Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2010

Khun Chang Khun Phaen – Sepha dân gian và thi phẩm cung đình


(Tg: Đào Thị Diễm Trang )
Khun Chang Khun Phaen (Khủn Cháng - Khủn Phẻn) là tác phẩm lớn của nền văn học truyền thống Thái Lan. Vị trí của Khun Chang Khun Phaen ở Thái Lan có thể sánh với vị trí của Ramayana ở Ấn Độ, Genji ở Nhật Bản, Xuân Hương truyện ở Triều Tiên hoặc Truyện Kiều ở Việt Nam. Khun Chang Khun Phaen đã tồn tại trong văn hóa dân gian từ rất lâu trước khi có văn bản tác phẩm chính thức, từng được ngâm sepha rất thường xuyên trong các dịp hội hè ở Thái Lan. Đến đầu thế kỷ XIX, tác phẩm được các vị vua Rama và một số thi sĩ cung đình chấp bút dưới hình thức thơ klon – một thể thơ của dân tộc Thái Lan. Khun Chang Khun Phaen được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là có chất văn chương cao, chủ đề mang tính dân tộc và thể hiện đậm nét các giá trị lịch sử, văn hóa của đất nước. Tác phẩm mang những đặc điểm chính của truyện thơ đồng thời lại mang ít nhiều hơi hướm của sử thi và tiểu thuyết cổ điển.
1. Từ truyện kể dân gian đến thi phẩm cung đình
Khun Chang Khun Phaen là một tác phẩm đồ sộ về dung lượng, bao gồm 43 chương với 45.000 câu thơ klon. Tác phẩm được giới nghiên cứu văn học Thái Lan nhận định là khởi nguồn từ một câu chuyện có thật ở tỉnh Suphanburi, sau được truyền miệng và thêm thắt ngày càng nhiều chi tiết. Khun Chang Khun Phaen phổ biến rộng rãi trong dân chúng là nhờ công lao của các nghệ nhân hát sepha (xể pha). Chính những nghệ nhân này đã góp phần làm mở rộng nội dung, hệ thống nhân vật của tác phẩm thông qua quá trình diễn xướng. Người có công sưu tầm truyện Khun Chang Khun Phaen trong dân gian và tập hợp các thi sĩ viết lại tác phẩm là vua Rama II, tức Phutthaloetla Naphalai (trị vì trong khoảng thời gian 1809 –1824).
Về thời điểm “chuyển thể” truyện kể dân gian Khun Chang Khun Phaen thành một thi phẩm cung đình, các tài liệu nghiên cứu đều thống nhất là vào đầu thế kỷ XIX (và từ đây, để dễ phân biệt, chúng tôi tạm gọi là Khun Chang Khun Phaen dân gian và Khun Chang Khun Phaen cung đình). Vấn đề còn lại là thời điểm được phản ánh trong Khun Chang Khun Phaen. Theo hoàng tử Damrong – người đã giành nhiều công sức nghiên cứu và giới thiệu Khun Chang Khun Phaen – thì thời điểm được phản ánh trong tác phẩm là từ đầu thế kỷ XVI, tức thời của vua Ramathibodi II (khoảng năm 1500). Tuy nhiên, giả thuyết này khó có thể chính xác được vì sau cuộc tấn công của Myanmar vào Ayutthaya (năm 1767), người Thái Lan hầu như không còn giữ được bất cứ tư liệu lịch sử nào.
Từ điển văn học Đông Nam Á xác định truyện Khun Chang Khun Phaen xuất phát từ một “câu chuyện có thật về một võ quan triều đình thời vua Na Rê Xuổn (1590 – 1605)” [tr.295]. Chris Paker, nhà Thái Lan học người Anh đã có công dịch Khun Chang Khun Phaen sang tiếng Anh, căn cứ vào các sự kiện văn hoá, lịch sử được phản ánh trong tác phẩm, cũng đã đưa ra nhận định rằng: có thể bối cảnh trong tác phẩm là đất nước Thái Lan đầu thế kỷ XVII. Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng thời điểm trong tác phẩm có lẽ muộn hơn, khoảng vào thế kỷ XVIII. Trong cuốn Essay on Thai folklore, Phya Anuman Rajadhon nhận định Khun Chang Khun Phaen viết về thời kỳ Ayutthaya cách đây khoảng hai thế kỷ, tức thế kỷ thứ XVIII. Đức Ninh lại có ý kiến là “tác phẩm mô tả cuộc sống của xã hội trung cổ Thái Lan thế kỷ XVIII – XIX” [tr.568]. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tác phẩm có những lúc lẫn lộn giữa bối cảnh xưa và thời điểm được chấp bút. Điều này cũng dễ hiểu vì, như chúng ta đã biết, các nhà thơ sáng tác Khun Chang Khun Phaen là những người sống vào thế kỷ XIX nên không tránh khỏi việc vận dụng những yếu tố của thời đại vào tác phẩm.
Như vậy, thời điểm được phản ánh trong tác phẩm cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất. Tuy nhiên, căn cứ vào những gì mà tác phẩm thể hiện, có thể xác định rằng Khun Chang Khun Phaen phản ánh đời sống của người Thái vào hậu kỳ Ayutthaya, tức là vào khoảng cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII. Đây là giai đoạn mà người Thái đã hoàn thiện mô hình nhà nước phong kiến đồng thời có những cuộc tiếp xúc với người phương Tây. Từ thế kỷ XVI, các nước Bồ Đào Nha, Đức, Anh, Hà Lan, Pháp lần lượt đến Thái để giao lưu văn hóa và trao đổi thương mại. Người Bồ Đào Nha “đã đem đến cho người Siam ba thứ, đó là nghệ thuật chế tạo súng, cách dùng súng trong chiến tranh và cách xây công sự chống đỡ súng đạn”. Dấu ấn văn minh này được phản ánh rất rõ trong Khun Chang Khun Phaen ở những đoạn viết về chiến tranh và quân sự.

2. Tóm tắt nội dung


Về nội dung, Khun Chang Khun Phaen cung đình gần như tôn trọng các sự kiện chính của Khun Chang Khun Phaen dân gian, có thể tóm tắt như sau:
Phlai Kaeo (sau này là Khun Phaen), Chang và Nang Phim (sau này là Nang Wanthong) là những người bạn từ thuở ấu thơ. Cả ba đều là con cái của những gia đình khá giả tại tỉnh Suphanburi. Trong một lần đi săn trâu rừng cùng nhà vua, Khun Krai, cha của Phlai Kaeo, đã giết đàn trâu dữ tợn muốn thoát ra khỏi rào và để một con trâu chạy vào rừng. Ông bị nhà vua xử tử, gia đình bị tịch biên gia sản. Thong Prasi, mẹ của Phlai Kaeo, phải ôm con trốn sang tỉnh Kanchanaburi. Cùng lúc đó, Khun Siwichai, cha của Chang, bị bọn cướp rừng xông vào nhà giết chết. Đồng thời, Phan Sonyotha, cha của Phim cũng bị bạo bệnh sau một lần đi buôn ở rừng về và qua đời.
Ở tuổi 15, Phlai Kaeo trở thành một chàng thanh niên khôi ngô, thông minh và dũng cảm. Chàng trở lại Suphanburi, quyết định vào chùa làm tu sĩ tập sự để được học hành. Phlai Kaeo tỏ ra xuất sắc hơn người ở hai môn: võ thuật và phép thuật. Trong khi đó, Chang càng lớn càng xấu xí, dốt nát nhưng rất giàu có, được thừa kế tước “khun” của cha, gọi là Khun Chang. Hắn luôn tìm cách đối đầu với Phlai Kaeo.
Nang Phim bấy giờ cũng đã là một thiếu nữ xinh đẹp nhất Suphanburi. Nàng tình cờ gặp lại tu sĩ Phlai Kaeo ở chùa trong mùa lễ Songkran. Họ phải lòng nhau lập tức và yêu nhau say đắm. Khun Chang cũng say mê Phim và cố hết sức để chiếm được Phim bằng sự giàu có của mình. Nhưng tình yêu đã chiến thắng. Phlai Kaeo từ bỏ áo cà sa, lấy Phim làm vợ. Phim nhận ra Phlai Kaeo là một người đàn ông rất đa tình nhưng vẫn yêu chàng tha thiết.

Tỉnh Chiang Thong bị giặc xâm chiếm. Khun Chang tâu với vua Phlai Kaeo là người tài trí phi thường. Nhà vua liền điều Phlai Kaeo ra trận. Khi ấy, chàng vừa cưới Phim chỉ được hai ngày.
Sau khi Phlai Kaeo ra đi, Phim bị bệnh nặng không thể nào chữa khỏi. Sư trụ trì Ju của chùa Palelai đổi tên Phim thành Wanthong để mang lại sự may mắn cho nàng. Khun Chang, nhân cơ hội Phlai Kaeo vắng mặt, đã loan tin khắp nơi rằng chồng Wanthong đã chết trong chiến trận, còn lấy xương thú giả làm xương của Phlai Kaeo. Siprajan, mẹ của Wanthong, sợ con góa bụa nên thúc giục con gái đồng ý lấy Khun Chang. Lúc đầu, Wanthong chống cự quyết liệt, nhưng sau đó, nghĩ là chồng mình thật sự đã chết, nàng chấp đành chấp nhận lấy Khun Chang.
Phlai Kaeo thắng trận ở miền Bắc và trở về trong danh tiếng. Chàng được bên thua trận dâng cho một cô gái xinh đẹp là Laothong. Nhà vua ban cho chàng tước “khun”, gọi là Khun Phaen. Khun Phaen đưa vợ mới về Suphanburi gặp Wanthong. Wanthong thường dùng lời lẽ khiếm nhã xỉ vả Laothong. Khun Phaen vừa trách thái độ của vợ cũ vừa giận chuyện nàng thay lòng đổi dạ nên chuyển đến Kanchanaburi cùng Laothong. Từ đó, Wanthong đành ở lại với Khun Chang, chấp nhận sống cuộc đời an nhàn bên người chồng tuy xấu xí nhưng rất đỗi yêu quý nàng.
Sau đó, cả Khun Chang và Khun Phaen đều được hoàng gia triệu tập, huấn luyện và được ở lại phụng sự triều đình. Ngày kia, Thong Prasi, mẹ của Khun Phaen báo tin Laothong bị bệnh nặng. Khun Phaen nhờ Khun Chang đổi phiên gác với mình. Khun Chang đồng ý nhưng ngày hôm sau, khi nhà vua hỏi về Khun Phaen thì Khun Chang bịa ra rằng Khun Phaen không làm tròn bổn phận, đã trèo tường về với vợ. Khun Phaen bị nhà vua trừng phạt bằng cách cấm chàng không được vào cung đồng thời giam giữ Laothong trong cung vĩnh viễn.

Giận Khun Chang phản trắc, Khun Phaen tự trang bị cho mình một thanh gươm thần, một con chiến mã và một loại hồn hộ mạng. Để tìm được những món này, Khun Phaen đi vào rừng và tình cờ tìm đến sơn trại của tướng cướp Muen Han. Nhờ cứu ông này thoát khỏi bò tót tấn công, Khun Phaen được vợ chồng tướng cướp gả cho đứa con gái duy nhất của họ là Buakhli. Tuy nhiên, khi phát hiện ra con rể có nhiều phép thuật hơn mình, Muen Han ganh ghét và sai Buakhli, bấy giờ đang mang thai, đầu độc Khun Phaen. May thay, Hongplai (một dạng hồn ma được tạo nên từ phép thuật) của Khun Phaen báo cho chàng biết âm mưu của kẻ giết người. Thế là, trong khi Buakhli đang ngủ, Khun Phaen ra tay giết chết nàng trước, đoạn, lấy đứa trẻ chưa chào đời trong bụng nàng ra và đọc thần chú để biến nó thành Kumarnthong (Đứa Con Vàng, một loại hồn luyện từ bào thai).

