Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

Kỳ lân .

 Kỳ lân trong văn hóa châu Âu, là một sinh vật thần thoại, với hình dáng phổ biến được biết đến như là con ngựa trắng có một sừng trên trán hoặc có thể có 2 cánh. Tuy vậy, kỳ lân truyền thống còn có thêm chòm râu dê, đuôi sư tử, và bộ móng xẻ như trâu bò. Điều này khiến nó khác biệt với một con ngựa thường.[1]
 Bức Trinh nữ dịu dàng và trầm ngâm có sức mạnh thuần dưỡng kỳ lân (1602), tranh fresco,Domenico Zampieri, trưng bày tại Palazzo Farnes, Roma

Kỳ lân cổ xưa[sửa]
Hình tượng con vật một sừng đã được tìm thấy trên một số con dấu từ văn minh lưu vực sông Ấn.[2] Những con dấu với thiết kế như vậy được cho là mang dấu hiệu của vai vế cao cấp trong xã hội thời đó.[3]
Một động vật được gọi là Re'em (tiếng Hebrew: רְאֵם) được đề cấp tới tại một số phần trong Kinh thánh Hebrew, thường như là một ẩn dụ đại diện cho sức mạnh. Đây là động vật thường được mô tả trong nghệ thuật nền văn minh Lưỡng Hà cổ xưa, chỉ với một sừng nhìn thấy được.[4]
Những bản dịch Kinh Thánh (1611) có thẩm quyền của King James, đã lấy từ Unicorn, hay kinh Hy Lạp lấy từ monokeros và kinh La Mã lấy từ unicornus, để dịch từ Re'em, cung cấp một loài vật một sừng không thể thuần hóa mà dân gian có thể nhận ra được.
Kỳ lân không được tìm thấy trong thần thoại Hy Lạp, mà đúng hơn là trong các lĩnh vực của lịch sử tự nhiên. Các học giả Hy Lạp về lĩnh vực lịch sử tự nhiên đã cho rằng thực tế kỳ lân sống tại Ấn Độ, một vương quốc xa xôi và tuyệt vời dành cho chúng. Mô tả sớm nhất là từ Ctesias, người đã miêu tả chúng như là những con lừa hoang dã, rất nhanh chân, có một sừng dài chừng một cubit rưỡi (khoảng 70 cm) và lông màu trắng, đỏ hoặc đen.[5] Aristotle đã theo Ctesias sau khi ông đề cập đến một trong hai loài động vật một sừng, các oryx (một loại linh dương) và cái gọi là "lừa Ấn Độ".[6][7]
Strabo cho biết, ở vùng Caucasus (tại Trung Đông) có loài ngựa một sừng với cái đầu giống loài nai.[8] Pliny thì đề cập đến các con oryx và bò Ấn Độ (có thể là một con tê giác) là một trong những con thú một sừng, cũng như "con vật rất hung dữ gọi là MONOCEROS có chiếc đầu của nai, bàn chân của voi, và đuôi của heo rừng, trong khi phần còn lại của cơ thể lại tương tự như của ngựa, và có một sừng đen đâm ra từ giữa trán dài tầm hai cubits".[9]
Trong khi đó, kỳ lân (tiếng Trung: 麒麟) trong văn hóa Trung Hoa lại là một sinh vật gần giống con Chimera (thần thoại), với mình nai, đầu sư tử, vảy xanh lục và chiếc sừng cong dài hướng về phía trước. Cụ thể xem bài viết về kỳ lân.
Phiên bản trong văn hóa Nhật, Kirin, giống với kỳ lân phương Tây hơn, ngay cả khi nó được dựa trên kỳ lân Trung Hoa.

