năng của “siêu nhân” Nguyễn Văn Thanh thì thất bại. Từ đó, không thấy ông này tuyên ngôn gì nữa.



"Siêu nhân đi mây về gió"

Ngoài những “siêu nhân” hô mưa, đuổi bão, khử ô nhiễm môi trường, truyền năng lượng chữa bệnh (số “siêu nhân” tuyên bố có khả năng truyền năng lượng chữa bệnh nhiều vô số kể), còn có “siêu nhân” tuyên bố có khả năng “đi mây về gió”, chả khác gì Tôn Ngộ Không.

Siêu nhân có khả năng “xuất hồn” kiểu như Tôn Ngộ Không trong Tây Du Kí là ông Trần Quang Bình, 70 tuổi, ở Hà Nội. Ông này khẳng định với TS. Vũ Thế Khanh là thường xuyên “xuất hồn” sang tận tháp Eiffel ở Thủ đô Pari của Pháp. Đôi khi, ông còn hứng chí đưa hồn lên tận Mặt Trăng, sao Hỏa! Nếu cần thiết ông cũng có thể xuất hồn về quá khứ hàng ngàn năm, hoặc xuất hồn xuống thế giới âm phủ xem ma qủy sống thế nào. Ông Khanh trộm nghĩ, nếu ông Bình có khả năng này thì đất nước ta có phúc. Chả cần ông Bình phải xuất hồn lên Mặt trăng, sao Hỏa, chỉ cần ông ta xuất hồn đến các tập đoàn, các cơ sở khoa học để “mượn” chút tri thức nhân loại thì nước ta tốt biết mấy. Nếu không có khả năng ấy thì xuất hồn ra biển cứu ngư dân mùa bão, hoặc xuất hồn đi tìm mấy tên tội phạm, xâm nhập vào hang ổ tội phạm phục vụ công an cũng là điều tốt đẹp, lớn lao rồi.

Ông Khanh yêu cầu ông Bình xuất hồn sang tháp Eiffel, thì thấy ông ta “xuất” đi một lúc, khi quay về, tả ngôi tháp khá tận tường. Rồi ông ta tiếp tục xuất hồn về chùa Đậu mấy trăm năm về trước, sau đó tả vanh vách: “Tôi nhìn thấy thiền sư Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh ngồi thiền trên giàn hỏa. Các đệ tử ngồi dưới sân. Hơi nóng và khói từ từ bốc lên. Một tuần sau cơ thể từ từ khô đét lại và tồn tại cho đến ngày nay”. Nghe thấy ông Bình tả thế, ông Khanh đã thấy nhảm nhí và phản khoa học rồi.

Để làm khảo nghiệm, ông Khanh chuẩn bị hai chiếc camera rồi cài đặt đồng hồ hiện lên màn hình. Ông Khanh đề nghị các nhà khoa học mang một chiếc đặt trong phòng khách nhà ông Bình, một chiếc quay cuộc khảo nghiệm. Ông Khanh nói: “Tôi không yêu cầu bác xuất hồn lên sao Hỏa, chỉ cần xuất hồn về nhà bác, tính ra đường chim bay có 2 cây số, như vậy không thể nói hồn bác đi nhầm đường vào nhà khác được. Sẽ có một nhà khoa học làm việc ở nhà bác. Bác hãy xuất hồn về và kể những việc làm của họ”.

Ông Bình nhắm mắt… dẫn hồn về nhà mình và tả rành rọt mọi thứ. Nào là ông A đang đi lại, cô B ngồi uống nước, anh C đi vào nhà vệ sinh.

Cuộc khảo nghiệm xuất hồn kết thúc. Chiếc camera được mang về. Hai chiếc camera được cắm vào 2 tivi và cùng chạy lại cuốn băng. Thời gian hiện trên màn hình của hai chiếc đều trùng khớp. Màn hình ghi lại lời ông Bình tả thao thao bất tuyệt. Nhưng màn hình kia thì chỉ thấy có một ngôi nhà trống trơn. Chẳng có bóng người nào. Ông Bình thừa nhận đấy đích xác là ngôi nhà mà gia đình ông đang ở. Cuốn băng chạy chưa hết, mọi người nhìn lại không thấy bóng dáng ông Bình đâu cả. Sau này, không thấy ông Bình tuyên bố thêm điều gì với Liên hiệp UIA nữa, nhưng ông vẫn tích cực xem bói, tìm mộ, gọi hồn, xuất hồn cho thiên hạ xem.

Theo lời ông Khanh, nhưng người có tuyên bố động trời, làm được những việc phi thường hầu hết đều là những người mắc bệnh hoang tưởng. Họ có thể là tri thức, là người bình thường nhưng vì môn cảm xạ học, khai mở huyệt đạo không đúng cách nên bị “tẩu hỏa nhập ma”. Nhiều người chỉ vì đọc lắm sách thần bí, sách luyện công nhảm nhí, rồi tập luyện theo, nên bị ám thị, viễn tưởng rằng mình có năng lượng siêu phàm. Căn bệnh của những người này sẽ mỗi ngày một nặng thêm, nếu không được điều trị kịp thời, đúng cách.
24H.COM.VN (Theo Tuổi trẻ Thủ đô)

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2010

Huyền thoại ông tổ và Ngày sân khấu

Ngày 12.8 âm lịch được chọn là Ngày sân khấu Việt Nam, đó cũng chính là ngày giỗ tổ sân khấu hằng năm mà giới làm nghề phía Nam đều tổ chức trang trọng.
Ông tổ sân khấu là ai?


Cho đến bây giờ không người nào trả lời được chắc chắn câu hỏi trên.

Theo NSND Đinh Bằng Phi thì truyền thuyết được biết nhiều nhất là có một nhà vua không có con nên làm lễ cầu xin Trời Phật ban phúc. Mỗi khi làm lễ, có một người giả làm thần vừa múa hát vừa bay lên trời dâng sớ. Thế là hoàng hậu sinh hạ hai vị hoàng tử. Để tạ ơn trời, hằng năm vua đều cho diễn lại lễ ấy, có con hát đàn ca vui vẻ, có người đóng vai thần linh, và coi như một tiết mục biểu diễn trong cung.

Hai vị hoàng tử lớn lên rất mê ca hát, suốt ngày quanh quẩn bên bội đình. Một hôm, mọi người tìm mãi không thấy hai hoàng tử đâu, hóa ra họ lén vua cha vào trong buồng hát mà xem, đến nỗi quên ăn quên ngủ, rồi kiệt sức, ôm nhau chết tự lúc nào. Từ đó, nghệ sĩ thường thấy hai hoàng tử hiện về xem hát, bèn lập bàn thờ phụng, gọi là tổ. Cho nên, trong đoàn hát có một trang thờ bằng gỗ sơn đỏ, đặt hai cốt gỗ nhỏ xíu như con búp bê tượng trưng cho nhị vị hoàng tử. Mỗi khi có lớp diễn sinh con, nghệ sĩ hay đến bàn thờ thỉnh một vị ra làm hài nhi. Hoàng tử trẻ tuổi, ham vui, chắc chắn sẽ không phật lòng, mà còn thích diễn là đằng khác. Nhưng NSND Đinh Bằng Phi còn nói: "Thờ cốt gỗ trẻ con cũng có ý nghĩa hướng về khán giả trẻ, vì chính họ sẽ là người nuôi sân khấu tương lai".

