Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2010

WWW.CIALIS.VN



Chúng tôi thành thật xin lỗi nếu Email này làm phiền quý khách.
Chúng tôi chân thành cảm ơn Quý khách dành chút thời gian viếng thăm Website Dành cho đàn ôngWWW.CIALIS.VN của Công ty cổ phần Dược phẩm Bông Sen Vàng.
Chúng tôi hy vọng Quý khách tìm được và ứng dụng trong Website này những thông tin hữu ích về thuốc chữa các bệnh : Tiểu đường, Tim mạch, Viêm gan B…đặc biệt là dòng thuốc Rối loạn cương dương…
Kính chúc quý khách có sức khỏe dồi dào dể Tự tin – Mạnh mẽ - Bản lĩnh và thành công trong cuộc sống.

Bùa gồng!



trong các môn phái bùa phép hầu như phái nào cũng có bùa gồng , như là thất sơn thần quyền , bùa miên , bùa xiêm , bùa 5 ông , phật huyền môn vạn thiên giới linh v.v.....
muốn học gồng tước tiên là phải được 1 vị pháp sư điểm đạo (vô phép trong người ), ra mắt tổ thầy , pháp sư làm phép vô nước , vẻ bùa đốt vô nước đó cho tân đệ tử ấy uống , dùng nhang họa thổi trên đỉnh đầu , trán , tam tinh (ấn đường) , 2 lổ tai , trước ngực , sau lưng , rồi cho đệ tử mới đó lẩm nhẩm đọc 1 câu thần chú ngắn vài chử a b c đ gì đó , sau đó vị thầy cầm cây dao sắt chuối thật to bén ngót dang tay chém thẳng vào ngực người đệ tử đó hết sức 3 dao liền, bựt ....bựt.....bựt ....!

không đứt , không rướm máu chỉ nổi dấu 3 lằn đỏ như ta dùng móng tay quẹt ngang vậy thôi ! như vậy coi như là tổ đả chứng , người đệ tử làm phần kết cuộc là cầm 3 cây nhang đả đốt tuyên thệ trước bàn tổ :

không phản tổ phản thầy
không tà dâm lấy vợ người
không cậy mạnh hiếp yếu
không tham lam trộm cắp
không dùng bùa phép thư ếm người ta vì tiền

sau đó là người đệ tử đó coi như đả là con thầy tổ , đi bất cứ nơi nào cung có chư vị khuất mặt theo hộ độ , nhưng cần giử các điều cấm kỵ như : không, ăn chó , trâu , mèo , khỉ , rắn , rùa , lươn , ếch . vì ăn những thứ da trơn này thì phép gồng khi thăng khi giáng không được linh nghiệm như ý , ngoài ra cần phải siêng năng luyện tập , sáng sớm ra nhìn mặt trời luyện đọc thần chú tưởng chử bùa gồng đó trên mặt trời rồi hớp khí nuốt vô bụng , luyện chừng 15, 20 phút lúc mới , sau dần thì lâu hơn 40 phút 1 tiếng . khi luyện xong đọc chú gồng thổi vô 1 chung dầu dừa rồi uống sẽ cầm phép không phai , như danh tướng BẢY VIỂN ngày xưa theo truyền tụng cũng chỉ có 1 chử bùa gồng thôi mà ra trận không sợ mìn , đạn mổi sáng luyện xong ông uống cả chén dầu dừa (mà không chảy )

người học gồng mà luyện tới thường là hiền lắm , hay nhịn nhục , không kiếm chuyện với ai bao giờ , không ra tay đánh người trước , chỉ miển cưởng khi tự vệ thôi ....
song song với cách luyện bằng khí , điển nhập thân người học gồng có thể được hổ trợ thêm bằng nhiều cách : vô kim , vô tượng phật trong người khi có dao chém , hay cây , vật nặng đánh tới thì những vật đó tự động chạy đến đở , thường là được vô 2 kim hay 2 cốt phật nhỏ cở ngón tay út nằm ở vị trí 2 bên bắp tay gần dưới nách , khi cho những vật đả phù phép sẳn đó vô người , vị sư phụ mình không cần mổ xẻ gì tới thân thể mình đâu , chỉ cầm để ướm sát vào và đọc chú tự nhiên nó sẽ chạy vô trong người đột ngột mà mình không hay ( cái này có thực 100% đó huynh đài ) , có người còn vô cả mấy cây đinh 1 tấc 2 nữa đó ! ngoài ra còn phép gồng đấu vỏ đài bằng cách ngậm tượng phật , đeo cà tha như các vỏ sỉ kick boxing của thailand hay xài v.v....

bùa , phép hay rất hay tuy nhiên cái gì cũng có điểm khắc kỵ của nó , ví dụ những người luyện , xài các loại phép trên , nhứt là kẻ vô kim khi mà lấy vợ phá gia cang người khác tự động 2 cây kim đó chúng sẽ trổ ra đui 2 mắt liền , còn người vô cốt phật làm bậy sẽ bị bể nát tượng phật đó mà tan trong cơ bắp , tỉnh mạch nghẹt máu mà chết .
GỒNG THUỐC :

phép gồng có 2 cách , gồng bùa và gồng thuốc . gồng bùa là nhờ thần chú , chử bùa mình luyện nhiều ngày thỉnh mấy ông tổ gồng , thầy gồng về ứng độ cho mình , đao kiếm , giáo mác , roi cây đánh đâm , chém bửa cũng không đứt , lủng , đau . lúc ấy da thịt người luyện gồng bùa không phải là sắt thép gì đâu , chỉ là có thần nhập khiến cho nó có thể đàn hồi như cái vỏ xe hơi bơm cứng vậy , chém vào thì dội ra mà thôi !

gồng thuốc thì khác , quả thực sự là mình đồng da sắt , không gì đả phá , phương hại được , trừ tầm dông vạt nhọn đâm hậu môn , kim đâm 2 tròng mắt , đủa tre đóng lổ tay , lổ mủi , chỉ có xuyên phá qua đường thất khiếu ấy mới hại được người luyện gồng thuốc , nhưng làm chuyện hại họ như vậy thiết tưởng không dể .

học gồng thuốc rất công phu và cần có 1 người trung tín chăm sóc cho mình lúc " hoán bì đổi cốt " trong 7 ngày ,nếu bỏ rơi mình 1 ngày là đi theo ông theo bà bán muối ngay . những chuyện tại hạ viết ra đây đều có thật 100% , tại hạ thì không luyện môn gồng thuốc này nhưng có 1 vị bạn của sư phụ tại hạ ngày trước tu trên núi tượng , thất sơn đã luyện thành công và từng biểu diển nhiều cái thần sầu cho đám điệt tử như tại hạ xem qua .
theo người cho thì công thức như sau :

kiếm những vị thuốc gôm` : dây ổ chim kên kên (bên núi tà lơn của cao miên mới có ) , con bìm bịp con mới ra ràng , rắn hổ đất con , rắn hổ mây con , rắn mai gầm con , con lọ nồi , sanh mã tiền , nước tiểu đồng tử , mạt sắt vụn sét , vàng mài ra thành bột , huyền , chuổi hổ , châu thần (châu sa , thần sa ).

tưởng cũng xin nói qua về sự linh diệu kỳ bí của tổ chim kên kên , loại chim chuyên ăn xác người và các động vật chết khác . chỉ cần lấy 1 cọng dây làm tổ của chúng quấn cột ngang 1 cái chậu sành nhỏ nào đó ví dụ , đoạn lấy búa tài sồi và cho bất kỳ người đàn ông lực lưởng nào dùng hết sức đập cũng không bể được , đặt biệt là cũng không mẻ 1 chút nào . hoặc là dùng dây đó cột thắt ngang 1 con cá , con gà v.v....rồi lấy dao bự mà chém cũng không hề đứt được , đây là cái siêu linh gồng tự nhiên của tổ chim kên kên cũng như chim gỏ kiến biết bùa mở khoá vậy .
TiêuDáiTử.

Thần hành xác ở thái lan.





Thần Quyền ở VN.




Giờ xin nói rõ hơn về chuyện Thầh Quyền ở VN rồi sẽ đến bùa chú ở tây phương. Như đã nói ở trên, ngày xưa vì ham vui và thiếu kiến thức Nug theo bạn tập Thần Quyền, nhưng có lẽ Thần chê nặng xác phàm nên chẳng thấy kết quả gì gọi là mỹ mãn sau vài tháng ngồi thiền và uống bùa. Có điều lạ là lúc ấy Nug có bạn gái dễ dàng, chắc không phải vì đẹp trai hay tài giỏi nhưng có lẽ vì “ma lực” của bùa, dĩ nhiên là Nug chưa biết bùa yêu. Ðó là chuyện ngày xưa, giờ thì bỏ ra chó không thèm gặm. Lúc luyện Nug phải uống bùa, muốn uống phải nín thở viết hay vẻ bùa lên giấy. Giấy và viết phải hoàn toàn mới chưa dùng lần nào và chỉ dùng trong việt vẻ buà và viết buà thôi. Nug có một cuốn sổ bằng hai bàn tay để viết bùa và vẻ bùa để uống. Bùa thì có nhiều loại như là Bùa Tổ, bùa gồng ở bụng và vài tên khác mà giờ Nug đã quên. Còn bùa nhức đầu, bùa buộc, bùa yêu thì chỉ dùng để sên người khác chứ lầm lẫn uống vào chắc cũng mệt. Thần chú “vô kim” (kim sẽ chạy lên đở ở lưng hoặc vai khi bị chém lén, nếu dao có dín máu chó thì đến lẹm (kim may bao bố) cũng thua, cũng gẩy) thì cả hai phái Thiên Tiên và Thất Sơn mà Nug còn nhớ giống như nhau đó là “uống trừ mạnh độc ngã hoạnh tư ngã nội gia đình nhập quanh tin sức cấp cấp y như ...”. Khi theo phái Thất Sơn (1980), đã sang đây, thì được “thầy” dùng mũi dao (dài như đoản kiếm) vẻ bùa khắp thân, vừa vẻ “thầy” vừa nói tiếng gì như tiếng Phạn. Nug nhớ mài mại lời “thầy” nói là lưng Nug có bùa Tam Ðao, ngực có bùa bảy kiếm ...vv. những bùa này nhầm bảo vệ thân thể . Vì nhác gan chẳng bao giờ đánh lộn hay giành gái với ai nên Nug không biết là những bùa ấy có công hiệu như lời không. Cả hai lần theo chẳng thấy Thần nào nhập và sau đó Nug được biết là “Ông Lục” có đến, đứng ngay cửa nhưng không vào. Ông đã không muốn vào thì làm sao ông muốn nhập vào Nug để đi vài bài quyền đẹp mắt cho được nà. Tuỳ theo “duyên” có người “được” ông Lục nhập; có người “được” thần Bạch Hổ nhập ...vv. chứ không nhất thiết là lúc nào cũng Lục. “Thầy” vặn dò là phải năn uống bùa và ngồi thiền, hy vọng ngày đẹp trời nào đó ông sẽ viếng. Sau vài năm tập luyện on/off chẳng thấy ông thèm để ý đến Nug. Một đêm nọ, đang ngồi nhà thì bổng dưng Nga dẫn chiếc xe đạp BMX (của ai gởi) đạp một vòng đến nhà “thầy” gần đấy. Gõ cửa, cửa mở, bước vào thì có khoảng môt chục người đang ngồi ăn nhậu. Vừa ngồi xuống “thầy” lên tiếng :”Dữ hông, gọi nãy giờ giờ mới tới!!!”, thì ra “thầy” và “đồng nghiệp” của “thầy” dùng âm binh gọi Nug. Ðêm ấy sau khi rửa chân Nug và hai người nữa vào phòng có bàn thờ. Phòng cửa kín mít, có kệ thờ, lư hương và tấm vải vàng có nhiều chử bùa vẻ, đèn đỏ nhỏ leo lét sáng mờ mờ cùng khói hương làm Nug cũng rờn rợn như bước vào một cõi âm u nào đó. Hai chàng kia thì sau khi “hai thầy” vừa chỉ tay nói vài câu tiếng Phạn hai chàng lăn đùng ra, một chàng tay đang thủ một thế của bài hổ quyền, chàng còn lại thì nằm một đống. Hai thầy xoay sang Nug, đang đứng chấp tay quá trán và trên người chỉ có cái quần sọc, vừa chỉ vừa la vừa nói như giận hờn gì lắm và đang “kể” tội Nga bằng tiếng Phạn. Khoảng gần một phút sau thì tự động người xoay tròn trong khi tay vẫn chấp quá trán, cứ y như đang múa balê, không ngưng được, xoay vòng, mất thăng bằng va vô tường, từ vách này sang vách nọ tưởng như bầm mình. Rồi cuối cùng, khoảng gần nữa tiếng đồng hồ sau, “ông” vẫn chưa nhập và “hai thầy” thì mồ hôi mẹ mồ hôi con tuông ra mệt mỏi ngồi thở hồng hộc như muốn đầu hàng cái thằng “nặng xác phàm” này. Chuyện bị vật và bỏ hẳn thần quyền theo đạo Công Giáo xin miển kể nơi đây .

Tây phương cũng biết “thư”, biết “ếm”, bùa yêu ...vv y như xứ mình nếu không muốn nói là mạnh hơn. Theo tài liệu của Cha Amorth thì đáng sợ nhất là voodoo ở Phi Châu và “macumbe” ở Brazil mà dân Haitian thường dùng. Theo như hiểu thì bị “thư” hay bị “ếm” tiếng Anh gọi là “being hexed” or "malefice" và bùa yêu là “love potion” hoặc “binding”.