Kỳ lân thời Trung cổ

Những kiến thức thời Trung cổ về loài sinh vật này bắt nguồn từ Kinh Thánh và những nguồn cổ xưa về những sinh vật giống lừa hoang dã, dê, hay ngựa.
Những câu truyện ngụ ngôn về thú vật thời Trung cổ, đã phổ biến một hình tượng tinh tế, trong đó con kỳ lân, được Đức mẹ Đồng Trinh Maria nuôi giữ. Ngay khi con kỳ lân nhìn thấy bà, nó ngả đầu vào lòng bà và thiếp ngủ. Điều này trở thành một biểu tưởng cơ bản làm cơ sở cho những ý niệm về loài kỳ lân, chứng minh sự xuất hiện của nó trong mọi hình thức nghệ thuật tôn giáo.
Hai lý giải chính cho biểu tượng kỳ lân trong Ngoại giáoCông giáo khác nhau. Diễn giải của Ngoại giáo tập trung vào tri thức Trung cổ về những người tình dối lừa, trong khi một số bản viết Công giáo giải thích cái chết của kỳ lân như những khổ hình của Chúa Kitô.
Kỳ lân từ lâu đã được xác định là một biểu tượng của Chúa Kitô trong Công Giáo, cho phép các biểu tượng ngoại giáo truyền thống của kỳ lân được chấp nhận trong học thuyết tôn giáo. Các huyền thoại nguyên bản chỉ đến một con thú với một sừng mà chỉ có thể được thuần dưỡng bởi một thiếu nữ đồng trinh; sau đó, một số học giả Công Giáo cho điều này thành một biểu tượng cho mối quan hệ của Chúa Kitô với Đức mẹ Đồng trinh Maria. Điều thú vị là, thuật ngữ tập thể cho một đàn kỳ lân đã được đề xuất như là "một phước lành của kỳ lân" (tiếng anh: a blessing of unicorns).
Cùng với sự gia tăng của chủ nghĩa nhân văn, kỳ lân còn mang biểu tượng của tình yêu trong sáng và hôn nhân chung thủy.
Kỳ lân, được cho là chỉ được thuần dưỡng bởi những trinh nữ. Điều này được phổ biến trong các câu chuyện dân gian thời Trung cổ. Những con kỳ lân được cho là có thể phân biệt được một người phụ nữ còn trinh hay không. Trong một số câu chuyện, kỳ lân chỉ được cưỡi bởi trinh nữ.
Trong khi đó, Marco Polo đã miêu tả chúng như là:
...nhỏ hơn con voi một chút, chúng có bộ lông như trâu và bàn chân thì giống của voi. Chúng có một cái sừng đen ở giữa trán...có cái đầu giống loài lợn lòi hoang dã. Chúng dành phần thời gian đầm mình vào bãi bùn. Trông chúng rất bẩn thỉu. Chúng không giống tất cả những gì mà chúng ta đã miêu tả khi liên hệ với việc chúng được nuôi dưỡng bởi những trinh nữ, thực sự trái ngược với ý niệm của chúng ta.
Rõ ràng là Marco Polo đang nói đến một con tê giác. Tại Đức, từ thế kỳ 16, từ Einhorn (tiếng Anh: one-horn, tiếng Việt: một sừng) đã miêu tả một vài loài tê giác. Người Na Uy cổ thì tin rằng kỳ lân biển đã xác minh sự tồn tại của kỳ lân. Sừng của kỳ lân biển được cho là xuất phát từ một chiếc răng của hàm trên và phát triển ra bên ngoài.
Theo Ngài Thomas Browne, sừng kỳ lân có thể trung hòa chất độc, nên được dùng làm ly trong các nghi lễ. Thậm chí, ngai vàng hoàng gia Đan Mạch cũng được cho là làm bằng sừng kỳ lân.

Săn bắt kỳ lân.