Cũng có truyền thuyết nói rằng tổ sân khấu vốn xuất thân từ ăn mày, bởi nghề hát sống nhờ vào đồng tiền của khán giả gom lại, có khác chi ăn mày khán giả. Cho nên nghệ sĩ làm từ thiện ở đâu thì làm chứ không dám bố thí cho người ăn xin, vì như thế là phạm thượng với tổ.

Thật ra, sân khấu miền Nam xuất phát điểm là hát bội, nên ông tổ chỉ được thờ trong các đoàn hát bội mà thôi. Sau này, có thêm cải lương rồi kịch cũng lấy luôn ông tổ này làm tổ của mình.

"Tổ phạt", "tổ độ"...

Nghệ sĩ thờ tổ rất thành kính, luôn nhớ những điều cấm kỵ, nếu không sẽ bị “tổ phạt”. Nhưng theo NSND Đinh Bằng Phi thì những điều này vừa là "tâm linh" vừa là khoa học. Chẳng hạn, giờ hóa trang không được giỡn hớt, nói tục trước bàn thờ tổ, có nghĩa là nghệ sĩ phải yên tĩnh, tập trung cho vai diễn sắp tới, thì sẽ diễn tốt hơn. Cấm đụng tới chiêng trống, bảo đó là một bộ phận trong cơ thể ông tổ, thật ra sợ lỡ tay làm hư rồi không sửa kịp, thiếu nhạc cụ để diễn. Cấm trẻ con hoặc khán giả đem theo trái thị, sợ ông tổ nghe mùi thơm chạy theo mà bỏ nghệ sĩ, không phù hộ. Sự thật là mùi trái thị thơm nức mũi, nghệ sĩ hít vô liền bị phân tâm, quên vai mà thôi. Cấm mang guốc vông, vì gỗ cây vông đẽo thành tượng tổ mà chà đạp dưới chân ắt có tội. Thật ra, thời xưa nghệ sĩ thường đi chân đất, lúc diễn mới mang hia, hài, nếu ai đi guốc cồm cộp sẽ làm mất yên tĩnh, tập trung cho người khác.

Và những câu chuyện truyền miệng trong giới không biết có phải do tổ linh thiêng hay không... Gánh hát bội của nghệ sĩ Mười Vàng nổi tiếng, có anh kép rất giỏi nhưng hay làm bể sô của ông bầu. Lần nọ, anh cũng bỏ một sô, báo hại ông bầu Mười Vàng phải nhảy lên đóng thay. May mắn, ông là nghệ sĩ kỳ cựu nên ai bỏ vai gì ông cũng đóng được hết. Lần này ông bực quá, rầy anh kép nọ. Anh chối hoài, ông bảo anh phải thề. Anh thề: "Nếu tôi nói dối thì cho bữa hát này tổ lấy hơi tôi đi!". Lát sau, anh ra sân khấu, mới dõng dạc hát một câu tự nhiên tắt giọng liền. Anh gân cổ hát mãi cũng không được, hoảng hốt tìm cách lui vào hậu trường bảo vợ đi mua con gà tạ lỗi với tổ. NSND Đinh Bằng Phi lúc ấy đang là giảng viên của trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn, đi theo gánh hát, chứng kiến đầu đuôi sự tình. Ông cười: "Chẳng biết tổ linh hay có thể giải thích rằng do cả đêm anh ta thức đánh bài, sáng dậy mất giọng".

Còn một câu chuyện khác, có anh kép cải lương nổi tiếng một thời, cát-sê ngang ngửa với nghệ sĩ Út Trà Ôn, Thành Được, lần nọ uống rượu ngà ngà hát không nổi, liền tới trước bàn thờ tổ lè nhè: "Bộ muốn lấy giọng tui hả?". Tự nhiên sau đó vài năm anh "xuống" luôn, và giã từ sân khấu khá sớm.

Đó là những chuyện "tổ phạt". Còn chuyện "tổ độ" cũng không thiếu. Có nhiều đào kép ngoài đời không đẹp lắm nhưng lên sân khấu lại sáng trưng và duyên dáng lạ kỳ. Chẳng hạn NSƯT Ngọc Giàu từng nói thẳng là mình nhỏ con không sánh nổi nhan sắc cỡ Thanh Nga, Phượng Liên, nhưng tổ thương nên nghề nghiệp vẫn thành công. Mỗi khi chị lên sân khấu, khán giả chỉ thấy cái đẹp của nhân vật, và cho tới bây giờ vẫn yêu mến chị cuồng nhiệt. Cô đào trẻ Tú Sương cũng hơi yếu về sắc vóc, nhưng trên sàn diễn lại là ngôi sao cải lương. Có lẽ "tổ độ" vì cô làm nghề nghiêm túc, vượt mọi khó khăn để sống chết với nghề. Vai nào Tú Sương đóng cũng thấy sự tập luyện kỹ lưỡng, khán giả không yêu sao được.

Bên cạnh những vị tổ truyền thuyết ấy còn có những vị tổ rất cụ thể mà giới làm nghề gọi là hậu tổ. Đó là những vị tổ sư của các ngành nghề có liên quan đến vai diễn của nghệ sĩ, gọi là thập nhị công nghệ. Thí dụ: nghề may, nghề mộc, đi buôn, thợ rèn, y dược... Mỗi vai diễn, nghệ sĩ phải lấy thực tế từ người thật nghề thật rồi mới cách điệu lên, nên tri ân nghề đó. Hậu tổ còn bao gồm cả những nghệ sĩ lão thành có công với sân khấu, hoặc những nhân tài xuất chúng, như ông Trương Duy Toản, ông Năm Tú, ông Cao Văn Lầu, NSND Năm Châu, Ba Vân, Trần Hữu Trang, Phùng Há, Năm Phỉ, Tư Đồ...
(TNO)

Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2010

Nghệ thuật điêu khắc lá trên cây

Không thể tin được là những chiếc lá cũng có thể trở thành cảm hứng để các nghệ sĩ sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp.


Các nghệ nhân của Hội Nghệ thuật chạm khắc trên lá cây ở California, Mỹ phải thực hiện một quá trình rất công phu, tỉ mỉ với 60 công đoạn mới có thể tạo nên những kiệt tác nghệ thuật thu nhỏ.


Mỗi tác phẩm như thế này mất khoảng 1 tuần để hoàn thành.




Nghệ thuật chạm khắc trên lá cây bắt nguồn từ Trung Quốc và đã lan rộng ra khắp thế giới.


Dean Prator, 55 tuổi, Chủ tịch Hội Nghệ thuật chạm khắc trên lá cây ở California, cho hay mọi người đều rất nhạc nhiên khi chiêm ngưỡng các tác phẩm tuyệt vời trên lá.