Hex có hai loại, trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp là khi một phát sư hay phù thủy bỏ bùa vào thức ăn hoặc thức uống để hại người. Những tay phù thủy này dùng nhiều vật lạ lùng như xương người chết; máu kinh nguyệt; various burned powders; animal part ...vv và tim là món được chuộng nhiều nhất và một số dược thảo để luyện bùa. Thần chú được đọc trong lúc luyện. Nạn nhân bị thư ngoài những triệu chứng đau đớn khác thì đau bụng là hầu như người bị thư nào cũng bị. Sau khi nạn nhân ói ra hết nhữhg vật lạ như đinh; cuộn dây kẻm; wooden doll, mảnh chai ...vv qua sự giúp đở của một exorcist thì bịnh sẽ dứt ngay. Ở VN và một số dân du mục dùng trứng gà để lấy những món “lạ” này ra, có khi lấy ra được cả rắn, chỉ khác nhau là ở VN thầy pháp bất ngờ cho dời nạn nhân đến rồi dùng trứng gà đập lên đầu, khi nào nạn nhân thấy nhột ở cổ thì khạc ra. Còn dân du mục (gypsies) thì dùng nguyên trái trứng lăn trên ngực nạn nhân trong khi lầm bầm đọc thần chú, xong, đập trứng ra sẽ thấy những vật thư lấy ra từ nạn nhân.

Cách gián tiếp là khi phù thuỷ dùng hình nộm hoặc hình ảnh, móng tay, quần áo ...vv. nói chung những vật thể thuộc về nạn nhân để hại người ấy . Thay vì hình nộm phù thuỷ có thể dùng một người cùng phái tính, cùng tuổi hoặc súc vật để ra tay. Những gì làm trên hình nộm sẽ xảy ra trên nạn nhân, điều lạ một khi giải thoát được một nạn nhân thì y như là trong gối hoặc nệm của nạn nhân ấy có những vật lạ như dây cà tha (chỉ 5 màu); móng tay; bím tóc bị buộc chặc; thú đang bằng nút (thường là chuột); mảng vải vấy máu; khúc cây; khúc sắt; cuộn dây kẻm cong queo hoặc búpbê bị đâm nát . Ðôi khi những vật này chỉ hiện ra sau khi gối hoặc nệm được Thánh Giá hoặc ảnh Ðức Mẹ chạm vào. Những vật lạ này phải được rảy nước phép trước khi đốt, tro hay những gì còn sót lại phải được bỏ xuống dòng nước chảy như suối hay sông và nhất là không nên đổ vào bồn cầu tiêu hay bồn rửa mặt trong nhà. Cha Candido Amantini kể rằng cái lỗi lầm ngài vấp phải lúc bắt đầu làm exorcist là ngày nọ khi cha exorcise một bé gái và sau khi câ.t vâ'n quỷ cha được biết là có một hex (như bùa ếm) được chôn dưới một gốc cây gần nha`. Cha đào lên, đó chỉ là một cái hộp bằng cây bên trong chư'a những món lỉnh kỉnh vô nghĩa, vì không biết nên cha chỉ đổ cồn và châm lửa. Từ đó và suốt 10 năm sau cha bị chư'ng đau bụng.

Bùa Yêu của tây phương mạnh không thua gì bùa yêu ở xứ ta. Thường thì phù thuỷ được mướn để làm chuyện này với một số tiền. Cha Amorth có kể lại chuyện một cô nọ mê vị hôn phu của bạn thân mình. Vì quá yêu anh chàng và sau một tời gian tìm cách mồi chày anh chàng không được cô nàng không tiếc tiền nhờ một phù thuỷ bỏ bùa yêu anh chàng này . Như các bạn đoán, hai người cuối cùng lấy nhau, và theo lời của anh chàng kia thì chẳng có gì gọi là hạnh phúc khi sống với nàng này, suốt ngày cứ như ở tù, không bỏ bà vợ được và luôn cảm nghĩ là mình bị áp lực cưới bà này.

Satan!!!



có 6 loại tai hại quỷ gây ra ngoài công tác chính của Satan là "cám dỗ" ta. Ðó là:

1). Bị hành hạ: Những trường hợp bị đánh đập nhừ tử hay bị roi vọt này thường xảy ra, tuy nhiên linh hồn của nạn nhân không bị ảnh hưởng gì. Saint Paul of the Cross; the Curé of Ars; cha Padre Pio và nhiều vị nữa vẫn thường bị . Trong hoàn cảnh này thì việc đuổi quỷ không cần thiết, chỉ cần cầu nguyện là được. Viết đến đây Nug chợt nhớ tới XiiXọn nhà mình kể chuyện nàng bị “ma chó” cứ nhè đùi mà cắn làm Nug phải bật cười mà tưởng tượng ra cảnh quỷ sợ Xọn quá chỉ dám suỵt chó ra cắn đùi Xọn và phải chờ lúc Xọn ngủ quỷ mới dám làm.

2). Quỷ nhập: Xảy ra khi thể xác (chỉ thể xác mà thôi) của người ấy hoàn toàn bị quỷ điều khiển. Quỷ nói và làm không cần sự đồng ý của người bị ám. Trường hợp này là trường hợp ghê gớm nhất trong mọi trường hợp bị quỷ ám, y như trong phim The Exorcist. Tưởng cũng cần nói lại sơ lượt về phim này, phim The Exorcist được dàn dựng trên chuyện có thật xảy ra ở Mỹ theo như Nug nhớ là vào năm 1942 và được một cha dòng Tên làm cố vấn kỷ thuật, phim được dựng nên với chủ đích nhắn nhủ loài người về sự hiện hữu của quỷ dữ chứ không phải đơn thuần chỉ để “giúp vui” khán giả bằng những màn rùn rợn, hồi hộp. Trước và sau khi phim được dựng xong có biết bao nhiêu vấn đề đã xảy ra như kho trử phim ở building 666 bị phát hỏa, phim bị mất ....vv. như có sức mạnh vô hình sự ngăn cản phim đến với khán giả. Trở lại chuyện quỷ ám, thường thì có ba việc lạ xảy ra cho người bị ám là nói tiếng lạ; sức mạnh vô song (có cô bé vóc dáng mảnh mai lúc bị quỷ ám cô này bị buộc chặc vào giường sắc có những thanh sắc to chắn ngang để chữa, vậy mà mà cô ta bẻ gẩy sắt và vặn những thanh sắc còn lại theo hình thước thợ mà không tỏ ra nhọc nhằn gì) và cuối cùng là biết đồ vật đang dấu hoặc làm những chuyện loài người không ai làm được. Tuy nhiên chuyện quỷ nhập không có standard, bằng chứng là có ít nhất hai lần cha Amorth đã gặp là người bị ám không làm gì cả và hoàn toàn im lặng trong lúc trong thời gian trừ quỷ. Trường hợp này hiếm xảy ra.

3). Bị quỷ áp bức: Triệu chứng thay đổi từ bịnh gần chết cho đến bịnh nhẹ. Không bị nhập như ở trên nhưng bị mất sáng suốt và nói hay làm vô ý thức, trường hợp này quỷ chỉ muốn làm cho người ấy đau đớn và đau khổ. Nhiều lần cha Amorth và cha Amantini chứng kiến nhiều người bị quỷ ác bức ảnh hưởng mạnh đến sức khỏe, việc làm và tình cảm của những người ấy.

4). Bị ám ảnh : Triệu chứng này gồm có những sự ám ảnh ghê gớm hoặc ngu xuẩn và nạn nhân không thể tự thoát ra được. Những nạn nhân này sống trong sự đau khổ tuyệt vọng và cuối cùng là đi đến tự vận. Thường thì những ám ảnh này xảy ra trong những giấc mơ . Nhiều người lầm lẫn việc bị quỷ ám ảnh với những bịnh tâm thần, tuy nhiên sau khi tìm hiểu cặn kẻ thì có nhiều triệu chứng mà những bịnh tâm thần (known to the world) không có. Chỉ có những người nhiều kinh nghiệm trong địa hạt này mới nhận ra. Ðọc đến đây Nug nhớ tới chuyện của anh bạn Vô Vọng năm rồi. Cha Peter có kể cho nghe một chuyện dính líu đế sự việc này là cặp vợ chồng VN nọ được 1 người bạn cho ở nhờ căn apartment trốn của chính phủ mà anh ta không muốn trả lại. Ngay sau đêm đầu quỷ đã dời bàn và đồ đạc trong nhà ...vv cuối cùng là loa máy hát bổng dưng phát ra tiếng lạ trong khi chẳng có dây nhợi gì gọi là connected up. Sợ nhất là cảnh khi vợ nhắm mắt ngủ thì thấy chồng cầm dao đâm vào cổ mình và ngược lại chồng thì thấy vợ cầm bàn ủi nóng định in vào mặt mình, nhưng khi mở mắt ra thì người này mới biết người kia đang ngủ say. Sau khi cha Peter mời quỷ ra khỏi đó và tìm hiểu thêm mới biết ngày xưa nhóm người ở trước đã làm lễ cúng bái Satan trong căn apartment đó.

5). Bị quấy phá : Từ nhà cửa, đồ vật, đến thú vật. Trong sách này cha không nói nhiều về những chuyện này nhưng chỉ chú trọng đến những ảnh hưởng đối với con người. Có một dẫn chứng về chuyện này xin kể lại ở đây. Một nhạc sư nỗi tiếng người Ý nhà bị quấy phá, những cảnh như là những cửa sổ đã khoá chặc bổng dưng tự động mở to, bộ giáp sắc để chưng ở phòng khách tự dưng “nhảy đầm”, bàn ghế giường tủ thì khỏi phải nói, muốn “đi” đâu thì tự động “đi”. Cha khuyên nhạc sĩ này mỗi ngày phải lấy nước phép (blessed water) nhỏ ở những cửa sổ và cửa chính mỗi nơi chừng một muỗn cà fê, vừa nhỏ vừa đọc kinh Lạy Cha. Suốt tuần đầu cửa nẻo và đồ vật không còn bị quấy phá như trước, tưởng thế là êm nhạc sĩ ấy ngưng nhỏ nước phép. Chỉ vài ngày sau thì mọi chuyện trở lại như xưa và có phần dữ tợn hơn trước. Cuối cùng cha đến làm “phép nhà” mới yên.

6). Làm nô lệ của quỷ : Việc này là do người ấy tự nguyện dâng linh hồn cho quỷ. Có hai cách. Cách thứ nhất là qua hiệp ước bằng máu với quỷ (devil) và thứ nhì là cúng tế với Satan.

Nếu các bạn để ý khi vào tiệm sách ở phần New Age (tạm gọi là “thời đại mới”) các bạn sẽ thấy nhan nhản những loại sách về phù thuỷ, ma thuật, bói toán ...vv thậm chí cách đây mấy năm Nug thấy hai cuốn sách bià đen mang tựa đề The Satanic Bible và The Satanic Ritual. Nug mua hết hay cuốn gởi tặng một cha dòng Tên làm tài liệu vì cha đang nghiên cứu về đề tài này . Chuyện Anton La Vey và Church of Satan có dịp Nug sẽ nói rõ hơn, tuy nhiên việc bành trướng lẹ làng của cái đạo quỷ này không thể làm ngơ. Một trong những công cụ quỷ dùng để kết nạp thành viên mới là heavy metal rock band. Lời nhạc và âm nhạc của những bands này không ca ngợi tình yêu hoặc những gì gọi là đẹp nhưng chỉ phỉ báng, nguyền rủa Thiên Chúa và ca ngợi sức mạnh vô địch của quỷ. Nó khích thích và gây tò mò những thanh niên thiếu nữ trẻ ở những nước tây phương để theo nó. Ða số những thanh niên thiếu nữ này không có hướng đi và có cuộc sống buông thả theo cao trào.

Trở lại chuyện bùa chú. Chắc ai trong chúng ta cũng thắc mắc là từ đâu mà mình bị bùa hay quỷ ám. Có một bạn đã hỏi câu này trong một topic nhưng vì bận rộn và cần nhiều thời gian để soạn thảo cho đề tài này nên Nug làm ngơ với niềm hy vọng sẽ có một bạn nào biết nhiều trả lời, đến nay vẫn chưa thấy bạn nào “động thủ”. Thôi thì Thánh Ý Chúa biết điều gì thì chia sẻ điều đó. Vì là người Công Giáo chỉ có thể nói lên chút ít kiến thức được biết trong vòng Ðạo Công Giáo. Nga cũng không có ước vọng truyền đạo nơi này hoặc so sánh tôn giáo, chỉ ao ước các bạn có thêm hiểu biết về đề tài có vẻ huyền bí trong thời đại và môi trường chúng ta đang sống. Bình tâm mà nói thì đạo Công Giáo ở VN ta chỉ có khoảng từ 6% đến 10% so với Phật Giáo, Ðạo thờ Ông Bà, Hòa Hảo, Cao Ðài ...vv. Nhưng ở những xứ tây phương thì “dân số” của đạo Công Giáo có tới số Tỷ, có lẽ đông dân cần nhiều nhu cầu mà tài liệu và sách báo nói nhiều về chuyện ma quỷ của Công Giáo dễ tìm hơn chăng. Và dĩ nhiên khi trình bài sẽ ít nhiều dùng những từ của đạo Công Giáo.

Núi Cấm





Thiên Cấm Sơn, còn gọi là núi Cấm thuộc Xã An Hảo, huyện Tịnh Biên (An Giang) – là một trong bảy ngọn núi nỗi tiếng linh thiêng trong tín ngưỡng của người dân ĐBSCL. Tử thuở xa xưa, đó là nơi tử địa, sơn lam chướng khí ngùn ngụt, chỉ có những đạo sỹ ẩn dật luyện phép tu tiên mới dám đặt chân đến.
Ngày nay, Thiên Cấm Sơn trở thành một khu du lịch tín ngưỡng. Quanh năm suốt tháng, người hành hương khắp các nơi đổ về chiêm bái Phật và phiêu lưu khám phá gần hàng trăm am cốc – nơi lưu dấu những bậc chân tu vạch rừng, trị hổ, khai sơn, phá thạch tìm nơi tĩnh lặng tu luyện phép thần thông.
Chúng tôi lên đỉnh Thiên Cấm Sơn tìm hiểu những phận người bám núi.

Vượt qua khỏi chiếc cổng soát vé của văn phòng Ban Quản lý khu Du lịch, vượt khỏi dãy quán trùng điệp dưới chân núi và hàng trăm lời chào mời mọc giữ xe, mời mọc đi Honda ôm, chúng tôi cho xe mô tô chạy thẳng lên đỉnh núi. Không ít điểm giữ xe gọi mời chúng tôi theo kiểu “chợ búa”: “Ê! Gởi xe đây này. Honda ôm đây này. Không ai cho khách chạy xe lên núi đâu”. Tưởng chỉ là lời dọa suông để kiếm khách của cánh Honda ôm, không ngờ, khi vượt qua khỏi vạt chân núi, chuẩn bị rú ga lên dốc, chúng tôi phải dừng xe trước một cái barie xấu xí chắn ngang đường. Một thanh niên mặc áo xanh – Loại áo đồng phục của cánh Honda ôm – bước ra, bảo: “Xe không được lên núi. Muốn lên núi, anh chị phải gởi xe ở đây, giá 2000 đồng/ chiếc rồi thuê xe Honda ôm 50.000 đồng/ cuốc lên, cuốc xuống”. Chúng tôi trình giấy tờ, anh chàng giãn gương mặt ra cười rồi khoát tay cho qua. Sau này chúng tôi được http://phongsuvietnam.com/admin/admin.php?op=newsadminhomebiết chỉ có xe của lực lượng Honda ôm, xe du lịch của Cty Du lịch Lữ hành Núi Cấm và của người dân sống trong khu vực du lịch mới được lên núi.
Đường lên núi dài khoảng 8 km và dốc nghiêng suốt từ 10 đến 15 độ cùng với nhiều khúc cua “tử thần” khiến chiếc mô tô 150 phân khối của chúng tôi cứ ì è gầm rú. Chỉ cần chiếc xe tắt máy giữa chừng, đứt thắng hoặc tuột xích, độ dốc ấy có thể “đưa” chúng tôi lộn nhiều vòng về đến tận chân núi. Mặt đường tráng nhựa, rộng rãi, có biển báo và thanh chắn bảo vệ nhưng một bên là vách núi dựng đứng, một bên là thung lũng thăm thẳm, những ai yếu tay lái không thể chinh phục nỗi đoạn đường.
Những chiếc Honda ôm đã được thay loại nhông xích dành cho leo núi nên cứ chạy bon bon qua mặt chúng tôi vì vèo. Kể cũng phải, với độ nghiêng của mặt đường như vậy, nếu cho xe khách tự do lên núi thì vào mùa lễ hội cúng chùa, hàng ngàn lượt khách/ ngày sẽ khiến nhiều tay lái chưa có kinh nghiệm vượt dốc đèo sẽ gây nhiều phiền toái cho các bệnh viện.
Anh Danh – Một tay lái của Nghiệp đoàn (NĐ), vốn là dân “nghèo có sổ” vì phải nuôi 3 đứa con ăn học mà chẳng có miếng đất cắm dùi. Anh vay được chút vốn XĐGN, “làm gân” mua trả góp chiếc xe “tàu” chạy Honda ôm từ năm 2006. Mỗi tháng nộp quản lý phí cho NĐ 3.000 đồng và mỗi ngày nộp bến bãi sắp tài 2000 đồng, đồng thời nhín ra chút đỉnh trả góp tiền mua xe, anh có thu nhập trung bình hơn 70.000 đồng/ ngày, thế là thoát nghèo ngay tắp lự. Nhờ vậy, mấy đứa con anh ăn học đầy đủ. Anh nói: “Nếu chịu khó chạy Honda ôm là hết nghèo”. Anh khoe, mới đóng tiền học nghề cho thằng con trai lớn vừa học xong phổ thông. “Khi nào thằng nhỏ học nghề xong, tui đóng tiền cho nó đi XKLĐ. Vậy là khỏe re”.
Khi trở xuống núi, chúng tôi gặp anh Ba Chung, có tên khai sinh là Nguyễn Trung Thành. Ba Chung là người khai sinh và cũng là Chủ tịch NĐ xe Honda ôm Núi Cấm. Ba Chung cười khà: “NĐ xe Honda ôm Núi Cấm đã XĐGN, GQVL cho hơn 400 người của 2 xã An Hảo và Tân Lợi của Tịnh Biên đó”.
Ngày xưa, con đường độc đạo lên Núi Cấm hành hương chỉ có thể đi bộ bằng chân. Năm 2001, Chính quyền An Giang đầu tư hàng tỷ đồng thi công con đường lên núi để khai thác du lịch. Thuở ấy, chỉ có cánh Honda ôm lái lụa mới dám chở người lên đỉnh núi. Do mạnh ai nấy chạy nên cảnh giành khách, đánh lộn xảy ra thường xuyên. Để chấn chỉnh tình trạng bát nháo, năm 2004, Ba Chung đứng ra xin Chính quyền xã cho phép thành lập NĐ để đưa những tay lái lụa vào tổ chức, khuôn khổ.
Khi NĐ hoạt động nề nếp, nhiều anh em địa phương thuộc diện Bộ đội xuất ngũ, người Dân tộc thiểu số, nghèo khó, thiếu đất sãn xuất, thiếu vốn muốn chạy xe Honda ôm, Ba Chung dẫn ra cửa hàng bán xe bảo lãnh đề mua xe trả góp. Lẩm đẩm, đến nay đã có gần 200 chiếc Honda ôm do chính Ba Chung bảo lãnh.
Để tránh việc một số khách tham quan đem xe Honda theo chạy liều lên núi dễ gây tai nạn, NĐ đành phải làm rào chắn. Việc này làm một số người khó chịu, tuy nhiên, để đảm bảo tính mạng cho khách tham quan viếng chùa, Chính quyền xã ủng hộ việc làm này. Số xe tham gia NĐ đều được mua BH cho tài xế lẫn hành khách. Anh Danh – Một Đoàn viên NĐ cho biết: “Từ hồi lập NĐ tới giờ, chưa từng có tai nạn giao thông xảy ra trong khu du lịch Núi Cấm này. Tại vì kinh phí eo hẹp, cái barie chắn đường chưa được khang trang cho lắm”. Để tránh phiền toái cho cư dân sống trong khu vực du lich, NĐ làm hai loại biển số gắn trước đầu xe. Xe của NĐ thì gắn biển xanh có số mã kèm theo chữ XK, còn xe của “dân sự” thì gắn biển vàng có mã số kèm theo chữ XN.
Không chỉ biết kiếm tiền, dân NĐ còn làm được nhiều chuyện xã hội “đỡ hổng nổi” như bắt cướp giật, móc túi, chữa cháy. Mấy năm trước, cứ đến mùa khô là xảy ra vài vụ cháy. Cứ nghe hiệu lệnh báo cháy, dân NĐ tự giác kéo xe lên núi cả trăm người tham gia cứu cháy trước khi lực lượng chuyên nghiệp có mặt. Nhờ vậy, NĐ liên tục nhiều năm được huyện, tỉnh tặng bằng khen về thành tích chữa cháy. Riết thành quen, giờ người ta xem dân NĐ là lực lượng chữa cháy “chuyên nghiệp” tại chỗ. NĐ còn xây hàng chục nhà tình thương cho bà con nghèo trong 2 xã, làm “dân phòng gác đêm”, làm nhân viên cứu hộ một cách tự nguyện. Hồi năm 2006, con đường lên núi thi công giai đoạn cuối không thể đi được, anh em trong NĐ hùn công sức để mở một con đường mòn cho bà con hành hương đi từ chân núi lên chùa Phật nhỏ, sang chùa Phật lớn dài hàng chục cây số.
Nhiều anh em đã từng lè phè, giờ vào NĐ sống có trách nhiệm với bản thân hơn. Nhiều anh em nghèo rớt nay khá giả như anh Huy, anh Sanh, anh Mách…
Đầu năm 2008, Cty Du lịch Lữ hành An Giang bắt đầu đưa xe du lịch 7 chỗ lên phục vụ khách tham quan lên núi. Tuy chia sớt bớt lợi nhuận nhưng anh em cũng vui.
NHỮNG THÂN PHẬN MỒ CÔI DƯỚI CHÂN ĐỈNH MỒ CÔI
Hôm sau chúng tôi lại vượt đèo lên đỉnh núi Cấm, dự định tìm lão Ba Trui – Vị đạo sỹ cuối cùng của thế kỷ 21 đi khai sơn phá thạch ẩn dật từ giữa thế kỷ 20 trên ngọn núi linh để tìm chân lý đạo pháp của đất trời, nay đã gần 100 tuổi. Thế nhưng chúng tôi đổi ý định khi biết ở vồ Mồ Côi có một người đàn ông bình thường đang nuôi dưỡng 12 đứa trẻ bị chính cha mẹ đẻ từ bỏ.
Mồ côi là một trong số vài chục mỏm núi nhỏ mọc chi chít trên mình Núi Cấm. Người dân địa phương gọi những mỏm núi nhỏ ấy là “vồ”. Vồ Mồ Côi thuộc tổ 4 của ấp Vồ Đầu, xã An Hảo, nằm ở sườn phía Tây của đỉnh núi chính. Lý giải về cái tên “Mồ Côi”, một người sống lâu năm trên núi cho biết: “Vì nó lẻ loi, cheo leo, trên sườn núi nên người đời xưa đặt tên như vậy”. Theo lời một người dân địa phương, để sang được bên đó, phải cắt rừng vượt qua 5 ngọn đồi trắc trở.
Biết tôi có ý định sang vồ Mồ Côi, anh Hồ Hồng Sơn, thường được gọi là Sơn Cụt, là người đến núi sinh sống từ năm 1975 đến nay, tự nguyện làm người dẫn đường. Trước khi lên đường, chúng tôi gặp anh Lê Đình Bàn - Ủy viên thư ký Chi bộ ấp Vồ Đầu. Anh Bàn cùng tham gia chuyến đi.
Sáng sớm, nắng tháng ba hanh hao chan hòa khắp ngọn núi khiến những đám mây la đà trông như sương khói chỉ dám trôi phớt qua tít đàng xa, nơi những vạt rừng xanh thẳm phía lưng chừng núi. Chúng tôi tiến vào cánh rừng đầy nắng, men theo những con đường mòn đầy xác lá khô. Chỉ ít phút sau, cánh rừng tối thẳm vì những tán cây đan lá chằng chịt trên cao. Chúng tôi đã phải dò từng bước thận trọng khi xuống và đi bằng “4 chân” khi lên lúc vượt qua những thung lũng dựng đứng, đá lởm chởm. Nhân lúc nghỉ chân bên bệ đá ven đường, Sơn “cụt” bảo: “Cách nay 30 năm, nơi đây chỉ toàn cây đại thụ, gốc khoảng 4-5 người ôm không xuể. Do khai thác quá nên bây giờ chỉ còn cây nhỏ và thưa”.
Gần 2 giờ lầm lũi trèo đèo vượt dốc giữa rừng núi hoang vu vắng lặng, cuối cùng chúng tôi gặp một tốp 4 thanh niên tay cầm búa đẽo, tay cầm ná thun đi ngược chiều. Đó là những thợ săn thằn lằn bay – Một loại bò sát có cánh, mà các nhà sinh vật học đã từng tuyên bố tuyệt chủng. Thế nhưng nơi đây, giống vật này vẫn còn hiện diện. Có lẽ đây là thông tin đáng sốc đối với các nhà khoa học. Chúng tôi sẽ trở lại đề tài này trong dịp khác, bởi hiện tai, thông tin gây sốc nhất đối với chúng tôi mà cánh thợ săn cho biết: Chúng tôi đã đi lạc.
Sau khi nghe chúng tôi trình bày lý do “rảnh hay sao mà vô rừng?”. Nhóm thợ săn vui vẻ đưa chúng tôi cắt ngang cánh rừng đến nơi cần đến. Chúng tôi lại “bò lổm ngổm” lên 2 ngọn đồi cao um tùm cây nguyên sinh. Chốc sau, một ngôi nhà mái tôn ẩn hiện phía dưới một con dốc. Anh Bàn bảo: “Nhà anh Bông đó”. Chúng tôi không thể thở hồng hộc nhưng nhẹ nhỏm. Chủ nhân ngôi nhà đang quay quần giữa một đám trẻ cười khà khà chào chúng tôi: “Sao thở dữ vậy?”. Đám trẻ chi chit 10 đứa không sợ khách lạ. Chúng thân thiện bao quanh hỏi han. Chủ nhân đón chúng tôi vào nhà theo kiểu “tứ hải giai huynh đệ”, không khách sáo, không lễ mễ.
Một đứa trẻ khoảng 18 tháng tuổi đang đứng trong lồng củi bú sữa bình, vừa trông thấy X.D. đã khóc thét đưa tay đòi bế và không thể tách ra được.
Sau vài ly trà, chủ nhà bắt đầu tâm sự: “Tôi vốn là bộ đội, quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia…”. Anh tên Nguyễn Tấn Bông sinh năm 1965, quê quán ở Bình Thủy, Cần Thơ.
Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, năm 1987 anh xuất ngũ về Bình Thủy, Cần Thơ đảm nhiệm chức vụ Xã đội phó quân sự. Năm 1991, mẹ anh bị bệnh nan y cần điều trị bằng thuốc nam. Nghe đồn thuốc của mấy đạo sỹ Núi Cấm hay, hàng tháng, anh đưa mẹ đi xin hốt thuốc một lần. Sau vài lần điều trị bằng thuốc nam, thấy bệnh thuyên giảm, mẹ anh ngỏ ý muốn ở lại núi luôn để tiện trị bệnh. Không nỡ để mẹ ở núi một mình, anh xin nghỉ việc, gom chút tiền lên chân núi sang lại một quán cà phê vừa kiếm tiền sinh nhai vừa nuôi mẹ trị bệnh. Năm đó, dân núi trồng rẫy hoa màu dưới tán rừng rất khấm khá, anh nhờ người quen đứng tên mua lại 30 công đất trên vồ Mồ Côi để sản xuất. Vồ Mồ Côi là nơi gần như tận cùng của triền núi phía Tây, đi lại rất khó khăn vì vậy, giá sang nhượng rẻ, phù hợp với túi tiền vốn khiêm tốn của anh. Vừa giữ rừng, vừa sản xuất hoa màu, vừa gánh thuê kiếm tiền, anh khấm khá dần. Thấy anh có đạo đức, bà con địa phương đề cử anh làm Phó ban Nhân dân ấp vào năm 1997. Năm 1998, thấy mình không thể làm tròn nhiệm vụ, anh xin từ chức.
Năm 2001, nghe tin em gái ở quê Cần Thơ sắp sinh con, anh Nguyễn Tấn Bông đưa mẹ về thăm. Người em rể đưa vợ vào bệnh viện phụ sản Cần Thơ để sinh nở gặp một người phụ nữ nghèo làm thuê bị ông chủ cưỡng dâm mang thai, hiện không có tiền đóng viện phí. Nghe em rể kể, anh động lòng đưa mẹ vào bệnh viện tìm gặp kẻ hoạn nạn để giúp đỡ chút tiền. Vừa gặp anh, người phụ nữ khóc, bảo: “Tôi không nhà cửa, không tiền, sinh xong, không biết phải làm sao để nuôi con. Nếu anh có lòng từ tâm xin nhận nuôi dùm con tôi”. Động lòng trắc ẩn, anh bàn với mẹ nhận lời mặc dù đứa trẻ chưa ra đời. Hai mẹ con anh thay phiên làm thân nhân chăm sóc người phụ nữ khốn cùng đó đến nỗi người của bệnh viện ngỡ anh chính là người chồng.
Sinh xong, bệnh viện làm thủ tuc cho anh nhận con nuôi. Anh mang đứa trẻ sơ sinh về núi nuôi bằng sữa bình. Đứa trẻ ấy anh đặt tên là Sơn Ngọc, giờ đã 7 tuổi.
Một năm sau, có người phụ nữ sinh xong bỏ con lại bệnh viện rồi trốn. Bệnh viện nhờ người gọi anh để giao. Thế là anh nhận đứa thứ hai, thứ ba rồi đến đứa thứ 12 trong suốt 5 năm. Chỉ riêng năm 2003, anh nhận đến 4 đứa. Dù không vợ nhưng anh chăm sóc tất cả những đứa trẻ ấy rất tốt. Đứa nào cũng khỏe mạnh. Duy nhất chỉ có cháu Nguyễn Sơn Thành, anh nhận về nuôi trong tình trạng cháu mắc bệnh úng thủy não. Mặc dù đã có khuyến cáo bệnh tình của cháu nhưng anh không thể từ chối. Anh đã chấp nhận tốn hàng chục triệu đồng để chữa chạy cho cháu nhưng cuối cùng cháu cũng không khỏi ở tháng tuổi thứ 8. Anh rưng rưng nước mắt khi kể về cháu Thành: “Tôi như đứt ruột gan. Tuy không sinh nhưng số phận đã đưa nó đến với tôi”. Anh hoàn toàn không quan tâm về nhân thân của cha mẹ các cháu: “Chúng là những sinh linh vô tội. Cha mẹ chúng đã vì một hoàn cảnh éo le nào đó không thể nuôi được. Mình có điều kiện thì mình nuôi. Tôi nghiệm ra rằng, ở đời, không cần tu cao, luyện lâu mới tìm ra chân lý của đạo pháp. Tôi là người trần tục, tôi tìm thấy hạnh phúc trong việc chia sẻ tình thương với đám trẻ bất hạnh gánh tội thay cho cha mẹ này”.
Tất cả những đứa trẻ đều được sinh ra ngoài ý muốn của cha mẹ. Có người mẹ vì một phút ham vui, xao lòng trước lời tán tỉnh của kẻ sở khanh. Có người mẹ, sau khi nhờ anh nuôi nấng cứ bịn rịn khóc không thành lời.
Những đứa trẻ sơ sinh mới về nhà thường khóc quấy đòi hơi ấm của người mẹ, anh đã phải thức suốt ngày đêm ấp trong vòng tay thương yêu của mình mà lòng như xát muối. Có khi, nhìn những gương mặt ngây thơ ngủ ngon, anh buồn cho những người mẹ xa con.
Chưa vợ nhưng lại nhận con nuôi, anh cũng chịu không ít lời đàm tếu. Có người độc miệng, bảo rằng, anh có thói trăng hoa nhưng trốn trách nhiệm nên bị các cô gái ném trả con. Anh cười hiền: “Rồi họ sẽ hiểu sau. Mình làm việc thiện là làm cho chính mình chứ không phải làm cho miệng đời khen chê. Tôi không trách ai cả”.
Em gái ruột của anh Bông có kinh tế ổn định đã chia sớt với anh một đứa nên hiện giờ anh chỉ nuôi 10 đứa. Trong đó chỉ có một cô con gái được đặt tên Nguyễn thị Cẩm Như mới 4 tuổi. Tất cả con trai anh đều đặt tên lót là Sơn. Chú nhóc nhỏ nhất tên Nguyễn Sơn Minh chỉ vừa tròn 18 tháng tuổi.
Chúng tôi hỏi về việc anh tự bỏ tiền của mở một con đường đi vào vồ Mồ Côi, anh bảo: “Tháng 8 sắp tới, thằng con trai đầu Sơn Ngọc đã đến tuổi đi học, tôi phải mở đường cho nó đến trường. Đường mở xong, xe Honda leo núi chạy ra tới trường được”. Thì ra, anh đã mở một con đường mới cắt rừng. Vì không biết nên khi vào chúng tôi đã đánh một vòng khá xa bằng con đường hiểm trở.
Tất cả những đứa con của anh Bông đều hiếu động nhưng ngoan ngoãn vâng lời cha. Điều đó chứng tỏ anh giáo dục chúng rất tốt. Có lẽ nhờ được rèn luyện trong quân ngũ, anh Bông đã dạy bọn trẻ ngăn nắp, vệ sinh. Đứa nào cũng sạch sẽ, tươm tất.
Nhìn bọn trẻ vô tư quấn quít bên nhau chơi đùa chúng tôi tin rằng số phận chúng đã thay đổi từ bất hạnh sang hạnh phúc khi gặp một người cha như anh. Nói về tương lai, anh bảo: “Tôi sẽ nuôi chúng tươm tất, ăn học đàng hoàng cho đến năm 18 tuổi. Khi ấy, chúng muốn tìm lại cha mẹ, tôi sẽ giúp chúng”. Chúng tôi hỏi: “Vì sao anh chưa lập gia đình?”. Anh cười buồn: “Ngày xưa, tôi đã từng yêu thương một cô gái nhưng gia đình cô ta từ chối. Cho đến giờ, tôi vẫn không có ý định ở một mình đâu nhưng liệu có người phụ nữ nào chấp nhận cảnh sống núi rừng, nuôi bầy trẻ mồ côi của tôi? Thôi, tới đâu hay tới đó. Vả lại, nguồn vui của tôi bây giờ là những đứa con ngoan”.
Cháu Sơn Ngọc lớn nhất trong bọn trẻ nói ngây thơ: “Lớn lên, con sẽ đi làm để nuôi cha và bà nội. Con sẽ học thật giỏi để làm người lớn”. Cái ý nghĩ ngây ngô của đứa trẻ không còn mồ côi nữa đã khiến chúng tôi xúc động. Anh khoe: “Tôi vừa hoàn tất thủ tục để nhập hộ khẩu cho tụi trẻ”.
Chúng tôi bắt gặp 2 tấm bằng treo trân trọng trên vách nhà. Đó là Huân Chương Chiến công hạng 3 do chủ tịch Nước trao tặng vì đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia và bằng khen của Chi cục Kiểm lâm An Giang về thành tích phòng chống cháy rừng. Cả hai tấm bằng đều trao tặng cho anh.
Chúng tôi chia tay trở về bằng con đường của anh dọn chuẩn bị cho bọn trẻ đi học. Khác với đường mòn của thiên nhiên. Con đường này cũng ngoằn nghoèo dốc đứng, ưỡn ẹo đèo sâu, có đoạn phải khoét sâu xuống núi hơn 1 mét nhưng không thể đi lạc. Con đường nối trái tim anh Bông dài đến trường học để bọn trẻ làm người lớn.
Hình như đây đó trong lòng núi thiêng, một chân lý đời đang tỏa sáng. Chúng tôi bỏ ý định tìm gặp vị đạo sỹ cuối cùng của thế kỷ.
THEO CHÂN THỢ SĂN “CON THUỐC”
Sáng tinh mơ, những vạt mây trắng xoá vắt ngang vồ Thiên Tuế khiến mọi thứ cứ mù mờ ẩn hiện.
Đúng hẹn, Thiện đón chúng tôi tại ngưỡng rừng dưới chân tượng Phật Di Lặc. Thiện không phải dân núi mà là dân chợ Tịnh Biên. Là dân chợ nhưng anh không bám chợ mà bám núi làm thợ săn. Thiện toét lớp da đen thui trên mặt mở hàm răng trắng toát ra cừơi: “Thợ săn trên núi Cấm ngày xưa chuyên săn heo rừng, hổ dữ, thời nay, thợ chỉ có cơ hội săn thằn lằn”. Săn thằn lằn đúng nghĩa chứ không phải nói bóng gió, có điều, đó là loai thằn lằn bay, có cánh. Ngoài ra, Thiện còn săn con nhện hùm - một loại nhện độc to ằng nắm tay người, rất hung dữ. Thằn lằn bay và con nhện hùm là hai loại được các thầy thuốc Đông y ưa chuộng.
Dụng cụ của Thiện chỉ là chiếc dàn thun bắn bi đất sét, cái túi vãi đựng “chiến lợi phẩm”, bình ton nước uống và nắm cơm vắt.
Chúng tôi khởi hành khi tia nắng đầu tiên bắt đầu rơi xuống núi. Thiện mở đường đi trước. Từ chân vồ Thiên Tuế, chúng tôi cắt rừng đi về hướng điện Bát Tiên trong cái âm u rừng thẳm và tĩnh lặng của thiên nhiên. Rừng núi Cấm không bằng phẳng mà chập chùng từng con dốc. Trong khi Thiện đi thoăn thoắt, chúng tôi phải tận dụng hai tay, hai đầu gối và cả khuỷu tay để ôm từng gốc cây, lần từng ngọn nguyên sinh tiến tới. Vậy mà có lúc vẫn trượt chân suýt ngã lăn. Có những đoạn dốc dài và sâu hút mắt, chỉ cần sơ ý, chắc chắn trong phút chốc, người bị ngã sẽ lăn lộn tùng phèo xuống nắm ngay đơ cán cuốc dưới kia.
Con người đã tàn phá mất sạch vẻ nguyên sơ của rừng cổ thụ, giờ chỉ còn lại những loại cây nhỏ. Khi bò dưới những hốc đá ẩn nấp trong những thung lũng âm u, chúng tôi cảm nhận rất rỏ nỗi hoang mang trước sự câm lặng, kỳ bí của những hang sâu lạ lẫm xuất hiện giữa thân khối đá khổng lồ. Những cái hang to khoảng 1 mét đường kính, ăn sâu hun hút vào lòng đá, nếu không do thiên nhiên tác tạo, bàn tay con người thưở nguyên sơ hoang dã không thể đục khoét nỗi.
Chúng tôi bám dây rừng leo xuống một cái hang nhỏ, có đường kính khoảng 40 cm nằm lưng chừng dưới vách một tảng đá to bằng 2 tầng lầu bị dây leo che phủ gần hết. Miệng hang nhẵn thính như có ai đó dùng công cụ mài đá hiện đại tạo nên. Lòng hang sâu thẳm, đen ngòm. Chúng tôi định đưa tay vào khua khắng, Thiện thét: “Đừng! Chết như chơi đó. Coi chừng có một gia đình rắn độc nằm trong đó thì bà hú cả đám”. Thiện kể, vào khoảng năm 1999, một gia đình ở Châu Đốc lên đây làm tiều phu. Một buổi trưa, khi cả gia đình núp dưới một vách đá ngủ lấy sức, đứa con trai 12 tuổi chui thân mình vô một cái hang, thò đầu ra ngoài ngủ. Đến giờ làm việc, người cha đến lay con dậy, gọi hoài nó vẫn không chịu thức. Bực mình, ông ta túm đầu thằng con lay mạnh. Không ngờ, cái đầu rơi ra lăn lông lốc. Toàn thân thằng bé đã bị một loài vật nào đó trú trong hang rỉa rói ăn sạch. Ông ta căm tức chất củi đốt hang. Khi lửa đang cháy, có một cái gì đó vừa giống một con rắn có lông lá, vừa giống một cánh tay thò ra đập dập tắt lửa. Ông tiều phu hoảng sợ dắt vợ bỏ rừng không dám làm tiều phu nữa.
Chúng tôi rợn mình trước câu chuyện nữa hoang đường nữa hiện thực. Thiện tiếp tục câu chuyện: “Ở vùng núi này có rất nhiều hang không có đáy. Nhiều người lớn tuổi cho rằng, những cái hang này là con đường ăn thông giữa trần gian và địa ngục. Vì vậy, nó không có đáy”. Chúng tôi ném thử một hòn đá to bằng nắm tay và chờ đợi tiếng chạm đáy. Hoặc hang quá sâu hoặc hang không có đáy thật. Chúng tôi chờ đợi mãi không thấy tiếng đá chạm đáy.
Ở một cái hang to khác, một nguồn nước mát lạnh nằm ứ trong lòng đá. Nơi cửa hang, có ai đó bày một bệ nhỏ cắm đầy chân nhang. Nhiều người hành hương đến đây múc nước này đem về uống, tắm để trị bá bệnh. Nước lạnh như sắp đông đặc. Điều lạ là nước không bao giờ cạn, kể cả lúc hạn hán kéo dài. Có năm rừng bị cháy, dân địa phương đặt máy bơm vào hang lấy nước chữa cháy. Bơm suốt ngày, mực nước vẫn còn nguyên, không tuột xuống chút xíu nào. Có người gọi là hang nước, có người gọi là giếng thần .
Đó là những cái hang thuộc dạng “vô danh tiểu tốt”, vì núi Cấm có hàng trăm hang, động linh thiêng có tên gọi. Những cái tên gắn liền với hàng trăm chuyện linh thiêng. Vì linh thiên nên các đạo sỹ ngày xưa chọn làm nơi ẩn thân tu luyện và những cái hang đó trở thành “điện thờ” như: Hang Má Đẻ; Hang Tông; Hang Ông Thẻ; Hang Cửu Phẩm; Hang 13 tầng; Hang Thơm; Hang Bạch Hổ; Hang Bát Dật lang; Điện Bát Tiên… Một hang, mỗi điện đều có nhiều câu chuyện huyền bí của những vị đạo sỹ nay đã thành thánh, thần trong cõi tín ngưỡng.
Khi đi ngang một vạt nguyên sinh um tùm, chợt Thiện khoát tay ra hiệu yên lặng. Anh ta khom người tiến nhẹ nhàng đến một gốc cây, tay lăm lăm chiếc ná thun. “Chíu”, tiếng bi bay xé gió về hướng ngọn cây. Một sinh vật bay vút sang ngọn cây khác rồi mất hút. Thiện tiếc rẻ: “Hụt rồi!”. Một con thằn lằn bay vừa thoát chết. Thiện bảo, mùa này không phải mùa săn thằn lằn vì tiết trời đang hanh khô. Mùa này, thằn lằn trú mình trong những bọng cây, ít ra ngoài. Khi những cơn mưa mùa kéo đến là lúc thằn lằn bay ra tìm bạn tình phối giống. Đó là lúc thợ săn “hành quân” ngày đêm.
Thằn lằn bay có thân hình không khác thằn lằn nhà bao nhiêu. Chỉ khác một điểm là dưới nách hai chân trước, thằn lằn bay có một lớp màng mỏng xòe ra thành cánh. Chúng không vỗ cánh bay như chim mà phóng vào không trung rồi chao liệng qua cành cây khác. Vào mùa giao phối, khi chiều tà, những gã đói tình bay chấp chới trong không trung, thợ săn bắn đại lên trời cũng dính ít nhất một con. Tuy nhiên, đó là chuyện xưa. Ngày nay, do các thương lái từ khắp nơi để về lùng mua, thợ săn không chờ đến mùa giao phối, ngày não cũng đi “quần”, thằn lằn bay hiếm dần theo từng ngày. Thiện nghe ông nội của mình kể, ngày xưa, thợ săn bắt được thằn lằn bay nặng nửa ký, to bằng cổ tay là chuyện bình thường. Hiện nay, mỗi con thằn lằn bay thợ săn bán mối cho thương lái giá từ 2000 đồng đến 4000 đồng một con, tùy theo độ lớn nhỏ. Thương lái căng cánh, phơi khô bán lẻ cho khách mỗi con từ 4000 đồng đến 10.000 đồng. Từ dạo bắt đầu đi săn đền giờ, Thiện chỉ bắn được con lớn nhất cỡ bằng ngón tay cái.
Vào mùa, mỗi ngày, thợ săn như Thiện bắn được khoảng 30 con. Còn mùa này, có khi đi suốt ngày bắn được 2 con vừa đủ mua gạo nấu là may.
Ngoài ra, cánh thợ săn còn lùng bắt con nhện hùm khi có người đặt hàng. Nhện hùm là loại ở hang. Chúng đào hang dưới đất, bên ngoài phủ nhiều lớp tơ để bẫy côn trùng. Nhện hùm núi Cấm to bằng nắm tay, lông lá đen thui, nướng trên bếp than củi hoặc chiên giòn ăn ngon và trị được chứng bệnh đau nhúc xương cốt. Nhên hùm không nuôi được, để trong lồng vài ngày là chết, người mua - thông thường là các thầy thuốc đông y- luôn yêu cầu tươi sống nên chỉ khi có ai đặt hàng, thợ săn mới đi lung sục. Mỗi con nhện hùm, thợ săn bán cho thương lái giá 15.000 đồng đến 30.000 đồng. Thương lái bán lẻ giá từ 50.000 đồng đến 80.000 đồng/ con, tùy lớn nhỏ. Để trả giá cho miếng cơm manh áo, thợ săn thường chịu cảnh “trùm mền rên” do nhện hùm cắn. KHi nhện cắn, nhẹ thì trùm mền suốt tuần lễ, nặng thì tử vong nếu đi bệnh viện không kịp. Vì vậy, hầu như mỗi thợ săn đều có một món thuốc “giấu”. Thuốc “giấu” là một món thuốc bào chế từ Đông y kết hợp bùa ngãi. NGoài thuốc “giấu” ai cũng có một “bảo bối” bên mình. Người thì mang nanh cọp, người thì mang nanh heo, móng cá sấu đã được các đạo sỹ “sên” bùa. “Với những người một mình bám rừng sâu, núi thẳm để tìm cái ăn như tui, không dựa vào thần linh bùa chú thì bám vào cái gì? Khi sơ ý, trượt chân treo mình tòn teng trên vách đá giữa rừng sâu, tụi tui phải lấy khoa học điện tử hay lấy học thuyết Đác Uynh ra cầu cứu à? Có thoát chết vài lần trong trường hợp ngặt nghèo, con người mới tin rằng có sự hiện hữu của thế giới huyền linh sonh hành cũng thế giới đang sống. Tui đã từng là kẻ vô thần đó nghen”.
Sau này, chúng tôi mới biết, Thiện đã từng là giáo viên môn sinh vật. Cái nghèo năm 1984 đã đẩy Thiện ra khỏi cái nghề giới thiệu sinh vật, đẩy anh vào rừng tàn sát sinh vật. Đáng lẽ anh phải là người bảo vệ sinh vật quý hiếm mới đúng chỗ.
Suốt một ngày theo chân Thiện quần thảo nát một vạt rừng, chúng tôi không gặp thêm được một con thằn lằn nào ngoài con đã bắn hụt. Hai tốp thợ săn gặp dọc đường cũng trắng tay như chúng tôi.
Du không chứng kiến tận mắt những con thằn lằn bay còn sống nào, bù lại, chúng tôi có dịp hiểu thêm chút ít về một góc khuất bí ẩn của rừng thiêng Thiên Cấm Sơn.
DƯỚI BÓNG NỤ CƯỜI PHẬT DI LẶC
Chúng tôi quay trở lại Vồ Đầu lần thứ tư trong một chuyến công tác. Lần này, tôi gặp anh Lê Văn Thật, hiện là tổ trưởng tổ 2 của ấp Vồ Đầu. Anh Thật là một trong những cư dân đầu tiên của ấp này từ thuở…phá sơn lâm.
Trước năm 1975, Núi Cấm được xem là vùng trắng không dân thuộc xã Trắc Quan của tỉnh Châu Đốc. “Vùng trắng” có nghĩa là nằm ngoài vùng kiểm soát hành chánh của Chính quyền. Anh Thật vừa phi thuốc lào bằng điếu cày làm bằng vỏ chai rượu Henessy vừa lim dim mắt “ôn cố tri tân” đời người trên ngọn núi “trời cấm cửa” này: “Trước năm 1975, trên núi này chỉ có 3 hạng người. Đạo sỹ tu tiên. Dân nghèo và … lâm tặc. Tôi lên đây năm 1970 để làm lâm tặc phá rừng hầm than. Thời đó, cẩm lai, trắc, gỏ đỏ hay gỗ mun to bằng 5, 6 người ôm đều bị hầm than hết. Thú dữ vẫn còn nhan nhản”.
Năm 1970, tại vùng Vồ Đầu chỉ có khoảng 20 hộ dân và vẫn còn hơn 20 đạo sỹ ẩn cư. Nếu tính khắp ngọn núi Cấm, con số đạo sỹ có thể lên đến cả trăm người. Mỗi đạo sỹ chọn một góc rừng, hang núi làm chỗ tịnh thiền, tu luyện. Có đạo sỹ ẩn thân một mình và cũng có những đạo sỹ thu nhận đệ tử, khai vỡ đất trồng lúa cho…heo rừng phá. Nhiều đạo sỹ nhưng nỗi danh có thể kể như: Đạo sỹ Đức Minh (hệ phái Phật Giáo); Đạo sỹ Ba Đạo (Thần Quyền Thất sơn); Đạo sỹ Năm Đức (luyện phép tiên ở Vồ Ông Bướm); Đạo sỹ Năm Cao (luyện phép thuật); Ông Sáu Ruộng; Tu sỹ Đức; Ông Đạo Sáu… Từ thưở xa xưa, vùng Núi Cấm được xem là nơi cõi trời và đất giao nhau, ma quỷ, thánh thần ở chung. Vì vậy, nơi đây trở thành “thương hiệu có trời chứng” của những tay lang băm hoặc thầy bùa lừa đảo. Để tạo lòng tin với con mồi, chúng đều mạo danh “tui tu luyện ở Núi Cấm xuống”.
Dần dà, con người lấn chỗ ở của thánh thần. Dân tứ chiếng, dân tiều phu lên núi ngày càng đông. Cây rừng bị phá vô tội vạ ngày càng nhiều. Rừng bớt hoang, dân tín ngưỡng khắp nơi bắt đầu đổ về truy lùng các đạo sỹ xin thuốc trị bệnh. Người chân tu lùi sâu vào rừng, lẫn xuống hang ở cho đến khi viên tịch. Một số đạo sỹ khác muốn truyền bá đạo pháp mở đường từ chân núi cho khách lên hành hương đảnh lễ.. Có dạo, đệ tử của hai phe đạo hiềm khích kéo quân ra ẩu đả, khoán bùa như…phim kiếm hiệp. Những người lớn tuổi cư ngụ nơi đây hơn 50 năm ghi dấu sự kiện giao chiến của hai phe đạo như ghi dấu ngày sang trang của lịch sử Thiên Cấm Sơn: Chốn thần tiên mầu nhiệm đã nhuốm mùi tục lụy. Đệ tử của hai phe dao kiếm, gậy gộc. Sư phụ của hai phe, tay bắt ấn quyết, tay vung phù, miệng niệm chú. Phù chú có còn linh thiêng để tranh giành danh lợi? Chẳng có người của phe nào chết vì phù chú mầu nhiệm, chỉ có những vết thương tứa máu đỏ rất trần, rất thật, rất ô trọc của cõi trần. Thiên Cấm Sơn đã không còn là nơi “thượng đế cấm đến” nữa.
Năm 1975, người nghèo không đất khắp tứ xứ tràn lên núi chiếm chỗ khai khẩn hoặc săn lùng củ rừng, bắt thú cứu cái đói. Chỉ sau một năm, trên vùng núi thiêng đã xuất hiện hơn 1.200 nhân khẩu. Năm 1976 là năm đầu tiên Núi Cấm có chính quyền ấp - Ấp An Bình thuộc huyện Bảy Núi.
Bây giờ, những người cố cựu có mặt từ thưở khai hoang vẫn còn nhớ như in một chuyện lạ xảy ra duy nhất một lần từ xưa đến nay vào năm mới lập ấp. Năm đó, nhà nhà người đói ăn, đói mặc. Cỏ le là loại chưa bao giờ có bông thế mà năm lập ấp chúng trổ bông trắng rừng. Thế rồi, rừng bùng cháy. Cả ngọn núi bốc cháy. Khi lửa tắt, dân núi mò vào rừng nhặt thú chết cháy ăn đỡ đói. Bông cỏ le nở hạt cháy rụng xuống thành một lớp dày trên mặt đất. Vài người đói quá nếm thử, không ngờ thứ hạt cỏ ấy lại ngon không thua gạo. Thế là cả vạt núi xôn xao người đi hốt hạt cỏ le đem về nấu thành cơm ăn. Có người hốt được cả chục giạ dự trữ ăn đến hết mùa giáp hạt. Sự kiện đó không xảy ra lần nào nữa và dân địa phương kháo nhau rằng, ấy là trời phật cứu đói cho người. Núi Cấm có thêm một kỳ tích linh thiêng.
Sau này, huyện Bảy Núi tách làm hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Ấp An Bình được đổi tên là ấp Vồ Đầu trực thuộc xã An Hảo mới thành lập.
Đói vì đường lên núi cách trở. Xuống núi mua 1 kg gạo phải đi về cả ngày đường. Không ai có một bộ quần áo lành lặn. Vải bao bố được cắt ra vá víu thành quần áo. Người nào cũng là “người rừng” nên chẳng ai cười ai. Những đứa trẻ sinh ra dạo đó, giờ đã thành những ông nội, bà ngoại đều dốt nát vì chỉ lo “uýnh lộn” với cái đói.
Cái năm Pon Pot tràn quân qua cướp đất giết người, “dân rừng” Vồ Đầu cùng các đạo sỹ cương quyết không rời núi lánh nạn mà tự tổ chức cột đá, cây, chông lên vách núi chờ giặc đến. Thế nhưng có lẽ sợ “oai linh thần núi” bọn diệt chủng không dám mò lên mặc dù đã tràn sâu vào đất ta, qua khỏi vùng chân núi.
Đến năm 1978, người dân bắt đầu trồng cây su su. Đất núi thích hợp, cây su su phát triển mạnh, mỗi công đất thu hoạch cả tấn trái. Người trên núi dạo này có câu ca: “Cây su nuôi núi nuôi người/ thương người dân núi trồng su làm giàu…”. Ai trồng su cũng giàu. Mỗi hộ xí phần cả chục ha đất để canh tác giống cây này. Su mọc khắp núi. Người không đất gánh su thuê cho người có đất. Suốt ngày đêm dân gánh su thuê xuống núi nườm nượp. Ai cũng lắt lẻo quang gánh nối đuôi thành hàng dài từ chân lên đỉnh núi. Gánh su xuống chân núi bán cho thương lái rồi mua gạo, nhu yếu phẩm gánh ngược lên núi. Nhà nhà rộn rịp đổi đời.
Năm 2000, khu du lịch bắt đầu được xây dựng theo quy hoạch. Một vạt rừng bị cạo trọc cây để xây dựng. Khí hậu trên núi bắt đầu thay đổi, su không còn chịu đất núi nữa. Người dân chuyển qua nhận khoán trồng rừng lâm nghiệp, giữ rừng và trồng mít, trồng các loại màu khác dưới tán lá rừng. Mấy năm đầu, ngành kiểm lâm còn phát tiền khoán cho hộ nhận khoán, sau đó, không ai còn nhận được khoán tiền nào, đất khoán dần trở thành đất bán được. Người ta sang tay cho nhau từng ha đất khoán. Có người làm kiểm lâm “gom” được cả trăm ha đất để bán lẻ rồi nghỉ làm kiểm lâm nhảy ra kinh doanh dịch vụ du lịch.
Dự án phát triển du lịch vùng núi thiêng đã chi hàng tỷ đồng mở con đường lắt léo khó đi trở thành con đường nhựa hiện đại chạy từ chân lên đỉnh và biến vùng hoang sơ trở thành điểm du lịch hiện đại. Một tượng phật cười (Phật Di Lặc) được xây hoành tráng ngay ấp Vồ Đầu. Quanh năm, khách du lịch tín ngưỡng lên núi hàng ngàn, hàng triệu lượt. Chủ trương của UBND tỉnh An Giang là quy hoạch để dân núi làm giàu bằng du lịch. Thế nhưng một số ít dân núi biết nắm bắt thời cuộc nhảy ra làm du lịch như chạy xe Honda ôm, chụp ảnh, bán giải khát, mở phòng trọ. Một số khác chậm chạp thì bị dòng xoáy tiền bạc hất ra ngoài. Nhiều người bán sạch đất trở nên nghèo khó.
Khu tái định cư được xây dựng để sắp xếp lại nơi ăn chốn ở cho dân núi. Những hộ bị mất đất sẽ được đền bù và được mua lại nền tái định cư. Thế nhưng những người thực hiện đã không làm đúng quy trình theo chủ trương của tỉnh. Ai đó đã cố tình lập lờ về đơn giá đền bù, hỗ trợ di dời và kéo dài thời gian đền bù. Ai đó đã cố tình lập lờ chuyện giá mua nền trong khu tái định cư để đầu cơ. Riêng cán bộ khu du lịch đã chiếm hết 25 nền. Trong khi đó, 2 ấp Thiên Tuế và Vồ Đầu chỉ có 10% dân hộ khẩu có nền tái định cư. Số còn lại bán sạch, trở thành người không đất cư trú.
Chuyện hộ khẩu cũng trở thành rắc rối. Một người dân cam đoan với chúng tôi rằng: “Tất cả dân ở đây, cho dù cư trú từ trước năm 1975 đến nay, khi làm sổ hộ khẩu cũng được cán bộ ghi là: Cư trú từ năm 2000”. Nhiều người sống cố cựu ở đây không xin được hộ khẩu. Anh Hồ Hồng Sơn là cựu du kích ấp bám đất thời pôn pốt xâm lấn, cho đến giờ vẫn chưa có hộ khẩu và không còn miếng đất cắm dùi. Vậy mà có người nơi khác đến mua đất vài tháng đã có hộ khẩu.
Một chị bán giải khát năn nỉ giấu tên, khẳng định: “Phải tốn 500.000 đồng mới có hộ khẩu, còn không thì cứ bị ngâm tôm”. Cái phương ngữ “ngâm tôm” ở đây có nghĩa là cán bộ không từ chối mà cũng không cấp, cứ để đơn trong ngăn kéo hồ sơ hoài. Trong số 160 hộ sống lâu đời trên núi chỉ có 130 hộ có hộ khẩu chính thức.
Chuyện xét cấp sổ hộ nghèo cũng mập mờ khó hiểu. Chúng tôi theo lời người dân tìm hiểu thì phát hiện ít nhất 4 trường hợp có sổ hộ nghèo nhưng tiện nghi đầy đủ, thu nhập đều đặn và cũng phát hiện ít nhất 3 trường hợp khác chạy cơm hàng bữa, trong nhà chẳng có món gì có giá trị quá 2000 đồng, không việc làm ổn định, không đất sản xuất, quần áo chẳng có bộ nào nguyên vẹn lại không được xem là hộ nghèo. Một cán bộ địa phương tặc lưỡi: “Có đưa ra dân bình xét, chọn hộ nghèo đâu”.
Chuyện đời sống người dân còn ngổn ngang trăm mối, có lẽ lãnh đạo UBND tỉnh An Giang cần có một cuộc điều tra thực tế, thăm hỏi tận nhà người dân mới thấu hiểu và tháo gỡ nổi sức trì trệ của Chính quyền xã.
Nếu so với 32 năm trước, so với cái thuở khai sơn lập ấp, vùng núi thiêng đã sáng sủa hơn nhiều. Một ngôi trường tiểu học, trường Phổ thông sơ sở đã rèn chữ, rèn người cho con em vùng đất núi. 150 hộ có con em đến trường và có 7 con em đang học Đạ học, Cao đẳng.
Lúc chia tay, anh Lê Đình Bàn - Ủy viên Chi bộ ấp – gởi gắm tâm tư: “Gì thì gì, phải nghĩ đến đời sống người dân trước tiên. Cần phải hiểu, phát triển du lịch là để cho đời sống người dân địa phương phát triển chứ không nên phát triển du lịch cho các nhà đầu cơ trục lợi”. Chúng tôi hiểu hàm ý người “công bộc” đã từng là lính cụ Hồ năm xưa.
Chúng tôi rời núi.
Nhìn từ xa, tượng Phật Di Lặc sừng sững giữa đất trời. Nụ cười của ngài vô ưu, hiển hiện một nguồn hạnh phúc dồi dào, vô biên. Dưới bóng ngài, một dãy lều tạm bợ, xiêu vẹo của cư dân xóm núi trông xô bồ, tạp nhạp.
Đường xuống núi thoai thoải dốc, xe không cần nổ máy vẫn chạy bon bon. Vậy mà chúng tôi vẫn nghe nặng trĩu lòng. Thôi thì tự hứa với lòng sẽ trở lại viếng Phật khi người dân dưới chân tượng luôn nở nụ cười như ngài./.
Tháng 3/ 2008
tamandieungo

Chuyện ma quỷ.






Chết là thể phách còn là tinh anh.
Vấn đề chết được hầu hết các dân tộc phải sống cúi đầu coi như là một thất bại cuối cùng của cái sống. Cho nên « Chết là hết, là chấm dứt tất cả mọi sự trên đời ». Nhưng sau cái chết còn cả một thế giới của cõi âm hiện ra, nhất là niềm tin chết là lên Trời hay về Núi của người Việt, chết là về với ông bà tổ tiên xem chừng đoàn tụ ấm cúng thân thiết hơn vài ba quan niệm chết là hết, không linh hồn, không âm phủ niết bàn gì nữa của Duy Vật.
Các dân tộc thiểu số coi cái chết là hết nhưng cũng giống như các quan niệm về Chết thông thường, đằng sau bên kia sự chết còn cả một thế giới của yêu tinh, ma quỷ cô hồn các đảng tụ tập thành thế giới của âm cung, âm trì… nghĩa là chết để hóa ra Ma.
Có nhiều loại ma quỷ, núi rừng có Ma Trành, Ma Xó… dưới nước có Ma Da, nghĩa địa có ma trơi. Ở núi có Ma Hồ, Ma Núi... Chỗ nào cũng có Ma ẩn hiện quanh cuộc sống loài người gây nhiều nỗi lo sợ, kinh hoàng ám ảnh. Người sống sợ ma làm cho bị điên khùng… ma tà quỷ bắt. Vô số chuyện về ma được kể từ xưa đến nay. Ma đẹp, ma xấu, ma dữ ma hiền… đều có cả.
Sợ nhất là Ma lai rút ruột ở biên giới Miên Việt, có khi biến làm con gái đẹp lấy chồng ăn ở có con đàng hoàng, nửa đêm chồng thức tỉnh xoay qua ôm vợ thì chỉ thấy cái bọng không. Người ta kể Ma lai thường bay đi ăn phân người ở các nơi thật xa làng xóm bà con. Người nào bị ăn như thế sẽ bị chết dần mòn. Ma đi ăn suốt khuya mới trở về nhập phần ruột vào bọng thân thể trở lại nằm ngủ như người thường. Loại ma này rất sợ các bụi gai hay hố phân có chất cành lá gai góc chung quanh vì vướng chùm ruột vào đó là không bay về được. Nếu dân làng bắt được chất lửa đốt luôn cả hồn lẫn xác.
Rừng núi Tây nguyên có ma xó, đó là thi thể người qua đời được ướp lại, nhập quan tài, dựng trong xó nhà để canh chừng nhà cửa khi chủ nhân đi vắng. Kẻ lạ vào nhà, nghe tiếng chào hỏi mà không thấy ai bước ra cả. Người biết ý cứ vào ăn uống theo tập quán hiếu khách của buôn làng nhưng cái nón đang đội không nên úp xuống mà đặt nằm ngửa lên thì ma cho là chỗ quen thuộc không hại gì đến tính mạng. Và nhất là không được mang thứ gì ra khỏi nhà sẽ… có chuyện. Ma xó sẽ vật chết ngay người khách tham lam.
Ma Trành là hồn của những người bị cọp ăn, lẩn quất kiếm mạng người cho cọp ăn thế thì mới siêu được. Ma da kéo chân người dưới sông. Ma trơi xuất hiện ban đêm chập chờn trong nghĩa địa.
Mặc dù sau này có nhiều giải thích khoa học cho vấn đề Ma. Ví dụ ma trơi là chất lân tinh từ xương người bốc lên, Ma da là vùng nước xoáy nguy hiểm… nhưng Ma vẫn để lại vô số câu chuyện thêu dệt huyền hoặc. Những câu chuyện có thật lẫn lộn hoang đường truyền miệng nhau. Saigon nổi tiếng nhất là Con ma nhà họ Hứa hay Con ma nhà chú Hỏa. Chú Hỏa là Hoa kiều vào VN đi bán ve chai, sau này giàu có xây nên tòa biệt thự rất bề thế bây giờ là Nhà bảo tàng mỹ thuật. Chú có cô con gái mất sớm, gia đình thương tiếc không chôn mà quàn lại trong nhà. Người làm thân tín thường ngày tới bữa đều cơm bưng nước rót như người sống nhưng không được nhìn mặt, nếu tò mò thì chỉ thấy đó là gương mặt ghê rợn của một con ma. Về sau người ta giải thích chỉ là cô gái mắc bệnh hủi nên gia đình cho sống cách biệt không gặp gỡ ai. Thời đó hủi là bệnh nan y không chữa được nên cô dần dần biến dạng gây kinh sợ cho người bất chợt nhìn thấy.
Ma cũng thường ăn theo miếu đình cúng thần linh. Thường thì ma dữ hại người, ma le nhỏ chỉ phá phách chơi mà thôi. Bác Hoài Nam, họa sĩ chuyên dựng cảnh cho điện ảnh, cải lương kể một căn nhà gần đường Vạn Kiếp, Gia Định hồi trước, anh em mướn ở chung thường khi đang ngủ bỗng cười ngất do bọn tiểu quỷ chọc lét. Phải đem quà bánh cúng như cúng cô hồn chúng nó mới để yên cho mà ngủ.
Trong các truyện ma có lẽ Tây Du Ký với Tề Thiên đánh yêu quái là sôi nổi hơn hết, nhưng trữ tình không loại nào hơn được Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh, vừa hấp dẫn với các nàng Hồ ly Tinh đa tình lại vừa mang ý nghĩa sâu thẳm của tư tưởng Sống Chết và nhân sinh của con người. Nước Nam ta cũng lắm yêu tinh hồ mỵ dối gạt nẳm trong Lĩnh Nam Trích Quái.
Nay có mấy truyện Ma thời xưa kể cũng có thể làm quà cho bạn đọc chơi vậy. Xưa nhưng không xưa quá, cách đây chừng… nửa thế kỷ thôi.
Thời bé thơ, trẻ con nào mà chẳng thích nghe chuyện ma, nhất là vùng quê. Thời đó tôi ở miệt tỉnh, Sađéc không rộng lắm, chạy dài theo kinh rạch nên có câu ;
Ghe Sađéc số sáu mũi vàng
Mua bán bạc ngàn hỏi xin xu nhỏ.
Đó là các loại ghe chài lớn mang số 6, mũi ghe sơn vàng, thường có lư hương ghép mũi để cắm nhang cúng bà Thủy. Thôn nữ dưới quê quá tuổi trưởng thành mười tám, lâu chưa lấy chồng thường ngồi ngó hoài hình ảnh mình trong tấm kiếng soi mặt. Người con gái đó bị coi là bà Thủy hành hay còn gọi « mắc thằng Bố », không biết tthằng Bố là thế nào.
Lịch sử đời Trần nơi thờ thần tướng Trần Hưng Đạo vương thờ cả tên Nguyễn văn Linh. Tên này học phù thủy theo quân Mông Cổ vào cướp nước Nam bị Trần Hưng Đạo bắt được chém bêu đầu. Hồn tên Linh từ đó biến thành quỷ quái dữ tợn, thường hiện thành người đàn ông tốt mã, nửa đêm hiện vào phòng the gái đồng trinh bắt hồn khiến các cô ngày đêm mơ tưởng, cứ soi gương mơ mơ màng màng như tương tư. Không biết « thằng Bố » mà người dân hay mắng có phải là tên Nguyễn văn Linh này không.
Hắn lộng hành ở thôn quê, thành thị nơi nhà công tử vương tôn đài các. Sau này lộng hành quá, người ta phải kiếm thầy pháp đi bắt hồn. Phép Linh cao quá, thầy pháp bị nó giết hại « vật » cho gãy cổ mắc bệnh chết nhiều, Chẳng ai trong thời Trần trừ yếm được. Sau ngài Trần Hưng Đạo dùng bùa trong sách Kỳ Môn Độn Giáp và Vạn Kiếp Bí Truyền mới bủa vây bắt được hồn tên Linh đánh tan nát giam vào một chỗ dùng bùa trấn ếm. Từ đó mới yên được.
Ngoài ra còn bà La sát chuyên làm viêc ác đức mà dân miệt vườn rất sợ, cúng tế trọng hậu để bà khỏi ra tay hại người.
Ma quỷ lộng hành nhiều nên nên lưu truyền nhiều câu chú, nếu đi đường nắng có sợ đọc lên thì sẽ trấn được ma quỷ. \
tamandieungo 2010

Ông thầy pháp!



Những đêm trời mưa giông ở vùng quê tối tăm, đi đâu phải nhờ đom đóm soi đường. Trẻ em thường bắt đom đóm bỏ vào chai, lấy ánh sáng lập lòe đó mà chơi. Đi chơi đêm, một đám con nít tụ lại, có đứa đốt nhang, có đứa cầm đom đóm. Nhưng chơi với đom đóm thì sợ ma giống như sợ ma trơi ở bãi sông vậy.
Tôi nhớ cái trò vui nhất thời trẻ là trò đi đánh ma. Khi người lớn hay thầy pháp trong xóm bảo chạy vào vườn tược buổi tối trời đi bắt ma thì lũ con nít hớn hở, vừa tỏ bộ dạng ta đây gan góc anh hùng. Chúng nghe lời thầy pháp bẻ lấy nhánh dâu làm roi. Cây dâu tằm ăn từ xưa vẫn được coi là trừ tà. Người nhà quê mỗi lần đi đêm thường bẻ nhánh dâu cầm theo, vừa đi vừa quất vào các bờ bụi rậm hai bên đường để đuổi ma quỷ hiện hình trêu ghẹo bắt bớ. Con nít từng đàn chạy theo ông thầy pháp đánh bắt ma quỷ vào các vùng tối tăm rậm rạp sâu trong ruộng vườn hồ ao tối mịt. Vừa chạy vừa la hét, vừa dùng roi quất tứ tung, có đứa sợ ma ở phía sau nên đánh roi ngược cả sau lưng.
Ông thầy pháp thì tay bắt ấn Lỗ Ban chạy đằng trước, miệng đọc luôn câu : « Án Ma Ni Bác Rỵ Hồng… Úm Lam ! Úm Lam ! » Thật ra câu này là thần chú của Mật Tông : « Hom Ma Ni Bat Mê Hom, Prum ». Có khi ông đọc cả câu :
Sắc tứ tung ngũ hoành
Ngô kim xuất hành
Cấp cấp như luật lịnh
Đến một chỗ, ông đứng lại đọc đi đọc lại câu chú, vừa bậm đầu ngón chân cái, vừa vẽ bóng xuống đất bốn lần xổ từ trên xuống, năm lần xổ ngang, ấn đầu ngón cái thật mạnh ở giữa chữ bùa Tứ Tung Ngũ Hoành đó thật lâu.
Lũ trẻ chạy nhào tới bu quanh thầy pháp hỏi :
- Thầy ơi sao ngừng lại không đi bắt ma nữa ?
Đứa khác la lớn chộn rộn:
- Ở đằng trước trong lùm chuối có ma đó.
Ông thầy pháp nạt :
- Đừng nói, im đi nó nghe tiếng thì bắt luôn cả mình đó.
Tụi con nít nín thinh, cầm roi dâu quất sàn sạt quanh mình. Lát sau, thầy pháp nói:
- Xong rồi.
- Ở đâu hả ông ?
- Ở đây… có quỷ !
Con nít tái cả mặt, có đứa xón đái ra quần. Đứa em gái thằng Quýt bỗng nhiên ôm mặt ngồi xuống. Nó bị… tè ra đấy… Thầy pháp nói:
- Con quỷ đó to như con trâu cổ, đen thui đen thích, chắc nó là con ma trâu.
Đám nhỏ la lớn:
- Trời ơi ! Rồi nín bặt. Có đứa mọc ốc cả người .
Thầy pháp nói:
- Tao đã yếm nó tại đây mà xử tội rồi.
Ông tự hào đưa ngón chân cái bên mặt ra lo le hù mấy đứa nhỏ.
- Đây tao vẽ bùa ấn nó bằng ngón chân này, nó dẹp lép chết ngắc rồi.
Có đứa ho lên:
- Đâu đâu! Nó ở đâu!
Nó tan cả hồn lẫn phách rồi. Tụi bây con nít… làm sao mà thấy được!
Đám con nít hươi roi dâu lên vùn vụt, cùng ông thây pháp quay trở về, chúng nó hò reo say sưa như có một chiến thắng lớn!

Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn.


Này A Nan Ða ! Ông hãy tự xem mình là nơi nương nhờ của chính ông. Ông hãy xem trí tuệ chơn chánh của mình là pháp cứu rỗi duy nhất, vì một đệ tử thấm nhuần Phật giáo không bao giờ mong cầu nơi tha lực để giải thoát sự sinh tử luân hồi của chính mình
[/i] Trích : Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn(Mahàparinibbàna sutta).


1/Là một Phật Tử phải biết tin vào trí tuệ suy xét của bản thân mình
2/Là một Phật Tử phải biết rằng không bao giờ nương nhờ tha lực.




Về Mật Tông thì bạn hãy đọc đoạn kinh này để tự đưa ra nhận xét .

Này A Nan Ða! Như lai không có gì để di chúc tối hậu cả! Những điều đáng truyền lại cho các hàng đệ tử, Như Lai đã thuyết ra hết rồi. Hiện tại không còn một pháp nào có thể gọi là bí mật để di chúc tối hậu. Như Lai từ khi Thành Ðảo đến giờ đã tiếp tục hiện hữu là nương vào "thân Phật". Ông chớ hiểu lầm có một vị Phật đang sống để lãnh đạo Giáo Hội, và trước khi viên tịch, vị Phật ấy phải chuẩn bị mọi lời di chúc để chuyển giao quyền hành như các hàng vua chúa còn mắc dính trong bản ngã phàm tình. Thân Như Lai hiện giờ giống như một cỗ xe đã cũ. Ở cái tuổi 80 thân Phật của Như Lai chỉ được yên ổn khi tâm thường an trú trong các bậc Thiền, nhất là Thiền Phi Tửơng và Vô Sở Hữu Xứ (animitta céto vimutti). Và khi ra khỏi hai bậc thiền ấy nhục thân Như Lai cũng chịu mọi trạng thái tàn hoại của luật vô thường.
Trích : Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn(Mahàparinibbàna sutta).


1/Đức Phật đã thuyết đầy đủ rồi
2/Đức Phật không có truyền "mật tông".
3/Thân Đức Phật cũng là vô thường mà thôi .

Chọn người xuất gia .


Chọn người xuất gia
________________________________________
Khi xưa khi chọn người xuất gia các sư phụ trụ trì thường Luận về năm hay tháng có gặp các Thức hay không, có mười loại Thức dưới đây xin nói sau.:
Nếu gặp một hoặc hai, ba Thức trong mười loại Thức kể dưới đây, mới cho xuất gia. Bằng chẳng gặp một Thức nào, chỉ tỏ người ấy còn mang tội nghiệp sâu nặng, không thể độ được, e sau nầy người ấy không tin luật nhân quả, trở lại báng sáng đạo đức.
Nam gặp nhiều Thức càng quí, nữ gặp ít càng hay.
===OoO===

Không luận xuất gia hay tại gia, nếu người nào gặp đặng ba Thức, ấy là người phước đức, biết kỉnh Phật, ham mộ đạo đức, tinh thần, trước sau cũng sẽ đặng thành quả vị Phật Tiên.

Cứ y theo năm nào, tháng nào mình thọ sanh, gặp nhằm Thức nào, mà định phần hơn kém kiết hung về số mạng. ( Theo âm lịch).

1.BỒ ĐỀ THỨC

NĂM TUỔI TÝ GẶP THÁNG 2 - 5 - 12
NĂM TUỔI SỬU GẶP THÁNG 2 - 6 - 12
NĂM TUỔI DẦN GẶP THÁNG 4 - 5 - 10
NĂM TUỔI mẹo GẶP THÁNG 2 - 10
NĂM TUỔI Thìn GẶP THÁNG 2 - 6 -9
NĂM TUỔI Tỵ GẶP THÁNG 4 - 7 - 10
NĂM TUỔI Ngọ GẶP THÁNG 5 - 8 - 10
NĂM TUỔI Mùi GẶP THÁNG 6 - 9 - 10
NĂM TUỔI Thân GẶP THÁNG 5 - 9 - 12
NĂM TUỔI Dậu GẶP THÁNG 2 - 6 - 12
NĂM TUỔI Tuất GẶP THÁNG 2 - 5 - 12
NĂM TUỔI Hợi GẶP THÁNG 2 - 5 – 12

Người sanh gặp Thức này, có tánh từ bi, hay thương xót và cứu độ người. Theo tình đời, kẻ dữ thì bị người ghét, người lành lại bị kẻ khi. Nhưng người có tánh Bồ - Đề, gặp người lành chẳng khi, đối với kẻ dữ cũng không sợ. Bình sanh đặng quí tướng, ấy là người có căn - cơ phước đức.
**********

2.TIÊU TAI THỨC:

NĂM TUỔI TÝ -GẶP THÁNG 2 - 6 - 12
NĂM TUỔI SỬU -GẶP THÁNG 1 - 7 - 10
NĂM TUỔI DẦN- GẶP THÁNG 1 - 7 - 11
NĂM TUỔI mẹo -GẶP THÁNG 2 - 9 - 12
NĂM TUỔI Thìn- GẶP THÁNG 1 - 4 -7
NĂM TUỔI Tỵ -GẶP THÁNG 2 - 4 - 11
NĂM TUỔI Ngọ -GẶP THÁNG 4 - 7 - 10
NĂM TUỔI Mùi -GẶP THÁNG 2 - 9 - 10
NĂM TUỔI Thân -GẶP THÁNG 1 - 4 - 10
NĂM TUỔI Dậu- GẶP THÁNG 2 - 5 - 11
NĂM TUỔI Tuất -GẶP THÁNG 2 - 6 - 11
NĂM TUỔI Hợi -GẶP THÁNG 1 - 4 – 10

Người sanh gặp Thức nầy, thì mạng lý lớn, có oai linh quyền hành. Bình sanh ưa làm việc lành, việc phước và ít có sự buồn rầu. Trong thân mạng có đầy đủ linh khí ngũ hành cứu trợ khỏi tai nàn, ngũ tạng vững bền. Cho nên được phước thọ diên niên, không có tai họa. Ấy là người đã có tạo nhiều duyên lành.
************

3.TAM HẠP THỨC:

NĂM TUỔI TÝ GẶP THÁNG 1 - 6 - 9
NĂM TUỔI SỬU GẶP THÁNG 4 - 7 - 8 - 11
NĂM TUỔI DẦN GẶP THÁNG 5 - 8 - 12
NĂM TUỔI mẹo GẶP THÁNG 6 - 9 - 12
NĂM TUỔI Thìn GẶP THÁNG 1 - 4 -10
NĂM TUỔI Tỵ GẶP THÁNG 2 - 8 - 11
NĂM TUỔI Ngọ GẶP THÁNG 1 - 2 - 4 - 11
NĂM TUỔI Mùi GẶP THÁNG 1 - 4 - 10
NĂM TUỔI Thân GẶP THÁNG 2 - 11 - 12
NĂM TUỔI Dậu GẶP THÁNG 2 - 6 - 11
NĂM TUỔI Tuất GẶP THÁNG 1 - 4 - 7
NĂM TUỔI Hợi GẶP THÁNG 2 - 8 – 11

Người sanh gặp Thức nầy, thì thời vận buổi đầu không đặng tốt. Mạng và hạn đều bị hình xung, có tai họa đến. Người phạm Thức nầy, tính tình thỏa hiệp, đối với mọi người rất yêu chuộng sự hòa thuận. Nhưng chỉ e trong nhà tiền của khó giữ đặng lâu dài.
***************

4.THÔNG THIÊN THỨC:

NĂM TUỔI TÝ GẶP THÁNG 6 - 12
NĂM TUỔI SỬU GẶP THÁNG 1 - 7 - 12
NĂM TUỔI DẦN GẶP THÁNG 5 - 8 - 12
NĂM TUỔI mẹo GẶP THÁNG 3 - 9 - 12
NĂM TUỔI Thìn GẶP THÁNG 2 - 5 -12
NĂM TUỔI Tỵ GẶP THÁNG 1 - 4 - 10
NĂM TUỔI Ngọ GẶP THÁNG 1 - 4 - 7
NĂM TUỔI Mùi GẶP THÁNG 1 - 4 - 10
NĂM TUỔI Thân GẶP THÁNG 2 - 6 - 8
NĂM TUỔI Dậu GẶP THÁNG 3 - 6
NĂM TUỔI Tuất GẶP THÁNG 6 - 9 - 12
NĂM TUỔI Hợi GẶP THÁNG 5 - 7 – 8

Người sanh gặp Thức nầy, thì đặng sống lâu. Một đời y lộc đặng bền vững đủ đầy. Người có khí tượng tốt đẹp được thiên hạ tôn trọng và gần với nhiều nhà sang cả. Nếu gặp đặng bốn Thức trụ cốt ấy là hạng người thiên tạo.
*****************

5.KHỞI GIA THỨC:

NĂM TUỔI TÝ GẶP THÁNG 1 - 4 - 10
NĂM TUỔI SỬU GẶP THÁNG 2 - 5 - 10
NĂM TUỔI DẦN GẶP THÁNG 2 - 6 - 12
NĂM TUỔI mẹo GẶP THÁNG 1 - 4 - 7
NĂM TUỔI Thìn GẶP THÁNG 2 - 6 -11
NĂM TUỔI Tỵ GẶP THÁNG 2 - 6 - 9
NĂM TUỔI Ngọ GẶP THÁNG 4 - 7 - 10
NĂM TUỔI Mùi GẶP THÁNG 5 - 8 - 12
NĂM TUỔI Thân GẶP THÁNG 6 - 9 - 12
NĂM TUỔI Dậu GẶP THÁNG 1 - 7 - 10
NĂM TUỔI Tuất GẶP THÁNG 2 - 5 - 6
NĂM TUỔI Hợi GẶP THÁNG 1 - 4 – 10

Người sanh gặp Thức nầy, có ruộng vườn của ông bà để lại. Làm việc gì cũng đặng xong xuôi, phước lộc song toàn. Nhưng sự nghiệp của ông bà để lại cũng phải sửa đổi, tự mình làm nên, tự mình xây dựng cho được tốt đẹp, đủ đầy duyên lành trong nhà cửa. Ấy là người đủ khả năng làm nên sự nghiệp.
*************

6.PHƯƠNG TRƯỢNG THỨC:

NĂM TUỔI TÝ GẶP THÁNG 2 - 7 - 12
NĂM TUỔI SỬU GẶP THÁNG 2 - 6 - 11
NĂM TUỔI DẦN GẶP THÁNG 2 - 9 - 10
NĂM TUỔI mẹo GẶP THÁNG 1 - 4 - 10
NĂM TUỔI Thìn GẶP THÁNG 2 - 5 -12
NĂM TUỔI Tỵ GẶP THÁNG 2 - 6 - 12
NĂM TUỔI Ngọ GẶP THÁNG 1 - 4 - 7
NĂM TUỔI Mùi GẶP THÁNG 2 - 5 - 8
NĂM TUỔI Thân GẶP THÁNG 2 - 6 - 12
NĂM TUỔI Dậu GẶP THÁNG 1 - 7 - 12
NĂM TUỔI Tuất GẶP THÁNG 2 - 9 - 12
NĂM TUỔI Hợi GẶP THÁNG 6 - 9 – 12

Người sanh gặp Thức nầy, tánh hiền lương, không làm hại ai. Ấy là bực có quyền bỉnh, oai nghi mô phạm, mạng không phạm hình hại xung khắc, đa số đều là hạng sang trọng, có phần ưu thắng về tài văn chương, chính là bực đại trượng phu.
*****************

7.THÀNH TỰU THỨC:

NĂM TUỔI TÝ GẶP THÁNG 2 - 6 - 9
NĂM TUỔI SỬU GẶP THÁNG 2 - 6 - 9
NĂM TUỔI DẦN GẶP THÁNG 4 - 7 - 10
NĂM TUỔI mẹo GẶP THÁNG 5 - 8 - 10
NĂM TUỔI Thìn GẶP THÁNG 3 - 9 -11
NĂM TUỔI Tỵ GẶP THÁNG 1 - 4 - 10
NĂM TUỔI Ngọ GẶP THÁNG 8 - 11
NĂM TUỔI Mùi GẶP THÁNG 2 - 9 - 10
NĂM TUỔI Thân GẶP THÁNG 1 - 4 - 10
NĂM TUỔI Dậu GẶP THÁNG 2 - 5 - 12
NĂM TUỔI Tuất GẶP THÁNG 2 - 6 - 12
NĂM TUỔI Hợi GẶP THÁNG 1 - 4 – 10

Người sanh gặp Thức nầy, thì ý chí nhiều hăng hái, ưa hào hiệp. Tuổi trẻ không làm gì nên đáng kể và đặng hài lòng, lại e có điều tai hại đến cho mình. Có lòng tốt hay cứu người, trái lại làm ơn thành ra mắc oán. ấy cũng chỉ tại có tánh cương trực, không chìu chuộng, bưng bợ ai. Ấy là người có chí nhẫn nại cố gắng trong việc làm.

********************

8.PHƯỚC LỘC THỨC:

NĂM TUỔI TÝ GẶP THÁNG 6 - 12
NĂM TUỔI SỬU GẶP THÁNG 2 - 9 - 12
NĂM TUỔI DẦN GẶP THÁNG 4 - 6 - 12
NĂM TUỔI mẹo GẶP THÁNG 2 - 5 - 8
NĂM TUỔI Thìn GẶP THÁNG 2 - 8 -12
NĂM TUỔI Tỵ GẶP THÁNG 1 - 4 - 7
NĂM TUỔI Ngọ GẶP THÁNG 2 - 5 - 8
NĂM TUỔI Mùi GẶP THÁNG 3 - 5 - 12
NĂM TUỔI Thân GẶP THÁNG 1 - 7 - 10
NĂM TUỔI Dậu GẶP THÁNG 3 - 6 - 12
NĂM TUỔI Tuất GẶP THÁNG 6 - 9 - 12
NĂM TUỔI Hợi GẶP THÁNG 1 - 4 – 11

Ngườ sanh gặp Thức này, có tiền của nhiều, tiền của vật báu xài hết lại có nữa. Thiên đình ( sáng trưng ) cao rộng, gần nhiều nhà sang trọng. Đời tự nhiên có đủ y lộc, bao giờ cũng đặng toại tâm xứng ý.

****************
9.THIỆN TRI THỨC:

NĂM TUỔI TÝ GẶP THÁNG 5 - 8 - 9 - 10
NĂM TUỔI SỬU GẶP THÁNG 7 - 9 - 12
NĂM TUỔI DẦN GẶP THÁNG 1 - 7 - 12
NĂM TUỔI mẹo GẶP THÁNG 6 - 9 - 12
NĂM TUỔI Thìn GẶP THÁNG 1 - 7 -10
NĂM TUỔI Tỵ GẶP THÁNG 6 - 11
NĂM TUỔI Ngọ GẶP THÁNG 2 - 9 - 12
NĂM TUỔI Mùi GẶP THÁNG 2 - 6 - 10
NĂM TUỔI Thân GẶP THÁNG 1 - 2 - 10
NĂM TUỔI Dậu GẶP THÁNG 1 - 7 - 12
NĂM TUỔI Tuất GẶP THÁNG 6 - 9 - 12
NĂM TUỔI Hợi GẶP THÁNG 6 - 9 – 12

Người sanh gặp Thức nầy, được nhiều người khâm phục. Y lộc tự có đầy đủ, đến xứ nào cũng đặng các quới nhơn trọng đãi vui vẻ. Năm gặp vận may, có đủ duyên phước, số đặng hanh thông.
***********

10.PHẬT PHÁP THỨC:

NĂM TUỔI TÝ GẶP THÁNG 5 - 8 - 11
NĂM TUỔI SỬU GẶP THÁNG 2 - 9 - 12
NĂM TUỔI DẦN GẶP THÁNG 1 - 9 - 11
NĂM TUỔI mẹo GẶP THÁNG 2 - 11
NĂM TUỔI Thìn GẶP THÁNG 3 - 9 -12
NĂM TUỔI Tỵ GẶP THÁNG 1 - 4 - 10
NĂM TUỔI Ngọ GẶP THÁNG 3 - 9 - 10
NĂM TUỔI Mùi GẶP THÁNG 6 - 9 - 12
NĂM TUỔI Thân GẶP THÁNG 6 - 9 - 12
NĂM TUỔI Dậu GẶP THÁNG 1 - 4 - 12
NĂM TUỔI Tuất GẶP THÁNG 2 - 6 - 9
NĂM TUỔI Hợi GẶP THÁNG 4 - 7 – 10

Người sanh gặp Thức nầy, là người có tánh đức đáng kính trọng. Sanh ra đã có tướng tốt rõ ràng, thiên đình cao rộng, đầu óc thông minh hoạt bát. Bình sanh ham học kinh sách xưa nay, tâm trí tinh xảo sáng suốt, nghe mau hiểu lẹ. Lời nói ra có thể giáo hóa người, trước sau ai ai cũng đặng hài lòng ưng ý. Ấy là người có khiếu đạo- đức trí - tuệ.
===

" Thức " ở đây theo đạo giáo có nghĩa là các hạt mầm của "Nghiệp".

Nghiệp mang nhiều ý nghĩa :
- Hành vi, hành động, hoạt động, cách cư xử, tư cách, bao gồm 3 hành vi thuộc ý, miệng, và thân.
- Dấu tích, kết quả lưu lại từ 3 hành vi của nghiệp; năng lực vận hành tiềm tàng - nhân duyên tạo thành từ những hành vi mà cuối cùng sẽ tạo ra các kết quả khác.
- Hành vi xấu ác, tai hại. mê muội.
- Hạnh thanh tịnh
- Nỗ lực, tinh tiến, phấn đấu dùng chỉ quy luật chung nhất về nguyên nhân và kết quả. Theo đạo Phật, mỗi tác động (nghiệp) - dưới một điều kiện nhất định - sẽ tạo thành một quả. Một khi quả đó chín, nó sẽ rơi trở lại người tạo ra nó. Muốn thành quả, một nghiệp phải là tốt hay xấu và là một hành động cố ý. Vì sự cố ý đó, một nghiệp để lại một dấu vết nơi tâm thức của người tạo nghiệp và tâm thức đó sẽ hướng theo những sự tạo tác của chính mình. Thời gian để một quả chín muồi có thể kéo dài rất lâu và chính nó tác động lên sự tái sinh và làm loài hữu tình, trong đó có con người, cứ lưu mãi trong Luân hồi.

Một nghiệp được gây ra hoặc bằng một hành động thuộc thân, thuộc tâm hay ngôn ngữ. Như thế khi người ta có ý làm cái gì thì đã tạo nghiệp, không nhất thiết việc làm đó có xảy ra hay không. Chính tư tưởng đã tạo tác nghiệp. Một hành động sẽ không gây nghiệp nếu nó được thực hiện mà không xuất phát từ tham, sân, si. Một nghiệp tốt có thể mang lại kết quả tốt trong một sự tái sinh. Tạo nghiệp tốt không có nghĩa là chấm dứt tái sinh. Muốn thoát khỏi luân hồi, con người phải từ bỏ nghiệp tốt lẫn nghiệp xấu. Cần phải hiểu nghiệp và nghiệp lực không đồng nghĩa với thuyết cho rằng mọi sự đều được quyết định sẵn (thuyết định mệnh). Nghiệp làm con người tái sinh trong một cuộc đời, một hoàn cảnh nhất định, nhưng hành động con người trong cuộc đời đó vẫn có sự tự do. Nghiệp sinh ra hoàn cảnh, sự phản ứng đối với hoàn cảnh này lại nằm trong tay con người. /.

Cách Bấm Độn Chọn Thì Giờ Lành !



Cách Bấm Độn Chọn Thì Giờ Lành !

Soạn giả : Thái Kim Oanh

Các bạn hãy nhớ câu này đã :

Bao giờ gặp chuột đuổi trâu
Thỏ-ngũ- kê- hầu :sẽ lập công danh

Chuột là giờ Tý , trâu là giờ Sửu , thỏ giờ Mão, ngũ giờ Ngọ ,kê giờ Dậu , Hầu giờ Thân : chiếm gặp những giờ này là giờ đại cát .

Đại ý khởi ngày đâu giờ đó :

-Ngày cách tiết nghịch - Giờ liên tiếp thuận hành . Khởi ngày Tý tại cung Tý , bắt đầu chuyển nghịch…

Ví dụ : Ngày Mão thì giờ nào là giờ đại cát ?

@Bắt đầu khởi ngày Tý tại cung Tý , Lùi lại cách một cung hợi đến cung Tuất bấm ngày Sửu : lùi lại cách cung dậu đến cung Thân bấm ngày Dần : Lùi cách cung mùi đến cung Ngọ khởi ngày Mão .Nên ngày Mão tại Ngọ.

@Rồi từ cung Ngọ khởi giờ Tý , đi thuận giờ Sửu tại Mùi ,giờ Dần tại Thân ,giờ Mão tại Dậu ,giờ Thìn tại Tuất ,giờ Tỵ tại Hợi ,giờ Ngọ tại Tý ,giờ Mùi tại Sửu ,giờ Thân tại Dần ,giờ Dậu tại Mão ,giờ Tuất tại Thìn ,giờ Hợi tại Tỵ .

Vậy 6 giờ đứng trên 6 cung Tý ,Sửu, Mão ,Ngọ , Thân ,Dậu là giờ Đại Kiết .

Chúc Các Bạn May Mắn An Lành !