Một phương thức truyền thống để săn kỳ lân là bẫy chúng bằng một trinh nữ.
Leonardo da Vinci viết trong sổ ghi chú của ông:
Kỳ lân, ngoài thái độ không đúng mức và không biết cách kiểm soát bản thân, với tình cảm hướng tới những trinh nữ đã khiến nó quên đi tính dữ tợn và hoang dại; để đi tới và nằm ngủ trong lòng những thiếu nữ. Sau đó, người thợ săn chỉ việc tới bắt chúng.[10]
 Bức Thiếu nữ hoang dã bên kỳ lân (1500-1510), Bảo tàng lịch sử Basel

Thời Gothic, hàng loạt bộ bảy chiếc thảm thêu về Việc săn bắt kỳ lân đã trở nên nối tiếng, và là một mũi nhọn đắt giá trong ngành sản xuất thảm châu Âu, kếp hợp cả hai chủ đề thế tục và tôn giáo.
Hiện nay, những tấm thảm thêu như vậy được treo tại Tu viện của Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan, thành phố New York.
Trong loạt thảm này, là hình ảnh những quí tộc giàu sang, được hộ tống bởi các thợ săn và chó săn, đuổi theo một con kỳ lân trên một phông nền hoa hay những tòa nhà và khu vườn. Họ bắt con thú vào lồng với sự giúp đỡ của một thiếu nữ, và đem nó trở về lâu đài. Ở bản cuối cùng và cũng là bản nổi tiếng nhất, "Con kỳ lân trong vòng câu thúc", nó vẫn sống vui vẻ, bên cạnh một cây lựu, bao quanh là hàng rào, trên một cành đồng hoa. Các học giả phỏng đoán rằng những vết đỏ trên sườn của nó không phải là máu mà đúng hơn là nước từ trái trái lựu đang rỏ xuống, đây là một biểu tượng của khả năng sinh sản. Tuy nhiên, ý nghĩa thực sự của con kỳ lân phục sinh đầy bí ẩn trong tấm thảm cuối cùng là vẫn chưa rõ ràng. Phiên bản này được dệt vào khoảng những năm 1500 tại Vùng đất trũng, có thể là Brussels hoặc Liége.
Một bộ sáu chiếc thảm nổi tiếng khác là Thiếu nữ với kỳ lân (tiếng Pháp: Dame à la licorne) đang được trưng bày trong Bảo tàng quốc gia Trung Cổ, Paris, cũng được dệt tại miền Nam Hà Lan trước năm 1500.
Bản sao của những tấm thảm kỳ lân hiện đang được được dệt lại cho mục đích trưng bày lâu dài trong lâu đài Stirling, Scotland, để thay thế cho phiên bản vào thế kỳ 16.

Bằng chứng khẳng định

Năm 1663, trong số nhiều mẩu xương thời tiền sử được tìm thấy ở Einhornhöhle tại vùng núi Harz Đức, một số đã được lựa chọn và lắp ráp lại thành một con kỳ lân bởi Ngài Otto von Guericke vùng Magdeburg. Trên thực tế, con vật được gọi là kỳ lân của Guericke chỉ có hai chân, và được ghép lại từ xương hóa thạch của một con tê giác lông mịnvoi ma mút, với cái sừng của một con kỳ lân biển. Bộ xương này được kiểm tra bởi Gottfried Leibniz, người trước đó đã nghi ngờ sự tồn tại của kỳ lân, nhưng được thuyết phục bởi nó.[11]
Nam tước Georges Cuvier chủ trương, vì kỳ lân có bộ móng chẻ, nên nó phải có một hộp sọ chẻ, để chiếc sừng duy nhất có thể phát triển được. Như để bác bỏ điều này, Tiến sĩ W. Franklin Dove, giáo sư Đại học Maine, đã hợp nhất các chồi sừng của một con bê với nhau, tạo ra hình dáng bên ngoài của một con bò một sừng.[12]
Kể từ khi tê giác là động vật trên cạn còn sống sót duy nhất có một sừng, nó đôi khi được coi là nguồn gốc của truyền thuyết kỳ lân, bắt nguồn từ cuộc đọ sức giữa những động vật châu Âu kỷ băng hà và tê giác lông mịn, hoặc là truyền thuyết có thể đã được dựa trên tê giác của châu Phi

Con dấu kỳ lân trong nền Văn minh lưu vực sông Ấn[sửa]

Các đối tượng đầu tiên khai quật từ HarappaMohenjo-daro là những con dấu nhỏ bằng đá khắc những hình con thù khá tao nhã, bao gồm một hình giống với con kỳ lân ở phía trên, bên trái, và đánh dấu bằng chữ Indus, những ký tự hiện vẫn gây trở ngại đối với các học giả. Những con dấu này được đề 2500 TCN. Nguồn: Đại học North Park, Chicago, Illinois. (Hình: Con dấu Harappa.)