Xuất sắc luôn

Thứ Ba, 13 tháng 7, 2010

Tôi gặp ma - 02



Tôi chồm dậy. Đèn néon vẫn sáng, chiếc quạt trần vẫn quay nhè nhẹ trên cao. Xung quanh yên ắng đến lạ kỳ. Tôi bần thần không biết là mơ hay thật. Nhưng có điều chân tôi vẫn còn cảm giác lành lạnh không bình thường. Tim vẫn còn đập thình thịch trong lồng ngực. Gương mặt hai người đàn ông lúc nãy vẫn còn lở vởn trong đầu. Ngay lúc này, khi kể lại câu chuyện, trước mắt tôi như vẫn hiện rõ mồn một hai khuôn mặt ấy.
Không có thờI gian suy nghĩ nữa. Tôi lập tức lấy gốI và mền kê làm toạ cụ, xoay mặt về hướng Tây Nam kết ấn Chuẩn Đề bố tự hộ thân và bắt đầu trì tụng theo phép Sư tử Hống:
“AUM – CHA – LE – CHU – LE – CHAN – DI – SVA – HA”
Trong lúc trì, tôi quán tưởng mình hiện tướng phẫn nộ (mà làm sao không “phẫn nộ” được cơ chứ! Làm thầy mà để ma giỡn mặt có đáng giận không!), tám tay tôi cầm đủ tám món binh khí :KIẾM – KÍCH – BÚA – MÓC CÂU – BÀNG BÀI – CHÀY ĐỘC CỔ - CHÀY TAM CỔ - VÒNG KIM CANG.
Tôi trì với tất cả sự tức giận, sợ hãi và xấu hổ. Đã lâu lắm rồi tôi mới có lại sự nhất tâm như thế này. Tiếng trì tụng ban đầu còn run rẩy, sau cứ to dần, to dần.Tôi cũng thấy mình cũng to dần như phiến đá trên Vồ Thiên Tuế của núi Cấm. Toàn thân tôi bốc lửa…
…Lửa cất cao ngọn, từ trong thân tôi toả ra xung quanh rồI đốt trụI tất cả - kể cả tôi.
Tôi ngồI không biết bao lâu. Nhưng khi mở mắt ra xả đàn thì ngài cửa sổ trờI đã mờ mờ sáng. Toàn thân tôi ướt đẫm mồ hôi. Cái mền kê làm toạ cụ và phần nệm giường cũng thấm mồ hôi ướt sũng.
Tôi chà nóng hai tay rồI xoa bóp toàn thân cho thông máu. Thân thể tôi lúc ấy nhẹ nhàng và sảng khoái lạ lùng. Có điều… toàn thân tôi bốc ra mùi thúi kinh khủng, Nó thum thủm nặng mùi như xác chó mèo chết sình. Lúc đầu tôi còn tưởng ngoài cửa sổ có con chuột chết nào đó. Nhưng sau khi tìm kiếm một hồI, tôi giơ tay lên ngửI thì… Oẹ! mùi thúi xộc thẳng vào mũi xông lên tớI óc làm tôi muốn ói vọt ra. Tôi vộI vàng lau khô mình rồI nhảy vào nhà tắm. Mất gần ba mươi phút kỳ cọ tắm rửa, tôi mớI thoát khỏI sự ám ảnh của mùi hương độc đáo ấy.
Thả bộ ngoài vườn hoa nhà nghỉ Thanh Đa trong buổI sáng trong lành, tôi mớI cảm nhận hết giá trị của cuộc sống. Thế này mớI là hưởng thụ đây chứ! Chợt nhớ, đã lâu lắm rồI tôi không đi dạo buổI sáng. Tôi nhớ lạI những ngày ở chùa, sáng sớm thầy tôi đã bắt thức dậy đi kinh hành quanh khuôn viên chùa. Lúc ấy là những ngày vui sướng và an lạc nhất...
Từ sư phụ, tôi nhớ đến sư bá. Lâu lắm rồI tôi không về Thủ Đức. Một cảm giác mong nhớ tự dưng trào lên mãnh liệt đến nỗI tôi muốn đằng vân trở về chùa. MỗI bước chân đi của tôi kéo theo bao nhiêu hoài niệm. Nó cứ như những đợt sóng lòng dồn dập vỗ vào tâm trí…
CuốI cùng, tôi quyết định bỏ tour Củ Chi. Sau khi nhờ được thằng bạn trong công ty dẫn tour giùm, tôi nói vài lờI giả lả khách sáo vớI mọI ngườI trong đoàn và đi ngay, bỏ cả ăn sáng.
Từ Thanh Đa đi về Thủ Đức cũng không xa lắm. Vượt qua cầu Bình Triệu rẽ phảI cặp theo con đường song song vớI tuyến đường sắt, tôi về đến chợ Thủ Đức. Con đường này lâu lắm rồI tôi chưa đi ngang. Chính xác là từ sau ngày thầy tôi mất…
Con đường vào chùa cũng không thay đổI gì mấy. vẫn là những ruộng rau muống nốI tiếp nhau, vẫn là những hàng cây xanh mát mắt. Đây rồI, cánh cổng chùa bằng gỗ cũ kỹ nằm khiêm tốn dướI tán lá bồ đề rợp mát. Cổng vẫn mở rộng như ngày sư ông tôi còn tạI thế. Không khí tĩnh lặng và vắng vẻ quá. Tôi bâng khuâng nhớ đến hai câu đốI từng đọc ở Tịnh xá Trung Tâm:
“Thiền môn rộng mở ít ngườI đến
Cửa khám then cài lắm kẻ vô”
Sợ làm ồn, tôi xuống xe ở cổng và dắt bộ vào. Băng qua sân chùa còn rơi vãi ít chiếc lá đa khô, tôi dẫn xe vào vườn. Một chú tiểu trạc mườI sáu mườI bảy tuổI đang xách nước tướI cây. Nghe tiếng động, chú quay lạI nhìn tôi chăm chú. Tôi chưa kịp hỏI, chú đã nở nụ cươi tươi nói trước:
- Sư huynh tên Dũng phảI hôn?
- Đúng rồI, sao chú biết? – Tôi ngạc nhiên hỏI lại.
Chú tiểu vẫn cườI:
- Sư phụ có dặn, nếu sư huynh đến thì lên thất gặp sư phụ.
- Thất nào? Có phảI chỗ của sư ông lúc trước hôn.
- Dạ đúng rồi. Sau khi khi sư tổ viên tịch, sư phụ dọn lên ở trên đó luôn để tiện việc nhập thất.
- Vậy sao này sư bá không chữa bệnh nữa sao?
- Dạ cũng có, nhưng sư phụ chọn ngườI dữ lắm. Có duyên ông mớI chịu chữa. Bằng không, sư phụ kiếm cớ tránh mặt hết.
- Chà, sau này ông khó khăn quá vậy ta.
- Không phải. Sư bá không muốn tạo nghiệp nữa. HồI sư tổ viên tịch, ông cũng bị hành hết ba ngày mớI hoá được. Lúc đó, các thầy ở các chùa khác đến tụng kinh cầu nguyện, sư tổ đâu có cho. Ông nói, ba chục năm tạo duyên tạo nghiệp gây ân chuốc oán vớI cõi vô hình, bây giờ bị đình trệ ba ngày có là bao. Ông chỉ biểu sư phụ làm phép giảI hết các sắc thần, sắc binh mà trước đây ông mượn để làm việc…
- HồI sư ông bị bệnh, tôi kẹt tour miền Trung về không kịp. Có nghe Minh Tịnh kể lạI nhưng không rõ lắm…
- Sư tổ bị làm mệt suốt ba ngày đêm, ai nấy lo đến rơi nước mắt mà không biết phảI làm sao. Chỉ có sư phụ kề cận trì chú trợ lực cho ông, còn mấy đứa tụI đệ chỉ niệm Phật vòng ngoài.
- Ủa, vậy ra chú đi tu mấy năm rồI à. Vậy mà tôi hổng biết chú.
- Làm sao sư huynh biết được. HồI sư thúc mất cho đến bây giờ, huynh có về chùa được mấy lấn đâu. Về thì huynh chạy lên thất sư tổ ngồI miết, sau đó chạy qua phòng sư phụ ngồI nữa, huynh có để ý đến ai đâu.
Nghe đến đây, tôi khẽ cuốI đầu xấu hổ. Chú tiểu nói đúng. Tôi tệ dần từ sau khi thầy tôi mất…
- Sau khi sư tổ viên tịch, sư phụ không muốn chữa bệnh nữa. Khi nào gặp ngườI hữu duyên có thể tạo phước sau này, sư phụ mớI ra tay thôi. ĐốI vớI ngườI khác nhờ vả, khách thường thì sư phụ bế quan, khách VIP thì sư phụ đi lánh nơi khác. Riết rồI ngườI ta nản không muốn ghé nữa.
Tôi thở dài:
- Thần thông như sư bá mà không giúp ngườI thật là uổng phí.
- Sư phụ nói, Phật độ hữu duyên nhơn. Ngày xưa, trước khi độ ngườI, đức Thế Tôn thường nhập định quán chiếu nhân duyên các đờI của ngườI ta rồI mớI bắt đầu hoá độ. biết được căn duyên mớI hoá độ được tận gốc. Bây giờ, ngườI ta tu Tâm thì ít tu Tướng thì nhiều – tu Huệ thì ít tu Phước thì nhiều – tu Thật thì ít tu Giả thì nhiều – Chân thành thì ít LợI dụng thì nhiều… trợ duyên cho những con ngườI ấy là tự chuốc thêm phiền não, khó lòng thoát khỏI sanh tử luân hồi. Thôi thì, chùa trồng gì ăn nấy, không cần nhờ vả vào những đồng tiền bất chính của những ngườI giả vờ tin Phật. Hộ Pháp sẽ không bỏ ngườI tu …
- Vậy là sau này sư bá thường nhập thất lắm hả?
- Mô Phật. Một tháng sư phụ nhập thất một tuần. Những tháng Hạ, sư phụ không đi Kiết Hạ như các thầy khác mà vô thất ngồI luôn. Còn những ngày không nhập thất, sư phụ ngồI thiền định một ngày bốn thờI Tý Ngọ Mẹo Dậu, mỗI thờI khoảng hai tiếng đồng hồ.
Chỉ có hôm nay hơi lạ. Sư phụ mớI nhập thất có hai ngày thì sáng này ông dậy dặn đệ nếu có sư huynh nào tên Dũng đến chùa thì biểu lên gặp ông…
“Như vậy sư bá biết mình đến hôm nay!” – Tôi thầm nghĩ và càng kính phục thần thông của sư bá. Giá mà tôi có được một chút của ông thôi thì… Đang nghĩ vẩn vơ, tiếng nói của chú tiểu làm tôi giật mình trở về thực tạI:
- Sư huynh lên đi, đừng để sư phụ chờ.
- Ờ há! Mãi nói chuyện mà tôi quên mất. À, mà chú pháp danh gì vậy?
- Mô Phật, sư phụ đặt pháp danh cho đệ là Minh Trí.
Thì ra, hàng đệ tử của thầy và sư bá đều đặt chung chữ Minh. Tôi cũng có pháp danh là Minh Thông, nhưng ít ai gọI đến trừ thầy tôi. Có lẽ tạI con ngườI tôi còn nặng thế tục quá chăng?
Vừa nghĩ ngợI tôi vừa leo lên thất của sư bá. Nói là thất chứ thật ra là phần sân thượng phía sau chùa. Trước đây sư ông về cảI tạo lạI, che mái và ngăn làm hai. Một nửa làm thất và một nửa làm sảnh. Ở ngoài sảnh thờ năm đạo lệnh phù Bàn Cổ bằng vảI vàng. Nét phù được vẽ bằng bút lông đạI tự chấm châu sa và son tàu đỏ thắm. Đó là nơi huynh đệ tôi thỉnh thoảng lên tu luyện theo lệnh của sư ông.
Tôi leo lên đến nơi, nhìn thấy mọI thứ vẫn như xưa. Không kịp nghĩ ngợI gì vì sư bá tôi đã ngồI đó tự lúc nào. Nhìn cái dáng gầy gầy ngồI khoan thai bên cái bàn gỗ uống trà, tôi xúc động muốn trào nước mắt. Tôi bước nhanh đến chỗ ông ngồI, quỳ sụp xuống thổn thức:
- Thưa thầy… - Chỉ có hai tiếng thôi, tôi hết biết nói gì.
Tôi quen gọI sư bá là thầy từ khi thầy tôi dọn nhà về Thủ Đức sống cạnh chùa vớI sư ông (xem “Ngũ Lão Bàn Cổ lệnh phù”).
Sư bá nhìn tôi im lặng chẳng nói năng gì. Ánh mắt ông toát lên vẻ gì đó vừa nghiêm nghị vừa từ ái. Tôi trang trọng đảnh lễ ông bốn lạy. Ông ngồI tĩnh tạI không hề tỏ thái độ nào.
Lạy xong, tôi ngẩng nhìn lên, sư bá chỉ tay vào cái ghế lớn bên cạnh bàn ra dấu tôi ngồi. Nhìn cái ghế còn lớn hơn ghế ông ngồI, tôi rụt rè từ chốI và chạy lạI phía bàn thờ lấy cái ghế đẩu nhỏ hơn đặt xuống cạnh ông.
Sư bá khẽ gật đầu, lạI chỉ tay vào tách trà còn đang bốc khói để sẵn tự lúc nào ở trên bàn. Tôi không hiểu làm sao mà sư bá biết tôi đến lúc này mà rót trà để sẵn.
- Trà nguộI bớt rồI đó, con uống đi. – Lúc này ông mớI mở miệng.
Tôi suýt rơi nước mắt. Sư bá còn nhớ rõ tính tôi không thích ăn uống những đồ quá nóng. Ông quan tâm đến tôi như vậy, còn tôi thì…
Rón tay cầm ly trà lên khẽ nhắp một tí, tôi nghe tỉnh cả người. Mang tiếng là nước trà chứ thật ra chỉ là nước gạo lức rang vàng. Mùi thơm thoang thoảng của gạo rang làm tôi nhớ lạI những ngày xưa, lúc tôi bị đau bụng. Gần một tuần lễ tôi chỉ uống nước gạo rang này cầm hơi… Sư phụ tôi thường đùa tôi: “ Uống nước này đúng một tuần là con thoát thai hoán cốt luôn đó nghe!”.
- Thưa thầy … - Tôi rụt rè toan nói thì sư bá khoát tay.
- Thầy biết hết rồi.
- Sao thầy biết được ạ? - Vừa hỏI xong tôi mớI sực nghĩ mình hỏI quá thừa. Một tia sáng loé lên trong đầu tôi. - Vậy là hồI hôm này thầy đã…
Sư bá khẽ gật đầu, hơi mỉm cườI vớI tay lấy tách trà đưa lên miệng.
Thì ra là vậy. Tiếng vỗ bàn hồI hôm là do sư bá dùng phép cứu tôi. Chả trách tạI sao bỗng dưng ma quỷ rủ nhau biến mất sau tiếng động trong đếm ấy.
- Uống trà đi! - Tiếng của sư bá vang lên cắt ngang luồng suy tư vẩn vơ của tôi. Tôi vội vàng đưa tách trà lên miệng hớp một cái cạn sạch rồi với tay đặt lại lên bàn. Sau vài giây rụt rè, tôi hắng giọng hỏi ông:
- Thưa thầy, con …
- Con thắc mắc vì sao thầy biết phải không?
- Dạ, con… - tôi cứ ấp úng không biết phải hỏi thế nào cho phải.
Khẽ hớp thêm một ngụm trà, sư bá nói:
- Hồi thầy con mất, ổng có gửi lại mấy đứa con cho thầy chăm sóc. Mấy năm qua, sư huynh Minh An của con bỏ đạo theo đời xem như hết phương trở lại, sư huynh Minh Tịnh của con thì chuyên lo tu luyện khá bền bỉ, thầy cũng không phải lo âu. Chỉ có mình con… - nhìn tôi khẽ thở dài, ông nói tiếp – con cứ lửng lửng lơ lơ, nửa đời nửa đạo. Đường thẳng không đi, cứ lạng bên này, tấp bên nọ, lúc chuyên cần hôm sớm, lúc giãy đãy biếng lười. Thầy làm sao yên tâm được.
Tôi cúi đầu không dám nhìn sư bá. Ông nói như đi từ trong bụng tôi đi ra, khiến tôi có cảm giác mình làm bất cứ điều gì cũng bị ông nhìn thấy. Nghĩ đên đây bất chợt tôi điếng hồn… nhớ lại mấy bữa trước tôi nghe lời rủ rê của thằng Huỳnh đi uống bia ôm đến quá nửa đêm !!!
Giọng sư bá vẫn cứ đều đều trầm ấm:
- Hôi hôm, chư thần mách bảo con đang bị cô hồn khuấy phá, thầy nhân dịp này muốn giúp con trở lại con đường cũ…
Tôi không kịp giữ ý tứ, vội xen ngang:
- Thầy cho con hỏi cái phép hồi hôm là phép gì vậy thầy?
- Cái thằng… cái thói học nghề vẫn không bỏ, gặp đúng hệ là sấn tới – sư bá tôi cười nhẹ - thầy dùng câu :“Ki yắc bút ta tu - giắc thắc ki yắc. “
- Ủa, cái câu này dùng để hộ thân tránh người khuất mặt phá phách khi đến những nơi có nhiều âm khí mà thầy?
- Vậy hồi hôm phá con là người gì – sư bá lại vừa cười vừa lắc đầu.
- Nhưng mà…
- Nhưng cái gì? Học không đến nơi đến chốn còn cãi lại. Chỉ một câu chú, cách sử dụng cũng nhiều cái diệu dụng khác nhau. Cái này, khi đọc phải vỗ bàn…
Sư bá mất gần hai mươi phút để ôn lại các bài kinh Nam Tông và giảng lại những chỗ diệu dụng trong lúc sử dụng các câu kinh ấy.
- Mấy câu kinh này anh em tụi con đọc suốt, vậy mà đến bây giờ mới hiểu.
- Chỉ có con bây giờ mới hiểu thôi, Minh Tịnh nó hiểu và sử dụng từ lâu rồi. Cứ lo chuyện đời nhiều vô, có ngày con quên sạch hết những gì mọi người dạy con. Hừ! Chỉ có vài vong linh lưu lạc mà con còn không tự cứu mình được… vậy mà thuở xưa còn xách gói đi chữa tà…
Biết sư bá không giận, nhưng tôi vẫn cúi gằm đầu xuống vì xấu hổ.
- Việc con về chùa hôm nay cũng đủ chứng tỏ con còn chút cơ duyên. Đã đến thì phải ở lại đây ăn cơm, chiều rồi hẵng về. Thôi, con ra sau giếng tắm cho sạch rồi lên chánh điện cúng ngọ với Minh Trí. Nói Minh Trí đưa tạm cái áo của thầy để mặc…
Ngày hôm đó, tôi chìm trong không gian tĩnh mịch của ngôi chùa, những sợ hãi, lo âu, toan tính dường như đã chạy hết ra ngoài cổng…
Cho đến giờ, tôi vẫn thầm cảm ơn mấy con ma vì nhờ nó, tôi mới có cơ hội trở về với ngày xưa…
(Bắt đầu viết -17/12/2007 - Viết xong ngày 1/4/2009)