Sau đó, chàng tôi thanh gươm thần Fa Fuen và tậu con ngựa chiến Si Mok (Màu Sương Mù).
Khun Phaen đến Suphanburi, niệm thần chú khiến cho cả nhà Khun Chang ngủ say như chết. Chàng vào phòng em gái nuôi của Khun Chang là Kaeo Kiriya, dùng phép thuật mê hoặc để ân ái với nàng rồi mới bắt cóc Wanthong vào rừng. Hai người tận hưởng niềm vui lứa đôi trong rừng thẳm.
Khun Chang tâu với vua là Khun Phaen đang tập hợp bè đảng trong rừng chờ ngày tạo phản. Vua bèn phái hai viên quan của hoàng gia cùng nhiều tùy tùng vào rừng tìm Khun Phaen. Khun Chang cũng đi cùng đoàn quân này. Khun Phaen bị hai viên quan hoàng gia xúc phạm nên đã giết chết họ. Tàn quân tan tác. Do lúc này Wanthong đã có mang nên Khun Phaen đưa nàng về triều đình tự nộp mình. Sau một thời gian bị giam giữ, phiên tòa xử Khun Phaen diễn ra và chàng đã thắng kiện. Vua cho Wanthong trở về với Khun Phaen. Chàng sống hạnh phúc cùng Wanthong và Kaeo Kiriya.
Nhưng một lần nữa, chính Khun Phaen lại khiến nhà vua tức giận khi yêu cầu cho chàng trở lại với người vợ thứ hai là Laothong. Chàng bị tống giam với mức tù là 15 năm. Kaeo Kiriya vào tù chăm sóc Khun Phaen, còn Wanthong tá túc ở nhà một người bạn của Khun Phaen. Khun Chang nhân cơ hội đó đã bắt cóc Wanthong trở lại nhà mình. Nàng sống cùng Khun Chang và hạ sinh Phlai Ngam, đứa con trai của Khun Phaen.
Biết Phlai Ngam không phải con của mình, Khun Chang căm tức, dụ dỗ Ngam đi thật xa, đánh đập đến tắt thở và bỏ rơi cậu bé trong rừng. Tuy nhiên, Phlai Ngam đã được cứu sống nhờ Đứa Con Vàng của Khun Phaen. Wanthong quyết định gởi Phlai Ngam đến ở với bà nội tại Kanchanaburi. Khi trưởng thành, Phlai Ngam xin vào phục vụ hoàng gia để mong chuộc tội cho cha.
Vua xứ Langchan dâng cho vua Ayutthaya một cô gái đẹp tên là Sroi Thong. Sau đó, Sroi Thong bị vua xứ Chiang Mai bắt cóc và ông vua này còn thách thức gây hấn với nhà vua của Ayutthaya. Phlai Ngam tình nguyện ra trận dẹp quân Chiang Mai đồng thời thỉnh cầu nhà vua tha tội cho cha mình để hai cha con cùng ra trận.
Khun Phaen được ân xá để cùng Phlai Ngam chuẩn bị ra trận. Trong khi đó, Kaeo Kiriya hạ sinh một đứa con trai, đặt tên là Phlai Chumphon.
Trên đường ra Chiang Mai, Khun Phaen có dịp ghé thăm Phra Pichitra và Bushaba – đôi vợ chồng đã che chở cho Khun Phaen và Wanthong trong những ngày Wanthong bụng mang dạ chửa. Phlai Ngam gặp Simala, cô con gái xinh đẹp của Pichitra và kết hôn với nàng trước khi ra trận. Cha con Khun Phaen thắng trận vinh quang. Nhà vui rất hài lòng, thăng chức Phra Surinroechai cho Khun Phaen, chàng trở thành thủ lĩnh của tỉnh Kanchanaburi. Vua còn ban cho Phlai Ngam tước Phra Wai và thêm một người vợ nữa là Sroi Fa – con gái của Vua Chiang Mai bị thua trận.
Phra Wai muốn đưa mẹ Wanthong về cùng sống với mình và mong muốn mẹ đoàn tụ với cha nên đã đến nhà Khun Chang bắt cóc Wanthong. Khun Chang giận dữ đi kiện vua. Vua cho rằng Wanthong không thể có hai chồng nên bắt nàng phải lựa chọn. Nhưng Wanthong không thể bởi vì mỗi người đều có một ý nghĩa đối với nàng. Nhà vua nổi giận và khép nàng vào tội chết. Phra Wai thỉnh cầu vua cho mẹ mình được hoãn thi hành án nhưng thanh gươm oan nghiệt đã kết thúc cuộc đời Wanthong.
Người vợ sau của Phra Wai là Sroi Fa luôn cho rằng bà nội chồng và chồng mình yêu quý Simala nhiều hơn nên đâm oán ghét nàng. Sroi Fa nhờ một tu sĩ già tên Then Khuat giúp cho nàng thần chú để Phra Wai yêu nàng nhiều hơn. Dưới tác dụng của ma thuật, Phra Wai ngược đãi, đánh đập Simala. Phlai Chumphon cảm thấy bất bình nhảy vào can ngăn cũng phải chịu chung số phận với Simala. Chumphon chạy trốn khỏi nhà Phra Wai, đến Kanchanaburi thuật lại mọi chuyện cho Khun Phaen. Sau đó, Chumphon đến ở nhà ông bà ngoại ở Sukhothai và trở thành tu sĩ, chuyên chú học hành.
Nghe tin dữ từ Phlai Chumphon, Khun Phaen vội vã đến nhà Phra Wai khuyên nhủ con. Do bùa phép vẫn còn tác dụng, Phra Wai không tin những gì cha mình nói và còn dọa tống Khun Phaen vào ngục. Khun Phaen tức giận tuyên bố từ con và trở lại Kanchanaburi trong nỗi thất vọng.

Sau khi học xong, Phlai Chumphon hoàn tục, bàn với Khun Phaen dạy cho Phra Wai một bài học. Phlai Chumphon cải trang thành một người Môn tên là Samingmattra và đọc thần chú để tạo nên binh sĩ từ những bù nhìn rơm rồi đưa đến Suphanburi. Nhà vua cử Khun Phaen ra dẹp loạn nhưng chàng giả vờ thua cuộc rồi bị bắt làm con tin. Vua ra lệnh cho Phra Wai ra trận cứu Khun Phaen và đánh nhau với Phlai Chumphon. Trong suốt trận đánh, Khun Phaen bảo cho Phlai Chumphon cách bắt giữ Phra Wai trong khi Phra Wai vô cùng giận dữ vì cha mình lại giúp đỡ cho kẻ thù. Phra Wai trốn thoát được và đi tâu với nhà vua mọi việc. Nhà vua hiểu ra đây là một trò bịp bợm nên bảo Simala đi đón cha chồng và em chồng về hoàng cung. Sau đó, Phlai Chumphon tình nguyện bắt giữ kẻ đã sử dụng bùa phép đối với anh trai mình.
Phlai Chumphon bắt giữ Then Khuat và đào lên một hình nhân được làm từ bùa chú của hắn. Phlai Chumphon cho đốt hình nhân khiến bùa phép không còn hiệu nghiệm với Phra Wai nữa. Nhưng khi đêm xuống, Then Khuat dùng phép cắt đứt mọi xiềng xích và tẩu thoát.
Sroi Fa luôn luôn phủ nhận chuyện nàng nhờ người làm phép với Phra Wai, lại còn vu cáo cho Simala là có tình ý với Phlai Chumphon, vì bị nàng bắt gặp nên Phlai Chumphon mới chạy đến Kanchanaburi bịa chuyện với Khun Phaen. Để kết thúc phiên xử, vua buộc những người có liên quan phải đi qua một giàn lửa được dựng lên từ phép thuật. Trong khi mọi người bình an vô sự thì Sroi Fa bị bỏng nặng. Vua khép Sroi Fa vào tội chết nhưng Simala thỉnh cầu nhà vua khoan hồng. Vì vậy, Sroi Fa chỉ bị trục xuất khỏi Ayutthaya, phải trở về Chiang Mai.
Trên đường trở về nhà, Sroi Fa gặp lại Then Khuat. Hắn hộ tống nàng về Chiang Mai. Về đến quê hương, Sroi Fa hạ sinh một đứa con trai, đặt tên là Phlai Yong. Trong khi đó, Simala cũng sinh một đứa con trai, được ông nội Khun Phaen đặt tên là Phlai Phet.
Vua Chiang Mai phong cho Then Khuat chức tước vô cùng cao quý vì đã có công đưa công chúa trở lại quê nhà. Nhưng do lòng còn thù hận Phlai Chumphon, Khuat biến thành một con cá sấu trở về Ayutthaya giết rất nhiều người và súc vật. Phlai Chumphon tình nguyện trừ khử ác thú, đánh cá sấu chết. Mọi người lại sống trong thanh bình và hạnh phúc.


Khi sưu tầm và viết lại Khun Chang Khun Phaen, vua Rama II và các thi sĩ cung đình hầu như giữ lại tất cả các sự kiện chính của Khun Chang Khun Phaen dân gian, chỉ trau chuốt và mô tả tỉ mỉ thêm. Những người sáng tác Khun Chang Khun Phaen hiếm khi kí tên mình dưới mỗi chương nên hiện vẫn chưa rõ hoàn toàn tác giả của từng chương. Hiện nay, các bản Khun Chang Khun Phaen đầy đủ bằng tiếng Thái hay tiếng Anh ở Thái Lan đều có 43 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Sự ra đời của Khun Chang và Khun Phaen
Chương 2: Cha của Khun Chang và Khun Phaen
Chương 3: Phlai Kaeo làm tu sĩ tập sự
Chương 4: Phlai Kaeo trở thành người yêu của Phim
Chương 5: Khun Chang hỏi cưới Phim
Chương 6: Phlai Kaeo vào phòng của Saithong
Chương 7: Phlai Kaeo cưới Phim
Chương 8: Phlai Kaeo bị gọi ra chiến trận
Chương 9: Phlai Kaeo lãnh đạo quân đội
Chương 10: Phlai Kaeo lấy Laothong
Chương 11: Phim đổi tên thành Wanthong
Chương 12: Siprajan gả Wanthong cho Khun Chang
Chương 13: Phlai Kaeo trở thành Khun Phaen
Chương 14: Khun Phaen nói rõ hoàn cảnh của mình
Chương 15: Khun Phaen bị chia cắt khỏi Laothong
Chương 16: Sự ra đời của Đứa Con Vàng, con trai của Buakhli
Chương 17: Khun Phaen đến nhà Khun Chang lấy Kaeo Kiriya
Chương 18: Khun Phaen chạy trốn cùng Wanthong
Chương 19: Khun Chang đuổi theo Wanthong
Chương 20: Khun Chang vu cáo Khun Phaen tạo phản
Chương 21: Khun Phaen tự nộp mình
Chương 22: Khun Phaen chiến thắng phiên tòa chống lại Khun Chang
Chương 23: Khun Phaen bị tống giam
Chương 24: Sự ra đời của Phlai Ngam
Chương 25: Quốc vương xứ Lanchang dâng Nang Sroi Thong cho vua Phanwasa
Chương 26: Quốc vương Chiang Mai bắt Nang Sroi Thong
Chương 27: Phlai Ngam tình nguyện
Chương 28: Phlai Ngam lấy Nang Simala
Chương 29: Khun Phaen cứu nguy cho Phra Thainam
Chương 30: Khun Phaen và Phlai Ngam bắt vua Chiang Mai
Chương 31: Khun Phaen và Phlai Ngam đưa quân trở về
Chương 32: Sự dâng hiến của Sroi Thong và Sroi Fa
Chương 33: Hôn lễ của Phra Wai
Chương 34: Phát hiện tội lỗi của Khun Chang
Chương 35: Khun Chang thỉnh cầu nhà vua
Chương 36: Án tử hình của Wanthong
Chương 37: Sroi Fa thực hiện bùa yêu
Chương 38: Phra Wai bị bùa yêu tác động
Chương 39: Khun Phaen làm phản tác dụng của bùa yêu bằng gương
Chương 40: Phra Wai được gửi ra trận
Chương 41: Phlai Chumphon phát hiện ra bùa yêu
Chương 42: Sroi Fa và Simala chịu thử thách bằng lửa
Chương 43: Cá sấu Khuat
(Trích)

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2010

Số phận nữ phù thuỷ cuối cùng của nước Anh


(Dân trí) - Năm 1944, Helen Duncan trở thành người phụ nữ cuối cùng ở Anh bị tuyên án “lạm dụng tà thuật”, là bởi trong một lễ gọi hồn cách đó không lâu bà đã vô tình tiết lộ bí mật động trời của chính phủ: âm mưu che đậy cái chết của 861 binh sĩ trên chiến hạm HMS Barham. Cũng giống như bao lần lên đồng khác, âm thanh rên rỉ não nề vang lên, kèm theo nước dãi trắng đục không ngừng ứa ra từ miệng - Helen Ducan bắt đầu nhập hồn.