Con dấu này là một cận cảnh của loài động vật giống kỳ lân, được tìm thấy tại Mohenjo-daro, dài 29 mm (1,14 inch) mỗi cạnh và được làm bằng khoáng chất Steatite nóng. Steatite là một hòn đá được chạm khắc mềm mại một cách dễ dàng mà trở nên cứng sau khi nung nóng. Trên đầu là bốn chữ tượng hình Indus chưa được giải mã, là một trong những hệ thống văn bản đầu  tiên trong lịch sử. (Hình: Kỳ lân Harappa.)

 Bộ xương kỳ lân của Ngài Otto von Guericke, trưng bày gần vườn thú Osnabrück



Tê giác cổ

Một gợi ý là kỳ lân dựa trên loài động vật đã tuyệt chủng, elasmotherium, một loài tê giác Á-Âu lớn mang nguồn gốc ở các thảo nguyên, nằm phía nam của phạm vi tê giác lông mịn ở Kỷ băng hà Châu Âu. Elasmotherium nhìn giống như ngựa một chút, nhưng nó có một sừng lớn duy nhất ở trán của nó.
Tuy nhiên, theo Sách gia đình Bắc Âu và nhà khoa học Willy Ley, loài vật đó có thể đã sống sót đủ lâu để được nhớ trong truyền thuyết của những người Evenk của Nga như là một con bò đen khổng lồ với một sừng trên trán và duy nhất.
Trong sự ủng hộ này, một điều đã được ghi nhận rằng, vào thế kỷ 13,nhà thám hiểm Marco Polo tuyên bố đã thấy một con kỳ lân tại Java, nhưng mô tả của ông rõ ràng làm cho người đọc hiện đại nhận ra ông thực sự nhìn thấy một con tê giác Java.

Con elasmotherium

 

Kỳ lân biển

Năm 1638, Ole Worm, nhà sinh vật học Đan Mạch phát biểu, sừng của kỳ lân thường thấy trong Phòng nội các của những ham biết thời Trung cổ và châu Âu Phục Hưng, là những ví dụ rất thường xuyên về chiếc ngà đơn, dài và xoắn ốc của kỳ lân biển Monodon monoceros thuộc bộ Cá voi Bắc Băng Dương.[13] Chúng được mang về phía Nam như là một món hàng thương mại rất có giá trị, và được bán như sừng của kỳ lân huyền thoại. Là một chiếc ngà, chúng qua được rất nhiều các xét nghiệm khác nhau nhằm làm giảm giá trị của sừng kỳ lân giả. Vì những chiếc sừng được xem là mang quyền hạn của phép thuật, người Viking và những thương gia miền Bắc có thể bán chúng đắt hơn cả vàng.
Nữ hoàng Elizabeth I của Anh cũng giữ một chiếc sừng kỳ lân trong Phòng nội các của những ham biết của bà, chiếc sừng được Martin Frobisher, nhà thám hiểm Bắc Băng Dương, mang về trong chuyến trở về từ Labrador vào năm 1577.[14] Các mô tả thông thường của chiếc sừng kỳ lân xoắn ốc trong nghệ thuật, bắt nguồn từ đó.
Sự thật về nguồn gốc chiếc ngà phát triển dần dần trong kỷ nguyên khám phá, khi những nhà thám hiểm và nhà tự nhiên học bắt đầu chuyến thăm thú khu vực và lĩnh vực của mình. Năm 1555, Olaus Magnus xuất bản một bản vẽ của sinh vật giống cá có sừng trên trán.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét