Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011

Nước lựu hiệu nghiệm như Viagra!!!



– Nam giới muốn tăng cường khả năng “yêu” nên uống nước lựu, một nghiên cứu mới cho hay.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc trường đại học California, một ly nước lựu mỗi ngày có thể đóng vai trò như Viagra.
Người đứng đầu công trình nghiên cứu, tiến sĩ Christopher Forest cho biết nước lựu rất giàu chất chống ôxy hóa giúp tăng cường cung cấp máu tới cơ quan sinh dục ngoài.
Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra 53 nam giới mắc các vấn đề bất lực. Kết quả cho thấy gần một nửa trong số các đối tượng này uống nước lựu trong vòng 1 tháng cho biết họ có thể thực hiện chuyện đó dễ dàng hơn.
Tạp chí Mirror trích lời tiến sĩ Dr Forest, cho biết: “Nước lựu có tiềm năng rất lớn”.
Nước lựu thực sự có liên quan đến sự giảm nguy cơ mắc bệnh tim và ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt (TTL).
Trước đó, các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng dùng một ly 8 aoxơ nước lựu hàng ngày không chỉ tăng cường sự ổn định giai đoạn ung thư TTL gấp 4 lần, nhưng tác dụng này quá rõ ràng khiến họ tin rằng nó có thể giúp những nam giới trong độ tuổi từ 60 – 75 sống trọn đời mà không cần điều trị y tế, chứ không phải là chết vì ung thư.
Nghiên cứu trên được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu thuộc trường đại học California. Họ đã kiểm tra 50 bệnh nhân ung thư TTL, những người đã được phẫu thuật hoặc áp dụng phép chữa bằng tia X, trải qua một đợt tăng cường PSA (kháng nguyên đặc hiệu của TTL) hậu điều trị, nhưng tế bào ung thư vẫn còn trong cơ thể.
Theo đó, các nhà nghiên cứu đã đo lượng PSA của những đối tượng này để tính toán thời gian chúng tăng gấp đôi.
Họ nhận thấy rằng những người mắc ung thư TTL với thời gian tăng gấp đôi ngắn thường có nhiều khả năng tử vong hơn, và rằng thời gian tăng gấp đôi trung bình là 15 tháng.
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng việc dùng một ly nước lựu mỗi ngày kéo dài thời gian tăng gấp đôi lên 54 tháng, và cũng tồn tại bằng chứng cho thấy loại nước này thực sự có khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư TTL.
Tiến sĩ Allan Pantuck, người đứng đầu công trình nghiên cứu cho biết rằng những tiến bộ này thật đáng ngạc nhiên, và rằng dù nó không phải là một phương thuốc, nhưng các nhà nghiên cứu giờ đây có thể ngăn cản sự phát triển của ung thư TTL.
“Tôi rất ngạc nhiên khi chứng kiến sự tiến bộ này. Dù đó không phải là một phương thuốc nhưng chúng ta có thể thay đổi cách ung thư TTL phát triển”.

Các thực phẩm chống dị ứng hàng đầu.