Bất thần, không gian tĩnh lặng ma quái bị xé toang bởi tiếng còi lanh lảnh của đội vệ binh. Trong chớp mắt, cảnh sát bao vây kín đặc túp lều bói toán vùng Portsmouth, Hants và bắt giữ bà đồng nổi tiếng nhất nước Anh thời ấy.

Ngay sáng hôm sau, Helen Duncan - với biệt danh phù thủy Hellish Nell - bị đưa ra tòa chiếu theo Chương 4 của Đạo luật Yêu thuật năm 1735.

Phiên xét xử diễn ra nhanh gọn theo đúng mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, bởi hơn ai hết, Helen Duncan là nỗi lo ngại lớn nhất họ phải đề phòng nhằm bảo vệ tính tuyệt mật cho kế hoạch D-Day (cuộc đổ bộ của quân đội Mỹ vào Vịnh Seine ngày 6/6/1944, với sự trợ giúp của Anh và các nước đồng minh khác). Trước đó không lâu, giới lãnh đạo đã bí mật theo dõi Duncan sau khi nghe bà phong thanh tiên đoán: 1 tàu chiến của quân đội Anh sẽ bị đánh chìm khi tham chiến - mặc dù tin này đã bị chính phủ ém nhẹm nhằm trấn an gia đình binh lính ở quê nhà.

Rốt cuộc, quan tòa chỉ mất 30 phút để đưa ra bản luận tội. Helen Duncan trở thành người cuối cùng bị kết án “sử dụng yêu thuật” ở nước Anh.

Cuộc đời của “nữ phù thủy” danh tiếng nhất nước Anh thế kỷ 20

Helen Macfarlane chào đời năm 1897 trong một gia đình nghèo khổ ở Perthshire, miền trung Scotland, sau đó sinh trưởng tại miền quê Callander, Stirlingshire. Khi còn nhỏ, Helen đã sớm bộc lộ giác quan thứ 6 đặc biệt nhạy bén: tiên đoán Thế chiến thứ nhất kéo dài bao lâu, thậm chí biết trước sự ra đời của cỗ xe tăng đầu tiên trên thế giới.

Năm 1918, cô nàng Helen vác bụng bầu “vô chủ” đến định cư tại làng Dundee, sau đó kết hôn với Henry Duncan và có thêm 5 mặt con. Cũng thời gian này, khả năng thần giao cách cảm của Helen bắt đầu bộc phát, bà đi khắp đất nước để thực hiện những lễ gọi hồn thần bí làm kinh ngạc cả những kẻ đã có thời hoài nghi báng bổ.

Tài năng thiên phú của Helen thu hút được cả sự chú ý của giới học giả hàng đầu. Năm 1931, nhà nghiên cứu tâm linh Harry Price đã đích thân mời 2 vợ chồng tới tận Luân Đôn để “kiểm tra tính hư thực của những lời đồn đại”.
Hạt giống gieo thảm kịch bắt đầu nảy mầm vào ngày 25/12/1941: trên biển Địa Trung Hải, chiến hạm HMS Barham với sức nặng 29.000 tấn đang đột kích hạm đội Italia thì vấp phải 3 quả ngư lôi hạng nặng của quân đội Đức.
Con tàu khổng lồ bị nhấn chìm trong vài phút, kéo theo sinh mạng của tất thảy 861 binh sĩ xuống biển. Sau thất bại ê chề ở Blitz, chính phủ Anh quyết định giấu nhẹm sự kiện tang thương này. Thậm chí còn vờ gửi thiệp chúc mừng Giáng sinh cho người thân binh sĩ.


Tuy nhiên, họ đã bỏ sót mấu chốt quan trọng nhất: năng lực tâm linh thần bí của Helen...

Vài ngày sau vụ đắm tàu, Helen làm lễ nhập hồn và “gọi” lên được một binh sĩ trên tàu HMS Barham luôn miệng rền rĩ: “Tàu bị đánh chìm”.

Tin tức nhanh chóng đến tai Bộ Hải quân Anh khiến họ sửng sốt và thận trọng dè chừng. Hai năm sau, tháng Giêng năm 1944, giới lãnh đạo cấp cao quyết định phải “đi trước một bước” nhằm đảm bảo tính tuyệt mật cho kế hoạch D-Days sẽ tiến hành vào tháng 6. Lệnh bắt Helen được thực thi ngay tắp lự.


Ban đầu người ta ngỡ Helen Duncan chỉ chịu án giam trong 9 tháng, nhưng sau đó, các nhà chức trách mắc bệnh hoang tưởng đã từ chối cho bà tại ngoại, tiếp tục giam giữ Helen chờ để xử tiếp tại tòa án Old Bailey.

Phiên tòa thứ 2 diễn ra trong 7 ngày. Ngày đó, toàn thể giới ông đồng bà cốt cả nước đã hợp sức bảo vệ Helen, cùng 44 nhân chứng xin thề những lời tiên đoán của bà không lừa dối. Dù vậy, mọi nỗ lực đều thất bại trong vô vọng.

Helen Duncan - nạn nhân cuối cùng trong “cuộc thanh trừng ma thuật” ở nước Anh - đã sống những ngày điên loạn cuối đời trong một bệnh viện ở Nottingham, từ trần vào ngày 6/12/1956.

Thùy Vân
Theo The Mirror

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2010

Hình tượng nữ thần tài lộc, tình yêu - Nang Kwat

Tôi để hình lên trước. Khi nào rảnh rảnh sẽ viết bài chú thích thêm. Dạo này Tết nhứt đến nơi, lu bu khách khứa quá không có nhiều thì giờ như trước. Anh chị em thông cảm.














Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

Các loại ma quỷ của Thái Lan

Phi Am

Loài ma thường ngồi trên ngực, ở phía gan của người bị ám, gây khó chịu.

Loài mà này tuy không dữ ác, nhưng vẫn thường thu hút nguyên khí con người.

Phi Chamop



Ma này vốn là người phụ nữ khi vào trong rừng bị ám chết.

Loài này vốn không làm hại con người.

Phi Hà --



Đây là vong linh của người phụ nữ chết trong khi sinh khó.

Chính vì chết trong đau đớn và mất mát nên loại ma này được coi là rất hung bạo.

Phi Krahang



Ma này xuất hiện với hình dáng một người đàn ông với lông và đuôi như một con chim. Khuôn mặt như quái thú.

Nó ăn filth và glows vào ban đêm.(dịch không được)

Đây là loại vong linh khó chịu và đáng sợ.

Phi Krasi (Ma xó)




Krasi có màu của lửa, thân dài, có đuôi màu xanh. Loài ma này thường được các bà phù thủy (bà đồng) triệu tập theo bên người.
Ma krasi thích sống ở dưới những mô gò và thường không gây hại cho con người.
Đôi mắt của nó thường không chớp và không dám nhìn vào mắt người.

Trước khi phù thủy có luyện ma krasi chết, họ sẽ tìm một ai đó kế thừa để trao lại những con ma krasi này.

Phi Lok

Đây là một dạng địa linh.
Nó sợ con người và ít khi làm hại đến ai nếu như không xâm phạm gì đến nó. Loài này thỉnh thoảng vẫn hiện lên cho con người bắt gặp.

Phi Prai --

Vong hồn của người phụ nữ đã chết trong khi sinh con. Đồng thời, cơ thể của cô ta được các thầy pháp luyện thành nơi trú ngụ cho một loại ma con gọi là Phi Tai Tong Klom.( một dạng Gumanthong)


Để luyện phép, thầy phù thủy phải đặt nến dưới cằm của xác chết, và từ tinh chất dầu chảy ra từ xác chết, ông thầy có thể dùng cho nhiều việc, một trong những việc ấy là quyến rũ phụ nữ.

Phi TAI Hà



Vong hồn của người phụ nữ chết vì bệnh sốt rét.

Những con ma cũng sẽ lây lan bệnh này.Cho nên, ai bị loại ma này ám nhập sẽ mắc bệnh như sốt rét.

Phi Khamot

Một vong linh thường xuất hiện dưới hình dạng của một đốm sáng màu đỏ. Ở Việt Nam ta thường gọi là ma trơi.

Phi Nẵng Tani

Một loại vong linh sống nhờ vào sinh khí của cây, chủ yếu là vong linh nữ. Loại này thường đi theo và liếm bát của các sư sau khi thọ thực. Cho nên, sau khi thọ thực xong, các sư thường mang thức ăn thừa rải ra cho các loài khác dùng và rửa bát sạch sẽ để tránh loài ma này làm bất tịnh.

Phi Pa

Một loài ma rừng.

Thợ săn sau khi đi săn được thú, họ thường để lại một mảnh chân, môi, lưỡi hoặc mí mắt của một con vật bị giết để bày tỏ lòng kính trọng đối với các loại ma này.

Phi Phuang Khang

Một loài vong linh trong hình dạng của một con khỉ đen. Loài này rất thích mút ngón cái của những người đang ngủ trong rừng.Người bị mút sẽ mất dần sinh khí mà đau ốm hoặc chết.

Người ta nói loài này cũng thường sống gần bãi biển để liếm muối.

Phi Ka



Những linh hồn này thường ám nhập các phụ nữ. Khi rút hết sinh khí của người này, nó có thể chuyển sang người phụ nữ khác có cùng sở nghiệp, giống như một loại kí sinh trùng vậy.

Phi HAi --


Đây là loài ma đói, một loài vong linh chết một cái chết không tự nhiên như: chiến tranh, bạo lực, tai nạn, chết cháy... không ai cúng bái.

Loài ma này luôn tìm mọi cơ hội ám nhập con người để có thể thỏa mãn cơn đói và sự uất hận vì chết không yên.

Bình thường, chúng có thể gây ra nhiều tình huống để hại nạn nhân như: xô té sông, té vào xe tải...

Phi Pop --



Một loại vong linh rất dữ dằn và nguy hiểm thường hiện lên dưới hình dáng một người con gái đẹp. (Ở Việt Nam, vùng Tây Nguyên, người dân tộc gọi là ma lai rút ruột).



Chúng thường xuất hiện trong đêm, khi cái đầu rời khỏi thân thể bay đi kiếm ăn với đùm ruột lòng thòng. Do đó, hãy cẩn thận phụ nữ xinh đẹp.
Loại ma có lẽ là đáng sợ hơn bất kỳ loài khác ở Thái Lan.

PHI TAI TONG KLOM

Người Thái có niềm tin rằng một người mẹ với đứa bé chết trong bụng mẹ có thể trở thành một loài ma dữ dằn ghê gớm.


Thái người gọi đó là ma PHI TAI TONG KLOM.

Vì vậy, ở Thái Lan, bất kỳ ngươi phụ nữ mang thai nào chết sẽ không được hỏa táng ngay lập tức mà phải được các sư chú nguyện cẩn thận. Bởi họ tin rằng việc hỏa táng ngay sẽ làm cho vong linh của người chết không hài lòng và biến thành ma.

Gumanthong
Cách luyện Guman Thong trong thời cổ xưa mới thật là đáng sợ.

Các thầy đã phải đi đến nghĩa địa một mình trong đêm, đào những xác chết của bà mẹ có mang, cắt bụng của xác chết lấy đứa con ra. Sau đó vội vàng đến khu vực gần nhất lò thiêu gần nhât để nướng sấy đứa bé sao cho khô quắt lại.
Kế tiếp la quá trình luyện phép để vong linh đứa bé trở thành quỷ nhi

Vì vậy, chỉ có các-mạnh tâm trí người sở hữu những kiến thức ma thuật tiên tiến để chống lại ma quái có thể làm điều này.


NAM MAN PRAI

(Nam Man = dầu, Prai = nữ ma).


Các thầy bùa Thái muốn luyện dầu như nhu cầu để kích dục cho đối tượng, họ sẽ luyện phép này... Sử dụng các ngọn nến từ từ sưởi ấm dưới cằm của xác chết để lấy dầu từ xác chết chảy ra. Chất dầu này sẽ dùng để luyện dầu yêu.
Những niềm tin vào ma và tinh thần vẫn còn phổ biến rộng rãi trên toàn Thái Lan & Châu Á.

Ma Hồi giáo đã xuất hiện mà có thể được hướng giảm do hưng thịnh một miếng thịt heo (tốt hơn là một con lợn của người đứng đầu) lúc đó.

Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2010

Ma giấu - chap 02

- Trời đất ơi…!
Bình chạy vội vào nhà, vừa lúc cậu Ba đang xỏ dép bước ra.
- Chuyện gì mà nửa đêm mày la hét vậy hả?
- Thầy ơi… mấy.. con ếch… nó… - Bình lắp bắp không nói nên lời.
- Mấy con ếch nó sao? Chết hết rồi hả?
- Nó… nó…
- Hay là rắn vô bắt ếch…
- Hổng phải, nó…
Câu Ba tức mình bỏ mặc Bình đứng đó, chạy vội ra sau hè. Cô Ba cũng vừa cầm cây đèn bão chạy ra.
Vừa soi vào lu, cả hai sững sờ chết trân…
Trong lu không có một con ếch nào, chỉ đầy nhóc những cục đất to tròn bằng nắm tay trở lên.
Cậu Ba vừa quay trở vào nhà vừa than thở:
- Hết thời rồi! Hết thời rồi… Ma dám giỡn mặt thầy, ma dám giỡn mặt thầy…
Cả nhà im lặng như đưa đám, không ai dám nói với ai một tiếng nào.
Sau đó vài tháng…
Mùa mưa đến. Muỗi rừng nhiều như trấu. Trời vừa chạng vạng là nó bay ra cả bầy vo ve như tiếng đàn tiếng sáo. Chỉ cần quơ tay cũng nắm được mấy con.
Cho nên, vừa thấy mặt trời gác núi là ai nấy lo buông mùng. Ai ăn cơm chậm trễ thì bưng luôn vào trong mùng ngồi ăn. Ăn xong rồi đẩy mâm ra ngoài sáng hôm sau mới rửa.
Nhà cậu Ba nghèo nhất nhì trong xóm (nói là xóm chứ cách xa nhau hàng chục thước mới có một căn nhà lá lụp xụp). Thầy trò cậu phải tranh thủ làm thêm buổi tối. Ban ngày, sau khi đi rẫy về, cậu và Bình chặt thêm mấy khúc tre lồ ô về chẻ nhỏ đan rỗ rá. Buổi tối, thầy trò đốt một đống un bằng lá rừng có mùi cay vừa thay cho đèn dầu vừa để xua muỗi.
Hôm đó, mợ Ba bị sốt, thằng Bình phải lo dọn rửa chén bát phía sau, còn một mình cậu Ba ngồi vun đống củi khô và lá cây để đốt. Mùa mưa, lá và cành đều ẩm ướt, thổi cho cháy lên được là cả một công trình. Khói bay mịt mù cay xè đôi mắt…
Bỗng …
Một tiếng nói vang lên sau lưng, phía cửa rào:
- Ô, có lửa rồi. Chú cho hơ lửa chút.
Tưởng có người hàng xóm nào ghé ngang, cậu Ba chẳng thèm quay lưng lại, trả lời:
- Hơ thì vô hơ, khách sáo gì.
Một bóng người bước tới ngồi cạnh bên cậu Ba:
- Cảm ơn nhe!
- Lại khách sáo. - vừa nói cậu vừa đứng dậy bước vô phía trong hốt thêm mớ lá.
Đến khi quay lại, cậu Ba điếng hồn “Ơ” lên một tiếng khi nhìn thấy …
Người đàn ông đang ngồi hơ lửa đội cái nón lá rộng vành kiểu người Tàu, trên người khoác tấm lá bện bằng cỏ tranh phủ ra sau lưng. Áo quần ông ta rách rưới. Hai tay giơ ra phía trước huơ huơ gần lửa, bàn tay gầy đét trơ xương, các ngón cụt gần hết còn trơ cùi…
Nghe tiếng “ơ” của cậu, người đang ngồi ngước mặt lến nhìn. Trời đất ơi! Trên khuôn mặt đầy xương lạnh lùng như xác chết là hai hốc mắt sâu thẳm, hoàn toàn không có tròng mắt, con người.

Người đàn ông chợt cất tiếng cười, hàm răng ông nhe ra trắng ởn…
Thần hồn nát thần tính, không kịp suy nghĩ đến một câu chú hộ thân cầu tổ nào khác, cậu Ba quơ tay chụp cái rựa trên đất liệng về phía người đàn ông rồi co cẳng chạy vào nhà…
Sáng hôm sau, hai thầy trò đi tìm cái rựa…
Nó nằm tuốt ở bìa rừng, bên cạnh một gò mối bự chảng…

***
Câu chuyện của Bảy Bình làm tôi nghẹn ngào. Cuộc đời làm thầy bao nhiêu là truân chuyên. Dù không bất hạnh như cậu Ba nhưng huynh đệ tôi cũng đâu có sung sướng gì!
Cứu người thì được tiếng khen, không cứu được người thì bị mang tiếng oán. Thậm chí khi đã giúp người qua cơn nguy hiểm, người ta vẫn cho là nhờ đổi thuốc, tìm được bác sĩ hay… Cái thói đời, đau chân thì hả miệng, vừa chạy bác sĩ vừa cầu khẩn tứ tung vừa thỉnh thầy bà đủ hướng. Đến khi khoẻ mạnh thì phẩy tay, ngoảnh mặt cho rằng nhờ khoa học hiện đại, nhờ bác sĩ chuyên khoa mới bên nước ngoài về… Hừ! Bác sĩ mà ở được ngãi ma lai hay mở được độc trùng thư ếm thì mấy ông thầy huyền môn về núi hoặc bỏ nghề từ lâu rồi!
Chạnh lòng, tôi nhớ lại hai câu thơ của thầy thường hay ngâm ngợi:
“Nhân tình thường bạc như vôi
Đến khi gặp ác mới hồi hung tâm”
Cuộc đời của một ông thầy có bao giờ ăn ngon mặc đẹp. Thậm chí, khi được tặng một cái áo mới, thầy cũng phải thắp hương bàn tổ rồi châm vào cho thủng áo mới dám xỏ vào.
Tôi nhớ lại ông Út làm thầy sửa sưng trặc ở xóm tôi hồi ấy cũng vậy …lối xóm không ai dám hó hé đến nhà ông, mặc dù ông rất hiền nhưng mọi người đều "chợn". Người ta đồn nhà ông toàn là ngãi nghệ, đến nhà ông thế nào cũng trúng ngãi mà chết. Tôi lúc đầu cũng sợ lắm, nhưng vào nhà ông tôi chẳng thấy cái gì khác hơn bộ bàn ghế cũ mèm, cái bàn thờ đóng tạm bằng tấm ván cũ, một bình hương chõng chơ chẳng có bùa phép ngãi nghệ gì. Tôi được ông chữa đau ở ngón tay. Ngay trong buổi chiều ấy, tay tôi lành lặn bình thường như chưa từng bị trặc. Chúng tôi cám ơn ông và ra về sau khi cúng tổ ... chỉ bằng một cái trứng gà đã luộc sẵn...
Sau này lớn lên, tôi có quay lại tìn ông. Nhưng ông đã chết được vài năm, căn nhà nhỏ của ông được đứa cháu sang tay cho chủ khác. Thoáng chút ngậm ngùi về cuộc đời làm thầy, sống trong nghèo khó, cô đơn (xóm giềng có ai dám chơi với ông đâu), chết cũng trong cô đơn nghèo khó ( nghe nói lúc ông chết chỉ có một bộ đồ cũ liệm xác, một chiếc hòm phước thiện của trại hòm và vài người tốt bụng tiễn đưa).
Sau này khi học phép ra sư với thầy, tôi mới thấm thía cái vị cay đắng chua chát của cuộc đời. Minh Tịnh sư huynh tôi cũng đâu có hơn gì, thậm chí còn vất vả bất hạnh hơn nhiều. Tôi còn ung dung đi tour đây đó chứ huynh ấy suốt ngày bị cột chặt vào công việc, phải cày bừa để hùn cơm với gia đình, lúc tan sở lại đạp xe cọc cạch đến nhà người ta chữa bệnh.
Mà thói đời nghĩ cũng lạ. Phù thịnh không ai chịu phù suy. Thầy càng giàu có càng làm tiền dữ tợn, con công đệ tử càng xúm vào tâng bốc. Thầy lệnh phải cúng bao nhiêu tiền thì phải cung cúc lo đủ bấy nhiêu tiền, không hề dám thở than một tiếng. Nhưng gặp thầy đi xe đạp, mặc áo rách thì khinh khi ra mặt, một ly nước chẳng muốn mời. Thậm chí nghe đề nghị bố thí phóng sanh họ liền nhăn mày nhíu mặt than không có tiền xoay sở…
Đó là lý do vì sao người đời dễ bị lường gạt đến tiền mất tật mang…
Thật ra, than thở là nói theo thói đời vậy thôi. Khi vào cửa đạo, ai nếm qua pháp vị mới thấy nó hơn hẳn mọi vị trên cõi đời. Không có gì bình an bằng sự bình an trong tâm hồn con người. Tự biết thế nào là đủ, ung dung trong cuộc sống “an bần lạc đạo”, thế mới là tiên tại thế…

- Dạ, hôm nay em về kiếm huynh là có chuyện gấp.
Câu nói của thằng Bình kéo tôi trở về với thực tại.
- Có chuyện gì vậy Bình?
- Dạ, sư phụ bảo em phải về tìm sư thúc đi một chuyến về Bù Đăng để phụ giúp sư phụ. Nhưng về đây thì sư thúc đi núi mất tiêu rồi. Chuyện lại gấp gáp quá, em chạy lại tìm huynh hú hoạ, biết đâu huynh có thể giúp được gì. May sao, gặp huynh và anh Hai ở đây…
- Mà chuyện gì mới được, mày cứ vòng vo hoài anh hổng hiểu gì hết.
Bảy Bình hắng giọng và bắt đầu kể…