Tôi gặp ma - 01

Trong khi chờ mấy câu chuyện kể còn dang dở, mấy anh em đọc đỡ lại chuyện cũ tui cóp vô blog này nghen!

TÔI GẶP MA
Khu cư xá Thanh Đa nằm trên bán đảo Thanh Đa ven dòng sông Sài gòn thơ mộng. Nhắc đến Thanh Đa, ai cũng nghĩ đến món cháo vịt nổi tiếng và những dãy quán cà phê ven sông. Thanh Đa đi vào kí ức của mọi người không chỉ bởi đặc sản cháo vịt, bánh tráng Trảng Bàng hay… những đĩa phim quay lén về cà phê Thanh Đa. Nhắc đến địa danh này, nhiều người vẫn còn rì rầm kể cho nhau nghe những câu chuyện… ma bất thành văn bản… Thắm thoắt đã ba năm trôi qua kể từ ngày sư ông và sư phụ lần lượt qui thiên, tôi ít khi về Thủ Đức thăm chùa. Nhiều lần tôi tự nhắc mình phải về chùa thường xuyên hơn. Dù gì đi chăng nữa, nơi đó vẫn còn di cốt của hai người, vẫn còn có sư bá để mình thăm hỏi. Nhưng, mỗi lần nghĩ đến ông đại sư huynh của thầy là y như rằng tôi rùng mình ớn lạnh. Cái ông già khó đăm đăm, mặt ổng lúc nào cũng quạu đeo, hầm hầm như người bị mất của mà không tìm ra kẻ trộm (mô Phật). Đặc biệt là đôi mắt, ông nhìn ai là cứ như soi đến tim gan phèo phổi của người ta. Trong các hàng huynh đệ, không ai dám nhìn lâu vô mắt ổng hết trơn. Nghe nói, ngày xưa ông bế quan luyện Thần Long nhãn suốt 108 ngày. Đến khi xuất quan, người ốm tong teo còn hai con mắt cứ như điện. Ai nhìn thấy cũng sợ.
Không biết thật giả thế nào, riêng tôi đã có lần chứng kiến sư bá nhiếp phục con tà bằng ánh mắt rồi. Hôm đó, từ Biên Hoà có một nhóm người chở theo một phụ nữ ngoài ba mươi tuổi. Nhìn chị ta có vẻ như người bình thường nhưng không hiểu sao lại bị trói thúc ké như tội phạm. Thấy ai nấy ngạc nhiên, người nhà vội giải thích:
- Mấy thầy hổng biết đó thôi. Nó tinh ma quỷ quái ghê gớm. Hồi nãy muốn trói được nó tụi tôi phải nhờ đến sáu người đàn ông khoẻ mạnh áp vật xuống mới thắng đó. Chứ sơ sơ hai ba người xáp lại, nó hất một cái ngã chỏng cẳng luôn.
- Sao tôi thấy nó tỉnh queo mà? – Tôi vọt miệng nói, không kịp nhìn thấy ánh mắt răn đe của thầy.
- Tụi tôi cũng hổng biết nữa. Vừa tới đầu đường vô chùa, tự nhiên nó tỉnh queo như chưa hề bệnh hoạn gì hết.
Người đàn bà bổng nhiên khóc nức nở:
- Mấy thầy ơi, cứu giùm con. Khi không mấy ông này áp trói con lại, rồi đánh đập con. Họ nói con là tà ma quỷ quái. Họ đánh con như vầy nè…
Vừa nói, người đàn bà cúi xuống dùng vai phải hất mái tóc rủ loà xoà trước trán lên. Phía trên thái dương cô ta còn một vết bầm rướm máu. Ai nấy xuýt xoa thương cảm. Thấy vậy, người đàn ông lớn tuổi nhất vội phân trần:
- Tụi tôi có làm gì đâu. Nó vu oan giá hoạ đó. Lúc nãy mọi người áp trói nó, nó hất một cái hai người văng ra rồi chạy lao đầu vào cột nhà. Nếu tui không ôm nó lại kịp, chắc bây giờ đã tẩn liệm xong luôn rồi!
Mọi người con đang nói chuyện thì sư bá tôi bước ra. Đang khóc lóc kể lể, người đàn bà ngó thấy sư bá liền nín bặt. Trông vẻ mặt cô ta có vẻ hoảng hốt. Sư bá tỉnh như không, chẳng thèm ngó ngàng gì đến bà ta, từ tốn bước lại bàn ngồi và thong thả rót trà uống. Ai nấy im bặt nhìn sư bá như chờ đợi. Bầu không khí trong chùa bỗng chùng xuống nặng nề…
Uống xong hớp trà, bất chợt ông ngước mắt lên nhìn người phụ nữ…
Cái nhìn của sư bá cũng bình thường thôi, không trừng không trợn nhưng sao tôi cảm thấy từ trong ánh mắt ấy toát ra một uy lực lạ lùng. Bất giác, tôi lùi lại một bước. Nhìn qua mấy sư huynh đồng môn, họ cũng đã lùi trước từ lúc nào. Chỉ có mình thầy tôi ung dung ngồi đó uống nước với sư bá.
Người phụ nữ bỗng thay đổi thái độ. Trông cô ta có vẻ sợ hãi. Đôi mắt cô láo liêng nhìn qua lại như muốn tìm chỗ thoát. Đoạn, cô cười gượng gạo:
- Ơ hay, cái ông thầy này nhìn tui ghê quá hả!
Sư bá vẫn không trả lời, mắt vẫn nhìn cô ta đăm đăm. Không khí lắng xuống đến nặng nề. Tôi cảm thấy ngực mình như có một hòn đá lớn đang đè xuống. Chợt, sư bá cất tiếng:
- Cởi trói cho nó.
- Dạ, nhưng mà thầy… - người đàn ông lớn tuổi toan nói gì đó nhưng nhìn thấy ánh mắt sư bá liền cun cút làm theo không dám nói thêm lời nào.
Những tưởng người phụ nữ sau khi được cởi trói sẽ vùng chạy. Nhưng không, cô ta vẫn đứng đó ngơ ngác. Nhìn khuôn mặt cô ta lúc đó thật đáng sợ, vừa sợ hãi thê lương vừa căm hờn phẫn uất. Cô ta cứ ngó dáo dác mà chân không hề di chuyển. Sư bá vẫn cứ im lặng ngồi nhìn… Ngay lúc đó, người đàn bà cất tiếng cười lớn ghê rợn:
- Ha ha… thằng thầy chùa này mê tao rồi. Tụi bay thấy không, nó nhìn tao say đắm đấy nhé. Này, nhìn hả, nhìn đi, tao cho mày nhìn.
Vừa nói cô ta vừa ưỡn ẹo thân thể ra vẻ khêu gợi. Tôi thấy người nhà đi theo có vẻ lúng túng.
Sư bá vẫn ngồi im, ngó cô ta đăm đăm. Đôi mắt của ông trong trẻo một cách lạ kỳ.
Về phần người phụ nữ, càng ưỡn ẹo cô ta càng có vẻ bứt rứt như phát cuồng. Chợt cô ta gào lên:
- MÀY CÒN NHÌN HẢ, NHÌN CHƯA ĐÃ HẢ? MUỐN NHÌN THÊM KHÔNG, TAO CHO MÀY NHÌN MÃN NHÃN LUÔN.
Trong lúc đang nói, cô ta lao nhanh về phía sư bá. Mọi người hốt hoảng, tôi thoáng thấy sư huynh Minh Tịnh co tay thành Lôi ấn. Chắc huynh ấy định sử dụng Ngũ lôi phù.
Nhưng, ngoài dự đoán của mọi người. Sư bá vẫn điềm nhiên ngồi nhìn, thầy tôi ngồi kế bên cũng ung dung không kém. Dường như thái độ hùng hổ của người đàn bà ấy không tác động gì đến hệ thần kinh của hai người.
Điều bất ngờ nhất đã xảy ra. Người đàn bà đang lao đến chỗ sư bá đã đứng sững lại như va phải một bức tường vô hình, cô ta loay hoay mãi không thể nào tiến thêm một bước. Tức khí, cô ta cất tiếng chửi:
- Mẹ mày… đồ thầy chùa lửa, đồ dê gái! Dê không được nên ngắm nhìn cho đỡ ghiền hả? Muốn nhìn phải không, tao cho mày nhìn tới luôn.
Nói xong, cô ta đưa tay giật tung hàng nút áo ngực lộ cả áo trong ra. Đám đệ tử tui tôi quay mặt chỗ khác. Người nhà cô ta xấu hổ chạy lại định gài nút áo, cô quay lại hất một cái người nhà té lăn cù như quả banh. Đến lúc này tôi mới thấy sức mạnh kinh hồn của cô ta.
Sư bá vẫn ngồi điềm nhiên nhìn. Nhưng khuôn mặt ông có vẻ nghiêm hơn. mắt ông trở nên sáng long lanh. Người đàn bà cứ đi qua lại trước mặt ông ở khoảng cách hai mét. Cô ta vừa nắm hai vạt áo mở ra khép vào vừa hẩy bụng và ngực về phía sư bá. Nhưng càng làm dữ cô ta càng tỏ vẻ bứt rứt như có cái gì đang thiêu đốt trong người vậy.
Bất ngờ, người đàn bà quỳ thụp xuống gào khóc:
- Thả tao ra, thả tao ra đi. Tao cầu xin mày mà. Làm ơn cho tao đi đi mà…
Sư bá vẫn nhìn lặng lẽ.
Cái nhìn của ông bén ngót như lưỡi dao sắc lạnh xuyên vào da thịt người ta. Tiếng la của người bệnh vang lên bài hãi nghe xé màng nhỉ:
- Trời ơi đừng nhìn nữa! Tha tôi đi, làm ơn tha tôi đi.
Cô ta oằn oại trên sàn như con rắn bị đập đầu, rồi chồm dậy đập đầu xuống đất nghe binh binh. Eo ôi! Cái kiểu này chắc bể đầu chứ không giỡn đâu. Tôi thầm lo trong bụng.
Hai vị tiền bối vẫn ngồi im không nói. Tôi thoáng thấy sư phụ tôi mỉm cười. Dường như ông đã đoán trước được kết quả rồi.
Quả thật như vậy. Người phụ nữ sau vài phút dập đầu đã ngẩng lên, tóc tai rũ rượi, nước mắt ràn rụa. Cô ta lết lại gần sư bá tôi chắp tay van lạy:
- Thầy ơi, thầy tha cho con lần này. Con cầu xin thầy. Xin đừng đốt con nữa tội nghiệp con thầy ơi…
Sư bá quay sang thầy tôi:
- Ông rót giùm tui ly nước cho nó uống đi.
Thầy tôi lặng lẽ làm theo.
Đón nhận ly nước từ tay thầy tôi, người bệnh uống một cách miễn cưỡng.
- Ngồi xuống đó – Sư bá ra lệnh, người phụ nữ làm riu ríu.
- Ngươi có ân oán gì với cô gái này mà đi theo ám người ta vậy hả?
- Dạ, thưa thầy – thái độ cô ta có vẻ bình tĩnh lại – con là Đặng Duy Nam, vốn là chồng sắp cưới của Như (*tên cô gái). Ba năm trước, lúc tụi con chuẩn bị làm đám cưới thì con bị tai nạn giao thông mà chết. Như đã không nghĩ đến tình cảm của con mà còn bắt bồ với thằng khác. Bây giờ tụi nó sắp cưới nhau. Làm sao con tha thứ cho được.
Sư bá tôi tỏ thái độ nghe chăm chú. Đoạn, ông khẽ cúi đầu thở dài:
- Nhân quả nghiệp báo. Biết bao giờ mới dứt đây.
Ngước mắt nhìn người phụ nữ giờ đây đang ngồi xếp bằng tròn thổ thức dưới đất, ông hỏi:
- Ngươi có biết là vài hôm nữa Quỷ Vô thường đến bắt ngươi về không?
- Dạ … biết…
Sư bá nạt ngang:
- Đã biết sao còn sanh chuyện cho thêm tội hả?
Cô gái cúi đầu tránh ánh mắt nghiêm khắc của ông, lí nhí trả lời:
- Thầy ơi, con không cam lòng… con yêu Như mà thầy…
- Vậy là người định bắt cô gái này theo người chứ gì?
- Dạ…
- Đúng là vô minh!- sư bá quát lớn khiến mọi người giật thót mình - Thọ mạng người ta còn, ngươi bắt được à. Bắt rồi, ngươi có sống được với người ta không chứ. Nghiệp chồng nghiệp, phen này ngươi khó đầu thai rồi.
- Thầy ơi, vậy bây giờ làm sao hả thầy?
- Nếu người bằng lòng rời khỏi thể xác, ta sẽ nói gia đình cô ta lập trai đàn ba ngày siêu độ cho ngươi. Nhờ các thầy trì tụng, mong rằng ngươi sẽ được giải bớt nghiệp chướng đời này.
- Nhưng… còn Như thì sao?
- VÔ MINH – sư bá hét lớn - VẪN CÒN QUYẾN LUYẾN KHÔNG MUỐN RỜI PHẢI KHÔNG?
- Dạ… con…
- Ngươi không chịu tỉnh ngộ, ta nhốt ngươi ba ngày rồi triệu Vô thường quỷ đến bắt đi. Lúc ấy ngươi không trách gì ta được nha!
- Dạ... thưa thầy... con chịu…

… Sau sự việc ấy, sư bá tôi nổi danh như cồn, tiếng tăm vang xa hơn cả sư ông. Nhiều người bệnh từ khắp nơi: Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vũng Tàu, Phan Thiết… cũng lặn lội tìm đến chữa trị. Ngày ấy, tôi thường xuyên về chùa nên chứng kiến và học hỏi rất nhiều từ ông đại sư huynh của thầy mình…
Nhớ đến sư bá là bao nhiêu kỉ niệm lại ùa về trong tâm trí… Tôi khẽ lắc lắc cái đầu như muốn xua tan hoài niệm. Hôm nay tôi phụ trách city tour. Một đoàn khách từ Quảng Bình vào tham quan thành phố ba ngày. Đây cũng là cán bộ hành chánh nên giá tour chẳng có bao nhiêu. Phòng điều hành quyết định đưa khách về nghỉ tại Nhà nghỉ Công đoàn Thanh Đa. Nghĩ ra cũng tiện, tiện nghi cũng không đến nỗi tệ, cách phục vụ đúng kiểu bao cấp (chắc cũng quen thuộc với khách), không gian cũng yên tĩnh…
Ngày thứ nhất, đón khách từ cầu Bình Triệu. Tôi đưa thẳng về nhà nghỉ nhận phòng rồi ăn chiều. Những công việc lặt vặt của nghề thiết tưởng không cần phải kể ra làm gì cho dài dòng. Tôi xin kể vào sự việc chính…
Tối đầu tiên tham quan chợ Bến Thành và dạo phố đêm, nhiều vị khách đi lạc không biết đường về điểm tập kết. Tôi phải tìm mướt mồ hôi mới gom lại đủ. Về đến Nhà nghỉ Thanh Đa thì đồng hồ đã chỉ 11g35’. Giờ này còn về nhà gì nữa! Tôi quyết định ở lại để sáng mai đưa khách đi Củ Chi sớm. Các chị nhà phòng cũng ưu ái xếp cho tôi căn phòng tiện nghi ở cầu thang số 12 (gần cổng lớn). Những tưởng sau những giờ mệt mỏi chạy rã giò tìm khách, tôi sẽ ngủ một giấc ngon lành. Nhưng không, thật khó ngủ. Cố nhắm mắt dỗ ngủ mà lòng cứ tỉnh như không. Đôi mắt cứ trao tráo nhìn trần nhà như không muốn khép. Tiếng quạt trần quay vù vù làm tôi khó chịu. Tắt quạt một lát thấy nóng nực lại chồm lên mở. Tôi cứ loay hoay, bứt rứt. Định ngồi dậy luyện tập một lát nhưng lại làm biếng. Kể từ khi sư ông và thầy mất rồi, tôi cũng trở nên chây lười, chễnh mãng việc tập tành. Đã vậy tôi còn đi theo lũ bạn trong công ty đi hát hò nhậu nhẹt thâu đêm suốt sáng. Riết rồi tôi không biết mình có còn là dân huyền môn hay không nữa. Hình như những gì trong quá khứ đã phai nhạt dần khi hiện tại mở ra quá nhiều cám dỗ. Tôi bắt đầu thích cái cảm giác ngồi đến hai ba giờ sáng ở một quán nhậu ven sông để lắng nghe nhịp thở của cuộc sống về đêm, lắng nghe mạch máu căng ra vì chất men quá liều, nghe hơi lạnh tràn về khắp mọi nẻo giăng giăng. Tôi cũng bắt đầu để ý đến một chút thời trang của các cô trong công ty, cũng chịu khó pha trò, nói tục… Tôi đã thay đổi không còn là mình cho đến đêm nay…
Không muốn tập luyện, tôi chuyển sang dỗ ngủ bằng cách đếm. Đếm đến mấy ngàn số rồi tôi vẫn cứ trơ trơ. Bực mình, tôi ôm mền ra phòng khách nằm ngủ. Kéo mấy cái ghế salon lại sát nhau, tắt đèn, mở quạt trần vừa đủ mát, tôi hạ tấm nệm dựa lưng xuống làm gối và khoan khoái kéo mền lên tận cổ để ngủ. Quả thật ở ngoài phòng khách mát mẻ hơn nhiều. Tôi lim dim tận hưởng cảm giác thoải mái rồi lâng lâng vào giấc ngủ…
Bất ngờ ... cái mền tôi đang đắp bỗng nhiên tụt xuống như có người đang kéo...
Giật phắt mình, tôi chụp cái mền ngồi bật dậy ngó dáo dác… Chung quanh im lặng như tờ, chỉ có tiếng quạt máy quay vù vù trong không gian.
Ngồi im một lúc lâu, thấy không có động tĩnh gì, tôi lại nằm xuống kéo mền lên ngực ngủ tiếp…
Vừa lịm người đi, cái mền đang đắp trên người tôi bị ai đó giật phắt một cái rơi xuống đất. Thất kinh hồn vía, tôi chồm dậy la lớn: “AI ĐÓ?”. Đáp lại câu hỏi của tôi là không gian tối om, tĩnh lặng.
Tim đập thình thịch, tôi rón rén chạy đến góc phòng bật công tắc đèn. Xung quanh sáng loà ánh đèn néon trắng. Mọi thứ vẫn ổn, chỉ có cái mền của tôi là không bình thường. Nó bị quăng vào góc tường, cách chỗ tôi nằm hơn một thước. Vừa sợ vừa giận, tôi co tay thủ Kiếm quyết bước tới nhặt cái mền lên. Xung quanh vẫn tĩnh lặng. Nghe hơi ớn lạnh, tôi để luôn đèn sáng, nhảy lên salon nằm.
Lần này đừng hòng mà ngủ.
Tôi nằm nghiêng chờ đợi, tay phải nắm luôn Kiếm quyết, bụng thầm nghĩ: “Tụi bây định giỡn mặt với thầy hả con. Đứa nào ra ông cho một kiếm là tan nát hồn phách luôn!”.
Một phút…
Hai phút…
Năm phút…
Mười phút…
Chẳng có động tĩnh gì.
Tôi mệt mỏi bắt đầu lim dim mơ màng. Bỗng…
“Ké…é.. é..t”
Hai chiếc ghế salon được tôi kê làm giường nằm bị kéo thẳng về hai phía. Tôi rơi xuống đất đánh “bịch” một cái đau điếng hồn. Hoảng quá, tôi lồm cồm bò dậy quơ vội cái mền chạy vào phòng đóng cửa lại...
Chui tọt vào trong mùng, tôi không quên mở đèn sáng choang. Tim đập liên hồi trong cảm giác bàng hoàng, sợ hãi, tức tốI, hổ thẹn. Ai đờI làm thầy chữa bệnh trị tà, giảI vong từ bao năm qua, vậy mà đến lúc này bị ma quỷ phá phách mớI xấu hổ chứ!
Tôi ngồI thừ trong mùng một hồI lâu vớI ngổn ngang tâm trạng. Nhìn xuống đồng hồ, cây kim giờ đã chỉ đúng số 1. Tôi uể oảI chắp tay đọc bài kinh Phật Tổ:
“Á rá hăn – sam ma sam buol đô
Quýt chá chá rá ná
Sam ban đô
Su ga tô
Lô ca quyt du
An nu ta rô
Pu ri sa đam
Ma sa ra thi
Sat tha đê va
Ma nu sa năng buôl đô
Pa ga va ti” MớI đọc có 2 biến mà mắt tôi muốn sụp xuống. Buồn ngủ kinh khủng. Ráng đọc xong đến biến thứ ba là tôi rũ cả ngườI ra. DuỗI chân ra ngáp dài một tiếng, tôi ngả lưng xuống nệm, vặn vẹo ngườI mấy cái khoan khoái. Cảm giác nặng nề lúc nãy biến mất. Tôi xoay ngườI lạI ngay ngắn và thiếp đi…
… Sao mà tôi vẫn thức thế này! mắt vẫn mở trao tráo nhìn trần nhà. Một cảm giác lạnh lẽo bao trùm lấy căn phòng, cái lạnh phủ dần từ hai bàn chân, lan toả đến đầu gối. Tôi cảm thấy rất rõ từng thớ thịt tôi ơn ớn rồI tê lạI khi hơi lạnh đi qua. Biết có chuyện, tôi cựa mình ngồI dậy. Nhưng, tay chân tôi không còn điều khiển được theo ý mình nữa rồi. Hơi lạnh lan đến bụng, cảm giác nặng nề khó thở tràn ngập, ngực tôi nặng như đá đè, phổI cứng lạI không thở được. Và tôi thấy…trong ánh sáng trắng bệch của ngọn đèn néon, hai bóng ngườI đi xuyên qua cánh cửa phòng ngủ bước vào trong. Rõ ràng họ đi rất bình thường, nhưng không có một cản trở ngăn ngạI nào trong bước đi của họ. Đó là hai ngườI đàn ông, một già một trẻ. Gương mặt xanh xao lạnh lùng vô cảm. Đôi mắt đứng tròng không hề chớp cứ nhìn chăm chăm vào mặt tôi. Cả hai đều mặc bộ đồ trắng, thứ quần áo bệnh viện thường mặc cho bệnh nhân…
Nói thì dài nhưng sự việc diễn ra nhanh chóng. Họ bước xuyên qua cái giường ngoài (mỗI phòng ngủ của Thanh Đa có hai giường, tôi nằm giường trong, sát vách tường) và tiến đến ngay chỗ tôi nằm. NgườI trẻ đứng phía dướI chân, ngườI già đứng ngang ngườI tôi. Họ cúi xuống.
Giá mà tôi có thể hoá thành khói biến đi khỏI đôi mắt của họ, Nó đờ đẫn và sâu hun hút như cánh cửa địa ngục, khuôn mặt xanh mét của một xác chết. Cả hai thò tay ra…
Bốn cánh tay cùng lúc xuyên qua chiếc mùng tuyn mỏng và dần dần hạ xuống cổ tôi. Tôi nhìn thấy rõ những cẳng tay gầy guộc, khẳng khiu không có một chút sinh khí nào. Các bàn tay đè chặt làm tôi không thở được, hơi lạnh chết chóc từ những ngón tay thít chặt trên cổ truyền sang cơ thể, thấm vào trong mạch máu làm tôi cứng đờ người. Tôi vùng vẫy trong tuyệt vọng, miệng thốt ra những tiếng ú ớ vô nghĩa. Hai bóng ma vẫn trơ trơ vô hồn, đôi mắt sâu thẳm của họ mở ra to dần thành hai hố đen sâu hun hút, tôi thấy trong đó là vòng xoáy trôn ốc cuốn tôi vào. Đầu óc quay cuồng, ngực không còn thở được, tôi thở dài: “Vậy là hết…!”
Bỗng nhiên…
Một tiếng vỗ bàn vang lên đánh “RẦM” như tiếng sấm. Nghe như tiếng vỗ bàn quen thuộc của sư bá tôi khi nhiếp phục con tà.
Tôi giật nảy mình. Hai bóng ma mờ dần, mờ dần rồi tan biến như sương khói.
Cảm giác lạnh lẽo khó thở cũng giảm nhẹ dần…