- Thời tiết mùa đông khiến nhiều người dễ mắc bệnh dị ứng. Một cách giảm các triệu chứng khó chịu của hiện tượng này là cải thiện khả năng miễn dịch của cơ thể bằng thực phẩm tăng cường miễn dịch.
Những thực phẩm như vậy thường chứa nhiều vitamin C, magiê, beta-carotene, và quercetin.
Vitamin C
Khoa học đã chứng minh loại vitamin này có tác dụng làm giảm sự sản xuất histamine. Đây là loại vitamin chống histamine tự nhiên, giúp giảm các triệu chứng dị ứng và ngăn chặn viêm nhiễm.
Ớt đỏ, ớt xanh, dâu tây, kiwi, cam, khoai tây, cải bắp chứa rất nhiều vitamin C.
Beta-Carotene
Khi biến đổi thành vitamin A, beta-carotene giúp tăng cường khả năng miễn dịch và giữ cho hệ hô hấp hoạt động tốt nhất. Ngoài ra, nó còn là một chất chống oxy hóa rất mạnh.
Beta-carotene có nhiều trong khoai lang, cải xoăn, rau bina, cà rốt, bí đông (winter squash), collard green (một loại rau xanh giống bắp cải).
Magiê
Đối người mắc bệnh hen suyễn, magiê giúp nới lỏng các cơ xung quanh các ống cuống phổi bị co thắt. Một số người cho rằng sự thiếu hụt magiê có thể khiến cơ thể giải phóng ra histamine.
Quả hạnh, rau bina, lê tàu, con hàu, lạc, kiều mạch có chứa nhiều magiê.
Quercetin
Quercetin có nhiều bioflavonoid. Nó có thể giảm các phản ứng dị ứng nhờ tác dụng chống histamine. Ngoài ra, quercetin còn giảm chứng viêm.
Quercetin có nhiều trong táo, nam việt quất (cranberrie), bưởi chùm, nho, lê, rau bina, cải xoăn, cải bắp.
Bên cạnh đó, gừng cũng là một loại củ có khả năng chống histamine và thông mũi tự nhiên. Nó có thể giúp giảm một số triệu chứng dị ứng bằng cách làm giãn nở các ống cuống phổi bị co thắt.

Chữa liệt dương .




Cua biển luôn là món đặc sản cho mọi lứa tuổi nhất là nam giới. Theo nghiên cứu, cua biển chữa chứng liệt dương, bồi bổ cơ thể. Mời các bà nội trợ tham khảo món ăn và cách chế biến món ăn từ cua biển dưới đây, chắc chắn sẽ khiến lang quân ưng ý.
Cua biển tính lạnh, vị hàn, có tác dụng thanh nhiệt, sinh huyết bổ xương, tủy, tăng cường sinh lực, chữa chứng liệt dương. Trong 100g thịt cua biển có 15g chất đạm, 2,6g chất béo, vitamin A, canxi và các nguyên tố vi lượng. Khi chế biến và ăn cua biển, không nên ăn cua đã chết vì chất đạm trong cua dễ bị thối nát biến thành chất độc gây hại cho cơ thể. Những người bị dị ứng hải sản, bị rối loạn tiêu hóa, người có cơ địa dị ứng cũng không nên ăn cua biển.
Các món ăn chế biến từ cua
Cua rang me: 100g me chín, khoảng 10 con cua, bột năng (bột đao) 20g, gia vị, tiêu hạt, tỏi, rau thơm đủ dùng. Cua làm sạch, để ráo nước ướp với gia vị, hạt tiêu, tỏi băm nhỏ khoảng 30 phút rồi cho lên rán chín. Me cho nước vào, bỏ hột gạn lấy khoảng nửa bát nước (bát ăn cơm), pha cùng với bột năng đã hòa với nước lạnh, nêm chua ngọt. Sau đó đổ hỗn hợp nước trên vào cua đã rang chín, đun nóng lên là dùng được.
Chả cua nướng: Thịt cua 200g, thịt lợn nạc 100g, trứng gà (vịt) 2 quả, mỡ lợn, hành, gia vị đủ dùng. Cách làm: xay nhuyễn thịt cua cùng với thịt nạc sau đó trộn với trứng, hành, gia vị rồi đem nướng khoảng 20 phút là chín. Món này ăn cùng rau sống sẽ ngon hơn.
Súp cua ngô non: Thịt cua 200g, ngô non tươi 100g, xương lợn 500g, hành tây, gia vị, nước đủ dùng. Hầm xương lợn khoảng 1 giờ trên bếp, vặn nhỏ lửa, hớt bọt. Sau đó hòa bột năng vào thành nước sền sệt rồi cho thịt cua, ngô non đã bào nhỏ vào đun đến khi ngô chín, nêm gia vị vào là dùng được.
Cua xào miến dong: Miến 300g, thịt cua 300g, tôm tươi 300g, hạt tiêu, gia vị, hành, tỏi đủ dùng. Miến ngâm trong nước ấm khoảng 10 phút, vớt ra để ráo nước. Tôm hấp hoặc rang chín, bóc vỏ. Cách làm: cho chảo nóng, đổ dầu phi thơm tỏi rồi cho cả tôm, cua vào xào chín tới, nhắc xuống. Miến xào chín, đổ các thứ trên vào trộn đều, ăn khi còn nóng.

Đậu đỏ: món ăn lợi sữa, thông tiểu.


- Nước ta có nhiều loại đậu, song đậu đỏ cũng giữ được vị trí quan trọng trong làng đông dược vì là vị thuốc chữa trị được nhiều bệnh và rất giàu dược tính, giàu dinh dưỡng.
Món ăn lợi sữa, thông tiểu:
Đậu đỏ 250g, vo sạch cho vào nồi đất, đổ 500ml nước nấu trong 20 phút, bỏ đậu uống nước. Cần uống liền 3-5 ngày sẽ thông sữa, tiêu phù.
Chữa phù thũng, tiểu tiện không thông:
Đậu đỏ 20g, hạt bo bo 30g, gạo 30g, đường vừa đủ. Cho đậu đỏ đã ngâm mềm vào nồi nấu sôi, hạ lửa chờ đậu mềm nhừ thì cho bo bo và gạo nấu tiếp đến nhừ cho đường vừa ngọt thành chè đậu đỏ, ngày ăn 2 lần trong nhiều ngày. Món này có công hiệu hồi phục chức năng hệ tiêu hóa, lợi tiểu.
Ngoài ra, đậu đỏ còn có tác dụng chữa bế kinh, đau bụng và bệnh quai bị...
---------------

Thuốc "hay" chữa phong thấp.



Khi thời tiết thay đổi người mắc bệnh phong thấp sẽ rất khó chịu vì đau nhức gân, xương; mình mẩy, chân tay rời rã, tê bại, dẫn đến ăn ngủ kém. Sau đây là những vị thuốc dân gian trị phong thấp rất hữu hiệu.
Vị sinh địa: (Rhizoma Rehmanniae) là thân rễ phơi khô của cây địa hoàng (Rehmannia glutinosa Libosch "gaertn"), họ hoa mõm chó (Scrophulariaceae), có tác dụng bổ huyết, hòa huyết và thông huyết - dùng chống thiếu máu, suy nhược, ngoài ra còn giúp lợi tiểu, mạnh tim.
Cây cỏ xước: (Achyranthes bidentata Blume), họ dền (Amaranthaceae). Ðược dùng làm thuốc trị viêm khớp, lưng, gối, xương đau nhức, làm tan tụ máu; bổ can, thận.
Huyết đằng: (Caulis sargentodoxae), bộ phận dùng là thân cây huyết đằng phơi khô (sargentodoxae cuneata "Oliv" Rehd. et Wils), họ đại huyết đằng (Sargentodoxaceae). Vị đắng, tính bình. Có tác dụng trừ phong, thống kinh lạc, lợi niệu, sát khuẩn; Bổ huyết, hành huyết, khỏe gân cốt - chủ trị tê thấp, đau lưng, mình mẩy nhức mỏi.
Vòi voi (Heliotropium indicum Lin), họ tử thảo (Bonaginaceae), dùng chữa tê thấp, thông kinh lạc, hạ nhiệt, chữa mụn nhọt, viêm tấy và làm tan tụ huyết.
Hà thủ ô (Radix Polygoni multiflori), bộ phận dùng làm thuốc gồm rễ, củ phơi khô của cây hà thủ ô (Polygonum multiflorum Thumb) thuộc họ rau răm (Polygonaceae). Tác dụng bổ huyết, trị thần kinh suy nhược, làm khỏe gân cốt.
Bồ công anh (Lactuca Indica Lin), họ cúc (Compositae). Có tính chất sát khuẩn, tiêu viêm, hạ sốt, an thần và bồi bổ.
Hy thiêm (Sieges beckia orientalis L.), họ cúc (Compositae). Thường dùng làm thuốc chữa trị đau nhức xương, trừ phong thấp, gân cốt nhức lạnh, bán thân bất toại, lưng gối tê dại.
Cốt toái bổ (Rhizoma Drynariae fortunei), bộ phận dùng làm thuốc gồm thân rễ cây cốt toái bổ (Drynaria fortuei J-sm), họ dương xỉ (Polypodiaceae), tính khô, ôn bình, tác dụng chữa đau xương, tán tụ máu, sát khuẩn, giảm đau. Là vị thuốc hòa hoãn và bổ thận, bồi dưỡng sinh khí.
Cốt khí (Radix Polygoni Cuspidati). Bộ phận dùng là rễ phơi khô của cây cốt khí (Polygonumreynontria Makino). Thuộc họ rau răm (Polygonaceae). Tác dụng chữa tê thấp, giảm đau do té ngã, bị thương và lợi tiểu.
Dây đau xương (Tinospora Sinensis Men) họ phòng kỷ (Menispermaceae). Có tác dụng chữa bệnh tê thấp, đau xương, đau người - là vị thuốc bổ. Thiên niên kiện (Rhizoma Homalomenae), bộ phận dùng làm thuốc gồm thân, rễ phơi khô của cây thiên niên kiện (Homalomenae aff sagittaefolia Jungh), họ ráy (Araceae). Dùng chữa tê thấp, bổ gân cốt, giảm đau nhức - Thường dùng cho người cao tuổi hay đau xương khớp, mình mẩy. Thiên niên kiện còn là vị thuốc bổ giúp kích thích tiêu hóa.
Ðảng sâm (Radix codonopsis), vị thuốc là rễ phơi khô của nhiều loại codonopsis. Họ hoa chuông (Campanulaccae). Người ta coi đảng sâm có thể thay thế nhân sâm - Là thuốc bồi bổ cơ thể, tăng lực, chống thiếu máu, tiêu đàm; bổ tì, vị, lợi niệu.
Như vậy sự kết hợp của mười hai vị thuốc trên thật hoàn hảo, đạt được lý luận của nguyên tắc chữa trị bệnh phong thấp, luôn hỗ trợ và tăng cường tác dụng trị liệu với nhau.
Liều dùng
Phương thuốc trên tùy theo hoàn cảnh, điều kiện của từng bệnh nhân mà áp dụng. Thang này có thể dùng dưới hai hình thức như ngâm rượu hoặc sắc uống.
* Nếu ngâm rượu: cứ 1 thang thuốc trên cần ngâm với 1 lít nước, tức 1.000ml rượu trắng 400, để trong 3 ngày lại thêm 500g (nửa cân) đường hòa tan vào 500ml nước đun sôi để nguội, đổ chung vào với rượu đã ngâm thang thuốc trên. Mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần từ 10-20ml trước lúc đi ngủ, uống liên tục trong 1-2 tháng.
* Dùng thuốc sắc: Mỗi thang trên cho vào 500ml nước đun nhỏ lửa, đậy kín ấm đến khi cạn còn khoảng 150-200ml thì ngừng sắc. Gạn nước thuốc ra chia đôi, uống mỗi lần 1/2 số nước đó, uống nóng. Dùng liên tục từ 20-25 ngày.

Bưởi chữa đau bụng, khó tiêu!

Để chữa đau bụng, đầy bụng do lạnh, lấy lá bưởi non luộc chín hay nướng chín đắp vào rốn khi còn nóng.
Bưởi là cây đa năng; lá, hoa, quả đều có thể dùng làm thực phẩm, làm thuốc. Trong Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh đã viết: “Bưởi làm cho thư thái, trị được nôn nghén khi có thai, chữa lười ăn, đau bụng, tích rượu ăn không tiêu”; “vỏ bưởi có trừ đờm, hòa huyết, giảm đau, đau ruột, tiêu phù thũng, khi dùng bỏ cùi trắng lấy vỏ vàng sao dùng”.
Chữa đau dạ dày: Lấy một vốc hạt bưởi rửa sạch cho vào cốc thủy tinh, rót nước sôi vào, đậy kín, sau 2-3 giờ lấy nước uống. Có thể thêm ít đường cho dễ uống. Uống liên tục nhiều ngày.
Chữa đau bụng, ăn không tiêu: Sắc nước vỏ bưởi uống, ngày dùng 4-12 g dưới dạng thuốc sắc.
Chữa trĩ: Rễ bưởi đào rửa sạch, thái nhỏ (20 g/ngày) sắc uống.
Chữa sa bìu tinh hoàn, bìu đau tức: Bưởi non mới hình thành hạt: 1 quả, gọt vỏ sao vàng, hạ thổ nấu nước uống. Dùng vài ngày.
Chữa đau bụng do lách to: Vỏ bưởi 12 g sắc với 1 bát nước, còn nửa bát. Uống liên tục một tuần.
Ngoài ra, nước ép múi bưởi được dùng làm thuốc chữa tiêu khát (đái tháo nhạt), thiếu vitamin C. Tầm gửi cây bưởi được dùng chữa các bệnh khớp, ăn uống khó tiêu.
Lưu ý: Nước ép bưởi khi dùng chung với thuốc tây có thể không tốt cho sức khỏe vì nó chứa furanocoumarin - một chất có thể ảnh hưởng lên quá trình hấp thụ dược phẩm.
Các nhà nghiên cứu cũng khuyên không đánh răng ngay sau khi ăn bưởi, vì các loại quả chua chứa nhiều axít nên dễ làm yếu men răng và gây mòn cổ răng.

Bưởi giúp cầm máu chân răng.



Ăn 2 quả bưởi mỗi ngày trong vòng nửa tháng có thể làm giảm chứng chảy máu lợi.
Nguyên nhân có thể do sự gia tăng lượng vitamin C trong máu - vi chất giúp mau lành tổn thương do các phân tử gốc tự do gây nên - nhóm nghiên cứu Đại học Đại học Friedrich Schiller (Đức) cho biết trên tạp chí Dental của Anh.
Trong nghiên cứu, 58 bệnh nhân nướu lợi mạn tính có lượng vitamin C trong huyết thanh thấp khi bắt đầu thử nghiệm. Trong đó, lượng trung bình ở nhóm hút thuốc lá thấp hơn 29% so với nhóm không hút. Sau khi ăn bưởi liên tiếp trong 2 tuần, tất cả đều có lượng vitamin C gia tăng. Nhóm hút thuốc tăng gần gấp đôi, song do mức khởi điểm thấp nên kết quả bổ sung vẫn thấp hơn so với người thường.
Trung bình một quả bưởi chứa gần 92,5 mg vitamin C. Theo giới chuyên môn, một chế độ dinh dưỡng cân bằng và lành mạnh cũng cung cấp đủ lượng cần thiết. Tuy nhiên, do cơ thể không có khả năng giữ vitamin C thừa nên cần bổ sung đều đều.
Hút thuốc lá được xem là yếu tố hàng đầu gây bệnh nướu lợi. Nguyên nhân có thể do thuốc lá làm thay đổi cách cơ thể chuyển hóa vitamin C hoặc người hút thường có chế độ dinh dưỡng kém lành mạnh.
Một lưu ý là không đánh răng ngay sau khi ăn bưởi, vì các loại quả chua chứa nhiều axit nên dễ làm yếu men răng và gây mòn răng.

Thuốc nam chữa đau lưng hiệu quả!!!


Theo Đông y, nguyên nhân gây đau vùng thắt lưng thường là thận kém. Vì vậy thuốc chữa trị chủ yếu có tác dụng bồi bổ chân âm và làm cho thận vững mạnh.
Sau đây là các bài thuốc khác chữa đau lưng:
- Thận hư gây đau lưng: Phá cố chỉ (sao lên) 4 g, đỗ trọng (tẩm nước muối để sao) 4 g, tán nhỏ, tẩm với 1 quả bầu dục lợn rồi nướng chín, ăn với rượu.
- Đau lưng thông thường: Dùng cây cóc mằm sao vàng, ngâm với rượu để uống. Cũng có thể lấy vỏ cây gạo cạo sạch vỏ ngoài, ngâm với nước gạo nửa ngày, sao vàng rồi sắc uống.
- Đau mỏi thắt lưng: Cây cỏ xước 16 g (sao với muối), tầm gửi cây bưởi 16 g, rễ dứa gai 16 g (sao), rễ cà gai leo 16 g (sao), tua rễ si 12 g (sao). Tất cả sắc với 3 bát nước lấy 1 bát, chia 2 lần uống trong ngày, mỗi liệu trình kéo dài 5-7 ngày.
- Đau lưng nằm không yên, đi đứng không thẳng: Lá nhàu 10 lá thái nhỏ, lá ngũ trảo 1 nắm, ngải cứu 10 lá, tất cả giã dập, xào nóng, cho vào vải mỏng để chườm chỗ lưng đau, khi nguội thì đặt xuống giường để nằm (lót vào chỗ đau), làm vài lần sẽ khỏi.
- Đau lưng nhức mỏi: Vỏ bưởi đào 200 g, ngải cứu 1 nắm, sắc đặc, uống nóng trong 3 ngày liền sẽ khỏi.
Hoặc: Lấy hạt chanh 1 chén sao vàng, tán nhỏ, mỗi lần uống 4 g với rượu trắng, uống liên tục trong 3-4 ngày sẽ hết đau. Cũng có thể dùng đuôi lợn nấu chung với đậu đen, ăn hết trong ngày.
---------------------

Ngắt sữa bằng các bài thuốc dân gian!



Sau khi sinh con, nhiều phụ nữ khốn khổ vì mất sữa hoặc thiếu sữa; ngược lại, có những người vì một lý do nào đó lại cần phải ngắt sữa.

Để ngắt sữa, người phụ n ữ có thể dùng mạch nha sao 60 g, sắc lấy nước uống 2 lần trong ngày. Đây là kinh nghiệm được ghi trong sách thuốc cổ "Y tông kim giám".
Sau khi sinh con, nhiều phụ nữ khốn khổ vì mất sữa hoặc thiếu sữa; ngược lại, có những người vì một lý do nào đó lại cần phải ngắt sữa. Trong trường hợp này, nhiều khi các biện pháp của y học hiện đại cũng không có hiệu lực. Bởi vậy, việc tìm hiểu và vận dụng các kinh nghiệm dân gian để ngắt sữa có một ý nghĩa nhất định. Dưới đây là một số bài thuốc điển hình:
- Trần bì 30 g, sài hồ 10 g, sắc uống 2 lần trong ngày.
Công dụng: Lý khí, thông kinh, ngắt sữa. Thường uống 2-3 ngày là có hiệu quả.
- Sơn tra 20 g, đường trắng vừa đủ. Sơn tra rửa sạch, nấu chín nhừ rồi chế thêm đường ăn trong ngày. Thuốc có công dụng hoạt huyết, hóa ứ, ngắt sữa.
- Mạch nha sao 60 g, xuyên khung, đương quy, bạch thược, thục địa mỗi thứ 6 g. Đem mạch nha tán nhỏ, các vị thuốc còn lại sắc kỹ lấy nước rồi uống với bột mạch nha, mỗi lần 9 g, mỗi ngày 2-3 lần.
Công dụng: Dưỡng huyết, hoạt huyết, ngắt sữa.
- Quy vĩ, xích thược, hồng hoa mỗi thứ 9 g, ngưu tất 12 g. Tất cả sắc lấy nước uống, chia vài lần trong ngày.
Công dụng: Hoạt huyết, thông kinh, ngắt sữa. Bài thuốc này được ghi lại trong sách thuốc cổ có tên là "Chứng trị chuẩn thằng".
- Bồ công anh 50 g, thần khúc 50 g. Đem sắc kỹ với 3 bát nước lấy nửa bát, uống nóng.
Công dụng: Tiêu thũng, thanh nhiệt, giảm đau, tán kết, ngắt sữa, thích hợp cho người muốn ngắt sữa mà bầu vú sưng căng, đau nhức khó chịu.
- Đậu sị 60 g, dầu rán 30 g, gạo nếp 90 g. Đặt chảo lên bếp, đổ dầu đun nóng rồi cho đậu sị và gạo nếp vào rang. Sau đó chế thêm một ít nước, đun chín rồi ăn trong ngày.
Công dụng: Giải uất, trừ phiền, ngắt sữa. Theo kinh nghiệm dân gian, thường dùng sau 5-7 ngày là có hiệu quả.
- Lá cà chua 4 g, cho vào nước sôi (chừng 200-300 ml) ngâm trong 10 phút, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Công dụng: Giải nhiệt, tán kết, ngắt sữa. Thường dùng trong 3-7 ngày là có hiệu quả.
- Đởm nam tinh 10 g tán nhỏ rồi hòa với giấm, đắp lên vú (chú ý không bôi lên núm vú), sau một ngày đêm rửa sạch, nếu chưa thấy kết quả có thể đắp tiếp vài lần. Thuốc có công dụng tiêu thũng, ngắt sữa.
- Mang tiêu 120 g, bọc trong túi vải rồi đặt ở hai bên vú, đeo nịt vú để giữ, sau 24 giờ thì lấy ra, nếu chưa đạt kết quả có thể làm thêm lần 2.
Công dụng: Tiêu thũng, tán kết, ngắt sữa. Cách này chỉ có hiệu quả khi bầu vú căng nhiều.
Sau khi đã ngắt sữa, nếu cần có sữa trở lại thì ngừng thuốc và chuyển sang sử dụng các bài thuốc dân gian có tác dụng kích thích và làm tăng tiết sữa.

Mật ong - nguồn thuốc quý!

Mật o¬ng được dùng từ cả ngàn năm để trị bệnh. Mật o¬ng có tính diệt trùng và được dùng trị các bệnh đau cổ họng, cháy bỏng và đứt da rất công hiệu.
Mật o¬ng do con o¬ng làm ra từ nhụy hoa. Mỗi con o¬ng đều có túi mật để chứa mật hoa. Mật hoa trong túi mật được phân hóa thành hai loai đường: fructose và glucose. Trong mật hoa còn có rất nhiều nước nhưng lượng nước này sẽ bốc hơi đi làm mật hoa đặc lại thành mật o¬ng .
Các nhà sinh vật học đã thống kê ra rất nhiều loại o¬ng khác nhau. Ðặc biệt có một loài o¬ng sản xuất ra nhiều mật o¬ng mà chúng ta quen gọi là o¬ng Mật . O¬ng Mật có thể bay xa đến 6 dậm Anh để lấy mật hoa, thông thường thì o¬ng Mật bay tìm hoa từ 1 đến 2 dậm. O¬ng thường lấy phấn hoa và mật hoa vào mùa Xuân lúc cây đang nở hoa.
Trong tục ngữ Việt Nam, chúng ta thường nói: “Mật ngọt chết ruồi”, nhưng ngoài việc hấp dẫn đối với các côn trùng, mật o¬ng còn dùng để dinh dưỡng và trị bệnh. Mật o¬ng là một trong những môn thuốc cổ truyền nhất . Việc sử dụng mật o¬ng được ghi nhận trong các bảng đất trong văn minh Sumer khoảng 4000 năm và trong giấy papyri của Ai Cập khoảng 1900 đến 1230 năm trước công nguyên.
Mật o¬ng được dùng từ cả ngàn năm để trị bệnh. Mật o¬ng có tính diệt trùng và được dùng trị các bệnh đau cổ họng, cháy bỏng và đứt da rất công hiệu. Sau đây là vài cách dùng mật o¬ng để trị bệnh trong bài viết của Bác sĩ Trần Ðình Hoàng trong bài viết của ông cho báo Y Tế Nguyệt san.
• * Ðể dịu cơn đau cổ họng: quậy nước nóng với mật o¬ng và nữa trái chanh rồi uống.
• * Nếu cảm thấy mệt mỏi và yếu sức, thì thử uống một muỗng mật o¬ng để có năng lượng do các đường fructose và glucose dễ dàng hấp thụ vào máu.
• * Mật o¬ng hỗ trợ sức khỏe tổng quát và làm khỏe người. Hàng ngày có thể dùng mật o¬ng bằng cách thêm vào thức uống, trét vào bánh hay ăn không.
• * Mỗi buổi sáng uống một ly nước nóng pha mật o¬ng và chanh sẽ làm sạch cơ thể và giúp cơ thể mạnh thêm.
• * Trước khi đi tập thể dục thể thao, dùng một muỗng mật o¬ng để cung cấp năng lượng cho cơ thể.
• * Ho và cảm: Mật o¬ng được sử dụng rộng rãi như một liều thuốc cho các chứng cảm, ho, đau cổ họng. Về đau cổ họng, dùng mật o¬ng một mình hay súc họng bằng hỗn hợp chứa 2 muỗng mật o¬ng, 4 muỗng giấm cider và một ít muối. Về ho và cảm, uống nước nóng pha với chanh và mật o¬ng sẽ làm dịu các triệu chứng. Thêm một ít dầu eucalyptus hay gừng sẽ bớt nghẹt mũi và dễ ngủ.
• * Ðứt da và trầy da: mật o¬ng có tính sát trùng có thể giúp giữ sạch vết đứt, vết trầy da khỏi bị nhiễm trùng.

Trái cóc với người bị tiểu đường.



Trái cóc là một loại quả có nhiều ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài việc trái cóc dùng để ăn (có vị ngọt và hơi chua, rất dễ ăn), lá cóc còn dùng để nấu canh chua - món ăn dân dã được nhiều người ưa chuộng

Nhưng trái cóc còn có tác dụng làm giảm đường trong máu đối với người bị tiểu đường týp II (tức là loại tiểu đường do chế độ ăn uống quá nhiều chất có đường và tinh bột sinh ra. Vì vậy có người còn gọi là bệnh tiểu đường "mắc phải").
Cách làm:
Quả cóc chín vứt bỏ hạt, số lượng không hạn chế, bổ nhỏ sấy hay phơi khô, tán thành bột mịn, để dành (chú ý tránh ẩm mốc bằng cách thỉnh thoảng đổ ra sao qua hay phơi). Cách dùng: Mỗi ngày 3 thìa bột cốc, mỗi lần 1 thìa, trước các bữa ăn sáng, trưa, chiều chừng 30-40 phút. Dùng kéo dài thường xuyên. Sau 1-2 tháng thử lại đường máu 1 lần, nếu nồng độ trở lại bình thường thì có thể giảm số lần uống còn 2 lần/ngày (sáng, chiều).

Cần lưu ý rằng đây không phải là một loại thuốc có tác dụng điều trị tiệt căn bệnh tiểu đường. Vì vậy người bệnh vẫn nên tuân thủ chế độ ăn kiêng của người bị tiểu đường: Không nên ăn các loại có đường, nên bổ sung chất đạm, tốt nhất là đạm thực vật như đậu nành, đậu phụng; ăn nhiều rau có chất xơ và rèn luyện (tốt nhất là đi bộ) để tránh bị thừa cân. Vì ở bệnh nhân tiểu đường týp II rất "nhạy cảm" với tình trạng tăng cân, khi bị tăng cân thì hàm lượng đường trong máu cũng dễ tăng theo.