Khu dân cư ở Bù Đăng nhà cửa khá thưa thớt. Cách xa hàng chục thước mới có một căn nhà lá. Hiếm hoi lắm mới có vài căn nhà tường lợp tôn xi măng. Đó là nhà của mấy vị cán bộ trong xã sinh sống ở nơi này từ rất lâu. Ở phía sau khu nhà là rừng chuối bạt ngàn kéo dài đến ngút mắt. Người dân ở đây sinh sống chủ yếu là nghề làm rẫy, tỉa bắp, trồng mì. Các loại cây khác như mít, đu đủ chuối thì trồng tự nhiên, đến khi đủ ngày tháng cây tự động ra trái. Chủ vườn cứ việc ra đốn về đóng vào cần xé mang ra vựa bán.
Bọn trẻ ở vùng này gần một nửa là thất học. Muốn đến trường Tiểu học, phải lội bộ gần chục cây số mới đến xã. Học Trung học thì phải đi mấy chục cây số ra tận thị trấn. Nhà ai nấy đều nghèo, làm gì có đủ tiền bạc và phương tiện mà đi học như con nít thành thị. Vả lại, đi học hết lấy ai coi nhà và phụ giúp chuyện gia đình. Thôi thì trời sinh sao chịu vậy. Chừng nào khá giả hẵng hay.
Đám trẻ con ở nhà một đám lủ khủ, nhiều khi ba mẹ chúng đi làm rẫy hết, không biết chuyện gì làm chúng liền tụ tập nhau lại bày đủ trò để chơi, khi thì nhảy dây, khi thì rượt bắt, lúc thì đá banh, chọi cầu, leo cây, đánh chõng…
Hôm trước, mấy đứa nhỏ ở không tụ tập lại chơi trò ma chuối…
Thằng Hiếu con chú Năm trưởng ấp oẳn tù tì bị thua nên ngồi chính giữa làm ma. Bọn trẻ chạy vào rừng chuối cạo phấn chuối đem về xoa đầy mặt mũi tay chân thằng Hiếu. Sau đó, thằng nhỏ ngồi chồm hổm, hai tay bịt mặt. Cả đám đi vòng tròn xung quanh mỗi đứa cầm trong tay một tàu lá chuối vừa đi vòng quanh thằng Hiếu, bọn trẻ gõ tàu chuối lên đầu thằng nhỏ vừa hát:
Con ma chuối
Ở trong núi
Ở trong rừng
Nhảy cà tưng
Qua con suối
Về ăn muối
Về ăn cơm
Nằm ổ rơm
Chơi rượt bắt
Hú… oà… oà…
Hát chừng vài chập, thằng Hiếu vụt đứng dậy. Hai mắt giương lên chỉ còn tròng trắng. Hai tay nó vươn về phía trước, lưỡi chợt le dài, nó khệnh khạng chạy …
Lũ trẻ rú lên bỏ chạy tán loạn. Mấy đứa nhỏ hoảng hốt chạy tuốt về nhà đóng cửa lại, hai ba đứa lớn lúc đầu ngỡ thằng Hiếu giả vờ nên còn né qua né lại cười cợt. Sau vài phút, thấy vẻ không bình thường của thằng Hiếu, tụi nhỏ bắt đầu sợ thiệt. Không ai bảo ai, tụi nó cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng tìm chỗ nấp…
Một lát sau…
Nghe không khí chừng yên tĩnh trở lại, thằng lớn nhất chạy ra khỏi chỗ ẩn nấp thăm dò. Xung quanh vắng lặng, thằng Hiếu biến đi đâu mất. Những đứa khác cũng lục tục kéo ra, hỏi thăm nhau, chẳng ai thấy thằng Hiếu ở chỗ nào. Thế là nháo nhào đi tìm…
Chiều tối, người lớn đi rẫy về, thằng Hiếu vẫn bặt vô âm tín. Nghe bọn trẻ kể lại, cả xóm đốt đuốc chạy tìm tứ xứ . Chú Năm xách chiếc xe honda cà tàng chạy thẳng lên xã báo cáo. Xã đội cử mấy dân quân vác súng đi tìm với bà con.
Một đêm thức trắng. Gần sáng, mọi người lủi thủi kéo về. Ai nấy phờ phạc. Chú thím Năm mặt mũi bơ phờ hốc hác…
Bóng dáng thằng Hiếu vẫn mù mịt.


Ngày thứ hai trôi qua trong vô vọng. Bóng dáng thằng Hiếu vẫn bặt vô âm tín. Mấy độI tìm kiếm đã toả ra khắp cả vạt rừng để cứu hộ nhưng tất cả đều trở về trong thất vọng. Bây giờ, gia đình chú Năm chỉ còn hy vọng vào nhóm ngườI dân tộc đang lùng ở vạt rừng bên trong.
Đến tốI, mấy thanh niên ngườI Ch’ro đã về đến xóm. Nhưng, nhìn thấy thái độ ủ rũ của họ, ai nấy đều biết kết quả như thế nào rồi. Già làng dẫn đầu nhóm tìm kiếm lắc đầu nói bằng tiếng Việt lơ lớ:
- Bọn tui tìm khắp nơi không thấy gì. Cũng không có dấu thú rừng. Tui chắc thằng nhỏ bị con ma bắt đi rồi.
Thím Năm gục xuống xỉu tại chỗ, mọi người lại phải đưa thím vào nhà cứu chữa…
Chợt, anh Tư Phước hàng xóm sát nhà cậu Ba Hồng nhớ ra:
- TạI sao mình không nhờ anhBa ảnh giúp cho. Tui biết ảnh làm thầy hồI còn ở Sài Gòn lận.
Chú Năm mừng như ngườI chết đuốI vớ phảI phao cứu sinh:
- Sao anh không nói sớm. Anh đưa tui qua nhà ảnh đi.
Thế là chú Năm cùng Tư Phước chạy qua kiếm cậu Ba…
…
- Dạ - Bảy Bình kết thúc - thầy em nói dạo này khí vận không tốt lắm, không thể làm được chuyện này.Nhưng ngườI ta năn nỉ quá sức, vả lạI chú Năm cũng là ngườI trên xã, không giúp ổng cũng khó khăn trong công việc sau này. Vậy là thầy kếu em tức tốc về Sài Gòn tìm sư thúc trợ giúp. Không có ổng thì may thay gặp hai anh ở đây…
- Gặp ở đây thì sao? – Tôi hỏI ngược lại.
- Em định nhờ huynh giúp…
Bình chưa nói hết câu, tôi trợn mắt:
- TrờI đất! Bộ em tính kêu anh theo em về Bà Rá hả?
- Dạ, rốI quá, em chỉ biết nhờ huynh…
- Nhưng… chuyện này tao chưa làm lần nào hết. Không biết có được không nữa.
- Huynh ráng giúp giùm thầy trò em. Lúc này, không có huynh em chẳng biết nhờ ai. Huynh làm ơn giúp giùm…
Thằng Bình năn nỉ làm tôi mủI lòng.
Còn đang ngẫm nghĩ thì chân tôi bị đá nhẹ một cái. Ngó sang, Minh Tịnh nhìn tôi khẽ gật đầu một cái. Tôi mừng húm:
- Ông giúp tui nhe!
Minh Tịnh lạI gật đầu. Tôi thở phào nhẹ nhõm.
- Thôi được rồi. Trả tiền cà phê rồI mình lên đường luôn. Ghé qua nhà anh lấy đồ cái đã, tiện thể nói vớI mà anh một tiếng kẻo bà trông…
***
Đường về Phước Long xa mù mịt. Ba huynh đệ tôi ngồI bó chả trong chiếc xe chạy bằng than nóng như lò bát quái và chật cứng. Thằng Bình có vẻ quen thuộc nên ngồI tự nhiên, Minh Tịnh lên xe ngồI nhắm mắt như ngủ. Có mình tôi là khó chịu thật sự. Trước nay, mỗI lần đi xa, nếu không đi máy bay thì cũng đi ô tô du lịch gắn máy lạnh đàng hoàng.bây giờ mớI biết cảm giác đi xe than thú vị cỡ nào… Ngồi im một hồI, tôi thử quán tưởng. Thân con ngườI lúc chưa sinh ra cũng đâu có rộng rãi gì hơn. Trong một cáin túi nhau chật hẹp suốt chín tháng mườI ngày. Khi ra đờI lạI bị quấn vòng trong vòng ngoài như bó chả. Lớn lên lạI bị ràng buộc vào trong hàng loạt những thứ linh tinh khác, rồI mãi quây quần trong đờI tạm cũng chật chộI khó chịu tù túng có khác chi mình ngồi trong chiếc xe than này. Chẳng qua, một cảm giác chật hẹp nóng bức có thể cảm nhận được và một cảm giác vô hình không thấy được đó thôi…
Nghĩ đến đó, tôi thấy cảm giác khó chịu không còn hành hạ mình nữa. Tôi cũng bắt chước Minh Tịnh khoanh tay lim dim mắt. Bất ngờ, sư huynh mở mắt nhìn tôi cườI ý nghĩa. Tôi cũng cườI và nhắm mắt lạI đọc bài kinh hộ mạng: “ Buot tho tế lô…”

***
Vào đến chỗ ở của cậu Ba, tôi mớI biết cuộc sống cậu ấy khổ đến thế nào. Một căn nhà lá ba gian lụp xụp, cái sân hẹp phơi đầy củ khoai mì và bắp. Bước vào trong, cái bàn thờ đóng tạm bằng mấy miếng ván cũ, trơ vơ phía trên là hình Phật Di Đà, Quan âm, phía dướI là tấm sắc thờ chư vị 5 ông đã bạc màu theo năm tháng…
Cậu Ba từ nhà sau bước lên, nhìn thấy huynh đệ tôi, cậu ớ lên một tiếng rồI đứng trân ngỡ ngàng, xúc động. Có lẽ cậu không ngờ huynh đệ tôi lặn lộI lên tận chốn này…
Chuyện hàn huyên những tưởng không cần kể lể dài dòng. Huynh đệ chúng tôi ngay sau đó theo cậu Ba sang nhà chú Năm ba nthằng Hiếu. Nghe nói có thầy ở Sài Gòn xuống, bà con trong xóm kéo đến một nhà. Kẻ trong ngườI ngoài lố nhố như xem hát tuồng. Huynh đệ tôi đã quen vớI những chuyện này nên cũng không ngạI ngùng cho lắm.
Sau khi nghe kể đầu đuôi câu chuyện, Minh Tịnh nhìn đồng hồ nói:
- Bây giờ cũng chiều rồI, mình phảI khẩn trương lên để kịp tìm thằng nhỏ về trước lúc trờI tối. Để mặt trờI sụp xuống là khó hy vọng lắm. Đêm nay là đêm thứ ba rồi.
Chú Năm tha thiết:
- Dạ, thầy cứ chỉ dạy, chuyện gì tụI tui cũng là hết.
Tư Phước cũng xen vô:
- Tụi tui cũng giúp nữa thầy. Cả xóm này ai cũng lo cho thằng nhỏ hết trơn, thầh có cần gì cứ nói.
Minh Tịnh không nói không rằng tiến đến bàn thờ Thổ công thắp nhang khấn vái. Tôi biết huynh ấy đang triệu thỉnh Thổ Thần hỏI việc.
Giây lát, Minh Tịnh cắm nhang vào lư hương, quay sang bảo tôi:
- Ông thắm nhang bàn thờ Phật và bàn thờ gia tiên. Đọc bài Ân đức Phật trước, sau đó qua bàn thờ gia tiên lấy tên tuổI thằng nhỏ mà tụng kinh hộI Cửu Huyền Thất Tổ, nhờ họ bảo mạng giùm.
Quay sang chú Năm:
- Anh vào bếp lấy cho tôi cái chén mà thằng nhỏ thường dùng ăn cơm. một đôi đũa cũ đem lên đây. Còn bà con – quay sang Tư Phước huynh nói tiếp – ai tuổI Dần, Ngọ Tuất thì đi phụ tìmn thằng nhỏ, ai không phảI tuổI thì cứ ở nhà đi theo không tiện.
Trong khi tôi cúng bên trong thì Minh Tịnh bước ra sân vẽ bùa làm phép…
Pháp sự hoàn tất, cái chén của thằng Hiếu được đặt vào trong lư hương cửu huyền. Lấy gạo đổ đầy chén, Minh Tịnh thắp ba cây nhang cắm vào, lấy một cái trứng gà để dướI chân nhang, gác ngang đôi đũa và bắt đầu khởI hành vào rừng.Nhóm ngườI tìm kiếm cũng chia làm ba nhóm theo tuổi. Tôi và Minh Tịnh đi vớI nhóm tuổI Dần, cậu Ba Hồng và chú Năm đi vớI nhóm tuổI Ngọ, thằng Bình và thím Năm đi vớI nhóm tuổI Tuất. MỗI nhóm mang theo chiêng, nắp nồI, vỏ đạn để gõ tạo thành tiếng động. Vừa gõ, họ vừa gọI tên thằng Hiếu om xòm.

Rừng càng lúc càng dày đặc, trờI cứ tốI dần đi. Chúng tôi bắt đầu sốt ruột. Cây nhang đã tàn hơn một nửa mà bóng dáng thằng Hiếu vẫn không thấy đâu.
mệt mỏI, chúng tôi ngồI bệt xuống một gốc cây to nghỉ ngơi. TrờI sẫm dần lạI, không gian mờ ảo…
Bỗng, một con khỉ từ đâu trên cây nhảy xuống chụp lấy cái trứng gà và chạy biến vào rừng mất dạng. MọI ngườI nhốn nháo toan chạy theo thì sư huynh tôi ngăn lại. Nhìn thấy vả mặt tươi cườI của huynh ấy là tôi biết có chuyện vui rôi.
- Sao ông? Được rồI hả?
Khẽ gật đầu, huynh ấy gọI lớn: “ Bà con về nghỉ, trờI tốI rồI không tìm được nữa đâu.”
MọI ngườI lốc thốc kéo về.
Đến gần nhà chú Năm, ai nấy nghe tiếng ồn ào náo nhiệt. Giọng tư Phước to nhất:
“… TụI tui mệt quá tính đi vế thì thím Năm bả mắc tiểu. Bả vừa chạy u vô phía sau bụI chuốI để xả thì tụI tui nghe bả la chỏI lỏi. Hết hồn, tui và thằng Bình chạy vô thấy bả đưa tay chỉ bụI chuốI lớn bên trong. mấy ngườI biết gì không? Thằng Hiếu nó ngồI thu lu ở giữa mấy gốc chuối. Mắt nó đứng tròng, tay bó gối. Còn cái miệng nó hả… TrờI đất ơi, nhét đầy nhóc đất cục luôn. TụI tui chạy lạI khiêng thằng nhỏ ra ngoài, móc đất trong miệng nó ra. Ông ơi.. trong đất còn có mấy con trùng bò lổn ngổn thấy mà ớn. Vậy là mấy anh em tôi thay nhau vác nó chạy về đây…”
Minh Tịnh vẹt mọI ngườI ra, tiếng đến chỗ thằng nhỏ đang nằm trên bộ ván. mặt của nó xanh mét, mắt nắm khít như ngủ. Huynh ấy, lấy lay đặt lên đầu thằng Hiếu nhắm mặt niệm lâm râm, tôi cũng nắm vộI hai ngón chân cái đứa nhỏ để tiếp lực. Đọc xong bài kinh Phật Lực, Minh Tịnh thổI ba hơi vào đỉnh đầu thằng Hiếu. Đoạn, dựng nó lên vỗ ba cái vào giữa hai gù vai.
Thằng Hiếu cựa mình mở mắt. Thím Năm mừng qua chạy lạI ôm chầm lấy nó khóc nức nở…
Minh Tịnh dặn:
- Ở nhà pha nước gừng cho đứa nhỏ uống, đừng bu đông qua nó bị ngộp.
sau khi tỉnh hẳn. Hiếu bắt đầu kể:
- HồI chơi trò ma chuối. Con đang ngồI thì có một cô đẹp lắm bước tớI hỏI con muốn đi chơi không, có chỗ này vui lắm. Con vừa gật đầu thì cô đó bước tớI nắm tay con chạy đi vù vù. Đến một chỗ đông ngườI lắm. Họ rủ con ở lạI chơi, họ cho con nhiều đồ ăn vớI kẹo bánh. Đang ăn thì mấy chú đến kêu con về…
Thì ra thằng nhỏ bị ma chuốI dấu. Hồn nó bị đưa vào cõi ma, cũng may là còn kịp đưa về. Nếu không, để qua đêm nay thế nào nó cũng bị kẹt ở lạI trong đó làm ma rừng suốt đời.
…
Chú Năm mừng rỡ liền làm luôn mấy con gà đãi bà con chòm xóm. Dĩ nhiên chúng tôi là thượng khách nên được khẩn khoản ở lạI thưởng thức món gà nướng đất sét đặc biệt do thím Năm làm. Anh em tôi viện cớ ăn chay nên xin phép ra về…
Trên đường về nhà cậu Ba, tôi và Minh Tịnh khẽ chạnh lòng cho cái vô minh của con người. Lẽ ra, con được cứu trở về thì gia đình phảI hồI tâm chuyển ý mà tin Phật. Đằng này… còn tiếp tục sát sanh để ăn mừng thoát nạn. Nghiệp này cứu được, sau này nghiệp khác chồng lên không biết ai sẽ là ngườI cứu họ đây.
Nghĩ mà buồn cho ngườI đời. Miệng họ luôn nói tin TrờI tưởng Phật, ngồI nói chuyện vớI nhau toàn lý lẽ cao sâu đến khi gặp chuyện rồI mớI hiểu con ngườI thực tạI là thế nào. Tôi khẽ chua chát nhớ lờI nói của chú Năm trước khi chia tay:
- Tôi hứa sẽ ăn chay mà. Nhưng đó là chuyện ngày mai. Còn bữa nay, anh em mình nhậu một bữa cho vui, coi như mừng thằng nhỏ bình an trở về…
Không biết khi nghiệp báo đổ tớI, có ai đứng ra hẹn ngày mai không nhỉ?
… TốI đó, ngồI nói chuyện vớI cậu Ba đến gần sáng. Chúng tôi mớI biết thêm nhiều câu chuyện về sự thăng trầm của cậu suốt thờI gian qua. Thôi! Làm thầy là để trả nghiệp. Nghiệp hết rồI thì mọI thứ lạI bình ổn như xưa thôi.
Nhìn lên bà thờ lấp loé mấy cây nhang cháy đỏ, tôi biết chư Thần vẫn còn ở đó. Nhưng, đâu có chư thần nào chịu xen vào nhân quả thế gian đâu. Họ chỉ xuất hiện đỡ lưng trong những lúc tốI cần thiết… Đó lại là chuyện khác sau này của câu ba, không phải là câu chuyện bây giờ
… Ba giờ sáng, thầy trò thằng Bình đã thức dậy tiễn huynh đệ tôi ra lộ lớn. Nơi đó, những chiếc xe than chở chuốI mít, khoai mì đang đổ về Sài Gòn. Chúng tôi sẽ đi nhờ một trong những chiếc xe than ấy. Quà tặng mang về là … mấy củ khoai mì mà cô Ba thức dậy nấu từ hồI sớm.
Chiếc xe than rồ máy chạy bon bon trên con đường về thành phố. Bóng thầy trò cậu Ba nhanh chóng biến mất trong màn đêm. MỗI ngườI lạI tiếp tục cuộc hành trình của mình…
Còn gia đình chú năm? Có lẽ giờ này họ vẫn đang ngủ ngon sau bữa tiệc rượu linh đình.
Ngó sang Minh Tịnh, huynh ấy lạI tiếp tục khoanh tay lim dim không biết đang ngủ hay thức.
Ngó ra ngoài, trờI vẫn còn tốI đen như mực. Chiếc xe than chở chúng tôi đang cố pha đèn vào khoảng không gian đen tốI để tìm đường chạy…
Viết xong ngày 15 tháng 5 năm 2009
(TADN)

Ma giấu - chap 01

- Em chào anh Dũng! Mấy nay anh khoẻ không?
Đang ngồi uống cà phê tán gẫu cùng sư huynh Minh Tịnh thì một tiếng chào cắt ngang câu chuyện. tôi ngẩng đầu lên nhìn. Một thanh niên ngoài 30 tuổI gầy gò, đen đúa như ngườI dân tộcđứng trước mặt tôi cườI toe toét. Nhìn nụ cười, tôi ngờ ngợ.
- Hình như em là…
- TrờI ơi, thằng Bình nè, anh hổng nhớ em hả.
- Bảy Bình phảI hôn? Ông ơi, em đi đâu mà ghé đây? Không phải đã về Bà Rá ở rồi sao? Sao lại có mặt ở chỗ này. Còn anh Ba thầy của em có khoẻ hôn? Ảnh có về hôn?
Tôi hỏi liên tu bất tận không kịp cho Bình trả lời, thằng nhỏ cứ đứng ngẩn ra mà cười. Một bàn tay vỗ nhẹ lên đầu gối của tôi, quay lại thấy Minh Tịnh vừa cười vừa chỉ vào cái ghế. Tôi lúc bấy giờ mớ ngớ ra là chưa cho thằng nhỏ ngồI xuống.
- Thôi chết, anh xin lỗi. Bình ngồi xuống rồi nói chuyện đi em. Gặp lại tao mừng quá nên quên cả việc mời ngồi.
- Dạ - Bình với tay kéo cái ghế ở bàn bên kia qua và từ tốn ngồi xuống. Trông nó có vẻ mệt mỏi.
- Em uống gì không?
- Dạ anh cho em ly cà phê đá ít đường.
- Sao em biết anh ở đây mà ghé?
- Dạ, em ghé nhà, nghe người nhà nói anh đi uống cà phê nên thử đi tìm. May sao chư thần chỉ lối vừa ra một đoạn là thấy anh đang ngồi với anh Hai…
- Ừ, lúc rảnh không biết làm gì là anh rủ ổng đi uống cà phê tán dóc cho đỡ buồn đó mà. Sao, còn em với thầy em dạo này thế nào?
- Dạ…

***
Tôi quen với thầy trò của Bình cũng trong một lần đi núi. Ngày ấy, trên núi Cấm còn hoang sơ lắm. Người hành hương tứ xứ tụ tập lên Điện Bồ Hong lễ bái cúng dường xong là trải chiếu dướI mấy gộp đá mà ngủ. Người có tiền thì chịu khó đi bộ xuống vài trăm bậc đá sẽ có mấy cái chòi che tạm để giăng võng ngủ. Nhưng hầu như mọI ngườI đều thích ở lạI trên đỉnh hơn. Có lẽ họ muốn được lãnh điển trờI hay vì muốn được tự do nhóm họp và ca hát…

(Điện Bồ Hong)
Đêm đó, người ở lại trên điện đa phần là bổn đạo của phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa, phần còn lại là các vị có phần căn được vô hình dựa xác. Tôi tháp tùng theo đoàn khách hành hương ở khu người Hoa Chợ Lớn. Sau phần cúng lễ, hầu hết thành viên trong xe tôi đều xuống dướI triền để nghỉ ngơi. Chỉ riêng tôi cùng vài người ở lại ngồi đàm đạo chuyện đông tây kim cổ. Không khí lúc đó cũng vui, bên đây rì rầm nói chuyện, bên kia đọc tụng lào xào, Văng vẳng vang lên mấy bài kệ pháp của các vị linh căn về điển…
Bỗng, ở phía bên kia có tiếng la hét bất thường. Cảm giác có điều bất ổn , tôi cùng vài huynh đệ vôi chạy qua xem. Trong ánh sáng nhập nhoạng của đèn nến nghi ngút trên bệ thờ, tôi nhìn thấy một người phụ nữ đang vật vã. Những người xung quanh đều hoảng hốt tránh ra xa thành một vòng tròn , chỉ còn lại ngiữa vòng hai người đàn ông một trung niên, một trẻ tuổi. Anh bạn trẻ đang cố hết sức giữ chặt vai người phụ nữ, còn người đàn ông trung niên đang dùng nhang khoán thổi. Trớ trêu ở chỗ, càng khoán thổi người đàn bà càng vật vã giữ dội.
Sau một lúc, người phụ nữ vùng dậy được hất mạnh chàng trai té ngã vào đám đông và gầm gừ gào thét dữ dội. Người đàn ông trung niên có vẻ hốt hoảng và tức giận. Tôi thấy ông ta co tay trái thành Lôi ấn, chuyển chân thành bộ Cương, ngưng thần nắm chặt bó nhang trong tay…
Không hiểu động lực nào giật tôi ra khỏi đám đông, chạy đến chụp cổ tay ông lại. Người đàn ông quay sang nhìn tôi với vẻ khó hiểu và bực dọc. nhưng lúc ấy tôi còn để ý gì nữa đâu. Chụp ly nước để trên bệ thờ, tôi kết ấn Cát Tường đọc kinh thỉnh Tổ. Một luồng khí ấm áp từ đỉnh đầu lan xuống, tôi lâng lâng sảng khoái. Không hiểu sao tôi bật nói một tràng tiếng lạ, khẩu âm giống giống tiếng Khơme nhưng không phải.
Người đàn bà đang vật vã bỗng dịu hẳn lại. Bà ta ngồi yên lắng nghe tôi nói một cách chăm chú. Thế rồi…
Người phụ nữ cất tiếng trả lời. Tiếng nói cũng âm hưởng giống cách phát âm của tôi. Cả hai nói chuyện qua lại với nhau liên tu bất tận. Nói ra thì kỳ, trước nay có bao giờ tôi biết nói tiếng Miên tiếng Lèo gì đâu. Hôm nay sao đột ngột xuất khẩu thành lời, một thứ ngôn từ mà mình chưa bao giờ học. Thầy tôi có nói, đó là tiếng âm, tiếng của chư vị Lục Tổ chư vị Lục Xiêm ở cõi giới trên trao điổi với nhau. Nghe thì nghe vậy chứ có áp dụng lần nào đâu mà biết, giờ đây gặp chuyện, cái thứ tiếng lạ đó cứ tuôn trào như nước chảy. Lạ hơn nữa là người phụ nữ nói đến đâu, tôi hiểu ngay đến đó, hiểu một cách tự nhiên như đang nghe tiếng mẹ đẻ của mình…
Trao đổi với nhau một hồi lâu, người phụ nữ gật đầu ra vẻ đồng ý. Tôi liền bước tới gần hớp một hớp nước trong ly phun lên phía sau lưng người phụ nữ. Bà ta ưỡn người dựng đứng thân mình rồi rũ xuống như tàu lá chuối bị gió quật gãy. Sợ phần điển xuất ra mang theo sinh khí, tôi liền quỳ xuống phía sau lưng hoạ chữ Phật trong phép của Tổ sư Đại động vào giữa hai vai người phụ nữ, miệng lâm râm khấn vái:
MÔ TÂY PHƯƠNG SƯ TỔ, ÔNG BÙA ĐẠI TIÊN, LỤC CỤ CHUI.
NAM MÔ ÔNG BÙA, ĐỨC PHẬT VƯƠNG TRỢ LỰC CHO ĐỆ TỬ LÀM PHÉP GIÚP Đ ỜI..
Thời gian trôi nhanh khoảng chừng hớp một chung trà, người phụ nữ cựa mình tỉnh dậy. Bà đưa mắt ngơ ngác nhìn quanh như dò hỏi. Tôi ngoắc mấy người ngồi gần đưa bà ta ra khỏi tâm vòng tròn, đoạn trả chung nước lại trên bàn thờ. Tiện tay, tôi thắp bảy nén nhang kỉnh lễ chư vị…
Người đàn ông trung niên nãy giờ im lặng quan sát việc làm của tôi bây giờ mới lên tiếng:
- Chào huynh, chẳng hay huynh là…
- Dạ, tôi ở Sài Gòn mới xuống hồi chiều này.
- Tôi cũng ở Sài Gòn đây. Chẳng hay huynh ở quận mấy?
- Dạ, tôi ở quận 5, gần chùa Bà Thiên Hậu đường Nguyễn Trãi.
- Còn tui ở quận 8, gần cầu Chà Và. Tui với bổn đạo - vừa nói ông vừa chỉ mấy người ngồi quanh – cũng mới xuống hồi chiều này.
- Huynh ở gần cầu Chà Và vậy có ở đường Bến Ba Đình không vậy?
- Ủa, huynh biết hả? Tui ở cuối bến Ba Đình, gần chợ Xóm Củi đó.
- Dạ, thỉnh thoảng tôi cũng có qua đó thăm người quen – Tôi cố tình dấu tung tích của thầy mình.
- Hay quá. Vậy khi nào có qua, huynh cứ đến gần ngã ba hỏi thăm cậu Ba Hồng, ai cũng biết tui hết đó. Có dịp huynh ghé qua nghen. Còn đây là thằng Bình, học trò của tui – Ông ta quay sang chỉ người thanh niên đứng bên cạnh.
Khẽ gật đầu chào anh ta, tôi trả lời cho xong chuyện:
- Dạ. Khi rảnh tôi sẽ ghé…
Chưa đợi tôi nói hết, cậu Ba Hồng - tức người đàn ông trung niên - đã vội kéo tôi ra ngoài vòng tròn và hỏi nhỏ:
- Hồi nãy, huynh trao đổi gì với mấy ổng vậy?
Thì ra huynh ta đang thắc mắc cái vụ nói chuyện tiếng âm. Tôi cười hỏi lại cắc cớ:
- Vậy huynh biết mấy ổng là ai hôn?
- Tui biết là chư vị thôi, còn là ai thì chưa rõ lắm.
- Chưa rõ mà huynh định dùng Ngũ Lôi đánh người ta, thiệt là …
Ba Hồng cười gượng:
- Hồi nãy, thấy nó lì quá nên tui định trục ra…
Lần này đến tôi nghiêm mặt:
- Tôi nói thiệt lòng, mong huynh tha lỗi nếu có gì xúc phạm. Huynh chưa biết là ai, cũng chưa hỏi rõ ngọn nguồn đã thủ ấn đánh người, không khéo sau này gặp chuyện phiền phức không gỡ nỗi đó. Người ta là điển cô cậu, chưa đủ thời kỳ về xác, huynh triệu thỉnh các vị nhập về lại không giải điển được làm người ta bị kẹt trong xác, vậy mà còn định đánh Ngũ Lôi nữa thì lỗi của huynh nhiều quá xá.
Cậu Ba chống chế:
- Tôi nghĩ nếu là chư vị thì phải xuất nhập bình an chứ, có lý đâu lại …
- Muốn về xác phải có sắc lệnh. Cái xác thối tha này, nhất là xác nữ càng nhiều uế trược, ai mà ngự cho được chứ. Lỡ vào rồi chẳng khác gì cá vô lờ, mắc kẹt lại xác làm sao mà chịu nổi… Hồi nãy, các vị giận huynh lắm đó.
Cậu Ba Hồng dường như thấm thía, thở dài ngồi im nhìn vào khoảng không trước mặt…
***
Chuyện ấy xảy ra thắm thoắt đã gần 10 năm.
Sau này, thỉnh thoảng qua thăm thầy, tiện đường tôi cũng có ghé nhà cậu Ba Hồng chơi. Nhà cậu cũng không rộng rãi gì, một trệt một gác gỗ. Điện thờ ở trên gác, phần nhà trệt để bán tạp hoá và phòng ngủ, nhà bếp, nhà vệ sinh. Những chuyện giao lưu qua lại có lẽ không cần thiết phải dài dòng làm gì. Có điều, tôi không thường ghé nhà cậu mặc dù cậu rất quý tôi. Bởi mỗi lần ghé, ít nhiều gì tôi cũng phải ngồi đồng tiếp xúc với một loạt các đồng đạo của cậu ta. Nhìn thấy các vị ấy cứ lúc âm lúc dương, không bao giờ chịu tự chủ bản thân mà tu tiến, lúc nào họ cũng chờ đợi có ai nhập xác để nói chuyện huyền cơ khiến tôi cảm thấy buồn lòng. Chư vị về tá điển làm việc giúp đời chẳng qua là muốn lập đủ các công đức để thằng lên bậc cao. Công đức ấy, phần xác được hưởng một phần. Nếu ai biết nương theo điều đó mà tu tập thì mau thăng tiến, ngược lại sẽ trở thành con đồng không hơn không kém.
Tôi buồn và không muốn tiếp xúc vì hầu hết những người tôi gặp đều sống dựa vào cõi vô hình. Thậm chí không ai giáng điển họ cũng tìm cách gật gù ỡm ờ cho có vẻ linh thiêng huyền bí, nói chuyện thì cứ như người cõi trên, áo quần thì luôn khác người. Nếu không loè loẹt phấn son thì cũng ra vẻ tiên nhân giáng thế. Hỏi thăm gia đình họ mới biết đa số là con cái lang thang học hành không đến nơi đến chốn, vợ chồng hục hặc. Tôi chạnh nghĩ, lúc nào họ cũng ở trên mây như thế, chả trách chồng, vợ, con cái nản lòng mà xa cách. Tôi có đưa vấn đề ra nói thẳng, nhiều vị còn tỏ vẻ giận dỗi hoặc đổ thừa cho căn số. Thiết tưởng, căn số là hoàn cảnh trớ trêu mà con người tìm mọi cách thoát ra nhưng không thoát. Còn họ cứ bỏ nhà bỏ cửa đi hết chùa này miễu nọ, hết đình to am nhỏ, hết núi lớn đến sông dài thì gia đình làm sao cung phụng cho nỗi…
Càng nghĩ, tôi càng thấy họ xa dần những điều Phật dạy, mê mãi trong ánh hào quang mà chư vị tá về giúp độ. Ngày nào đó không xa, khi công thành quả mãn, chư vị rút điển đi còn trơ lại xác thân, lúc bấy giờ nghiệp đổ ra không ai gánh chịu giùm mình…
Bẵng một thời gian rất lâu tôi không ghé, nghe đâu gia đình cậu Ba bán nhà đi về kinh tế mới ở tận Bù Băng – Sông Bé (bây giờ là Bình Phước). Thằng Bình là đệ tử thân thiết, cũng không có người thân nên cậu Ba Hồng đưa nó theo sống chung.
Vậy mà thoắt cái đã hơn ba năm …

***
- Dạ.. thầy em có lời hỏi thăm huynh và anh Hai…
Câu nói của Bảy Bình kéo tôi trở về với thực tại.
- Vậy dạo này cậu Ba ổng sống ra sao?
- Vất vả lắm huynh ơi - Giọng Bảy Bình lắng xuống cố nén một tiếng thở dài.
- Đành chịu thôi. Về vùng kinh tế mới mà, có phải như ở thành phố đâu mà đòi hỏi tiện nghi sung sướng.
Minh Tịnh cũng góp vào một câu:
- Ngẫm ra chỉ ở tại đất Sài Gòn này là hạnh phúc nhất. Có nghèo đến đâu cũng không đến nỗi đói kém.
- Về trên ấy, mọi người sống bằng gì?
- Dạ, thì cũng làm rẫy là chủ yếu.
- Ở trên đó yên tĩnh, gần rừng núi, chắc là cậu Ba ổng luyện dữ lắm hả Bình?
Thằng Bình khẽ cúi đầu:
- Mất hết rồi huynh ơi. Thầy Tổ hết độ rồi…
- Vậy là sao ? – Tôi ngơ ngác.
- Dạ… sư phụ không những chữa bệnh hết được mà còn bị ma rừng phá phách nữa!
- Trời đất! Có chuyện đó sao?
Bảy Bình bắt đầu kể, nó kể nhiều lắm nhưng tôi chỉ lược thuật lại hai câu chuyện :
… Sau khi về Sông Bé gần một năm thì các nguồn hỗ trợ dành cho người đi kinh tế mới cạn sạch. Chính quyền thì ở xa, điều kiện đi lại thì khó khăn, rẫy bắp trồng suốt thời gian qua không cho được bao nhiêu trái, lại không bán được cho ai. Thế là đói.
Thầy trò thằng Bình phải đi bẫy thú, bắn chim để cải thiện.
Hôm đó, hai thầy trò đang đi thăm bẫy thì nghe tiếng ếch kêu vang rân. Cậu Ba soi đèn và phát hiện trên mấy gò đất ếch hội đầy. Con nào con nấy bự bằng bàn tay trở lên. Mắt ếch phản chiếu ánh đèn lấp lánh. Mừng rỡ như bắt được vàng, hai thầy trò bỏ cả việc thăm bẫy lao vào bắt ếch. Cái dòng ếch nghĩ cũng lạ, bị đèn chiếu vào mắt là ngồi trơ ra như bị thôi miên, người ta chỉ có việc bước tới nắm lấy ngang thân bỏ vào lồng.
Chẳng mấy chốc, cái lồng đan bằng tre lồ ô đã đầy. Hai thầy trò khệ nệ mang về nhà, vừa đi vừa tiếc rẻ mấy con ếch chưa bắt.

Đổ hết giỏ ếch vào cái lu gạo đã trống rỗng, thằng Bình chắn lên nắp đậy một cục đá to cho chắc ăn. Nó cẩn thận để hở ra một chút vừa đủ cho lũ ếch không chết ngộp. Xong, hai thầy trò đi ngủ. Cậu Ba vào ngủ trong buồng, thằng Bình ngủ ở nhà sau….
Chỉ mới lim dim chưa kịp thả hồn thì.. thằng Bình chợt nghe không khí yên lặng một cách lạ kỳ. Cái im lặng thật đáng sợ. Nó tạo cho người ta một cảm giác bất an. Thằng Bình trăn trở một hồi chợt nhận ra nãy giờ không hề nghe tiếng ếch kêu. Quái! Không con này kêu thì cũng còn con khác chứ, lẽ nào im dữ vậy!
Nó mò mẫm trong bóng tối lần ra sau hè. Đứng bên lu ếch, Bình đánh que diêm cháy sáng. Một tay cầm diêm, một tay kéo nắp lu xích ra một chút. Vừa nhìn vào lu, Bình đã hốt hoảng hét lên…
(TADN)

Chuyện cây chuối

(Thấy blog TADN đóng cửa, TGVH cũng im lìm, tui tiếc mấy bài viết hay nên coppy về đây để anh chị em đọc đỡ buồn. Chắc là tác giả không nỡ trách cứ).


Cây chuối có tánh âm, nhất là chuối xiêm. Những oan hồn có thể mượn thân chuối lâu năm mà tá nhập vào để dưỡng linh. Vì vậy, người xưa thường trồng cây chuối bên cạnh mộ người con gái chết khi còn mang bầu. Linh hồn cô gái nương vào thân chuối ngày hứng dương quang đêm thu âm khí đủ thời kỳ hoa chuối trổ buồng cũng là lúc đứa nhỏ trong bào thai xác chết chào đời. Có như vậy vong hồn người chết mới không nặng oán hờn, dễ dàng siêu độ. Lúc đó, thầy đẵn lấy thân chuối, cho mặc áo quần người đã khuất, hoa chuối vừa trổ được gói lại thành hình hài nhi đặt vào lòng mẹ. Thầy làm pháp sự, trì chú vãng sanh, tụng kinh hoá hồn giúp cho mẹ con vong linh an lòng ra đi không vương vấn. Sau khi hoàn mãn pháp sự, tất cả được thiêu ra tro rải xuống sông lớn để hoá giải.

Ở xóm trong nhà tôi có chị Xuân lấy chồng được ba năm. Chồng là anh Tư Móm chạy xích lô máy, chở mối đi chợ sớm. Cứ độ 3 giờ sáng là anh chồng nổ máy đùng đùng chạy từ trong xóm ra đường báo thức mọi người. Riết rồi cũng quen. Tôi ngủ trên bộ ván gõ của ông nội để lại ở nhà trước. Khi xích lô máy anh Tư chạy qua cũng là lúc tôi ngồi dậy tu luyện (thật ra luyện phép trong giờ Dần là điều không nên, nhưng ngặt nỗi nhà tôi thức khuya coi Tivi ngay nhà trước. Nằm chờ mọi người đi ngủ thì… tôi đã ngủ trước từ tám đời rồi). Thời gian đầu thầy tôi chỉ cho tôi trì chuỗi và niệm Phật. Sau vài tháng thầy mới bắt đầu hướng dẫn kết ấn Chuẩn Đề trì chú pháp…
Tôi không ngờ chuyện lại bắt đầu từ chị Xuân vợ anh Tư móm…
Hôm đó tôi đi học về thì thấy xóm trong ồn ào xôn xao. Nhìn tụi Út Chín Út Mười con bà Hai Cẩu đang chạy lon ton chen vào đám đông, tôi cũng quăng cặp chạy theo bất kể tiếng réo í a í ới của bà nội. Len qua được chân của đám đông đang chen chúc, bàn tán, tụi tôi đã đứng ngay trước cửa nhà anh Tư móm.
Nhìn vào trong, tôi chợt lạnh cả người…
Nằm trên cái đi – văng giữa nhà là một xác người đắp mền. Cái mền nhỏ không đủ phủ hết toàn thân, tôi thấy lộ ra hai bàn chân nhỏ nhắn trong đó bàn chân bên phải đen bầm. Cái xác nằm ngửa nên tôi thấy rõ cái bụng to đùng nhô lên muốn che khuất cả nải chuối dằn trên bụng.
Ông trời ơi! Đúng là chị Xuân rồi. Ở nhà có mình chị là có bầu thôi. Cái bụng bầu hơn bốn tháng kia đúng là của chị rồi chứ còn ai vô đây nữa! Hổng lẽ chị chết?
Tôi rón rén chuồn qua chân mọi người đi ra bên ngoài. Thấy bà Hai Nhà bìa và mấy bà xóm trong nói chuyện về chị Xuân, tôi mon men lại nghe.
- Tội nghiệp – bà Hai vừa xỉa cục thuốc bự chảng vừa nói – Nó bị rắn lục xanh cắn mà không chịu đi chữa liền. Chỉ mời ông thầy rắn về nhà đắp thuốc thôi mới sanh chuyện vậy đó. Nó mà nghe lời đi vô bệnh viện là đâu đến nỗi.
- Chị cứ mê tín bệnh viện. Vô trỏng có ba mớ thuốc đỏ bông gòn với trụ sinh làm gì mà chữa rắn cắn. Nói vậy là có lỗi với ông thầy đó nghen. Chính mắt tui thấy ổng chữa nè! – Bà Mười Tình cãi lại.
- Ổng chữa sao?
- Ông thầy này Miên hay Chà gì đó, tay ổng xăm bùa thấy phát ớn luôn. Tui qua coi chừng phụ với má thằng Tư, thấy ổng bắt con Xuân nằm trên bộ ván đó, rồi ổng lấy một lá trầu với lại một cây nhang làm phép. Ổng vẽ gì đó lên lá trầu rồi lấy lá trầu rà trên mình con nhỏ, vừa rà lên rà xuống ổng vừa gỏ cây nhang lên lá trầu. Miệng ổng xí xô xí xào tiếng Miên tiếng Lèo gì hổng biết mà …
Bà Mười Tình ngừng lại phun miếng cổ trầu đỏ hoét ra, lấy hai ngón tay vuốt dọc theo mép vét sạch nước đỏ còn dính rồi thong thả kể tiếp:
- Con Xuân nó nằm rên như ai đánh nó, rồi nó bắt đầu uốn éo. Chèn đét ơi, cái bầu nó chang bang vậy mà nó uốn qua uốn lại dẻo quẹo như cái mình con rắn. Nó vừa vặn vẹo vừa rên, nước miếng nó chảy ròng ròng như chó điên thấy phát ớn. Mấy bà biết sao hôn, chừng nhai dập miếng bả trầu là ông thầy ngưng lại, tui thấy lá trầu ổng cần đổ nhớt thấy ghê. Sau đó ổng lấy miếng vải trắng băng lại. Ổng nói con Xuân có bầu nên ổng trục nọc ra không hết. Phải trị ba ngày, mỗi ngày một chút mới dứt.
- Ổng làm hay vậy sao con nhỏ chết chứ? – Bà Hai hỏi ngang.
- Vậy mới nói. Tại thằng Tư móm hết trơn. Nó giết vợ nó đó.- Bà Mười kể tiếp - Ông thầy về hồi trưa hôm qua, tối thằng Tư về nhà mới hay vợ nó bị rắn cắn. Nó vạch chân ra xem, thấy có miếng vải trắng băng ngang , nó tháo ra luôn. Tui cũng không biết sao con nhỏ lại để cho chồng nó tháo nữa. Nọc chạy lên cổ, một chút thôi tui nghe nó la làng, chạy qua khiêng nó lên xích lô chở vô bệnh viện đến gần sáng thì con nhỏ chết. Thiệt là tội nghiệp, nó chết kéo theo luôn đứa nhỏ…
Nói không dứt câu, bà Mười thở dài sườn sượt…
Đám ma chị Xuân tổ chức sơ sài. Thầy trng chùa coi ngày nói phải chôn nhanh mới kịp ngày giờ tốt, còn không phải chờ đến tuần sau. Vậy là đám ma bữa trước, bữa sau gia đình vội vã đem chôn ở miếng đất phía sau nhà gần ruộng rau muống. Bên cạnh ngôi mộ là cây chuối xiêm tươi non.
Vào mùa khô, ruộng rau muống cạn dần không trồng tỉa gì được. Mấy đứa trong xóm tôi thường kéo nhau ra chơi đá banh, nhảy dây. Nhưng vui cỡ nào, tụi nó cũng không dám bén mảng đến gần ngôi mộ và cây chuối. Chỉ có tôi…

Ỷ lạI vào công tu luyện Chuẩn Đề và có thầy tôi làm hậu thuẫn, tôi chẳng hề sợ hãi ngôi mộ đất và cây chuốI kia.Trong khi mấy đứa bạn nhí nhố chơi giỡn ngoài xa thì tôi cứ ung dung bắt chuồn chuồn gần mộ. Có lúc tò mò tôi còn đứng bên mộ quan sát cây chuối. Thật ra cây chuốI cũng bình thường thôi, chẳng có gì thần bí hay ma quái như lờI kể của mọI người. Trồng mới có ba tháng mà chuốI mọc xanh tốt nõn nà. Nhìn kỹ, tôi thấy trên thân cây còn buộc miếng vảI sô tang màu trắng.
“Chắc ngườI ta cột để làm dấu” – Tôi nghĩ.
Gió ngoài ruộng thổI mạnh, cây chuốI uốn éo phe phẩy mấy tàu lá xanh. Bất giác tôi đưa tay sờ vào thân cây…
Một dòng điện lạnh từ cây chuốI truyền sang ngón tay tôi, chạy dọc theo sống lưng lên thẳng trên ót. Tôi giật bắn ngườI rụt tay lạI. Cả ngườI tôi rần rật , cảm giác ngột ngạt khó thở mặc dù gió chiều vẫn đang thổI lồng lộng trên ruộng rau muống. Tôi bỏ chạy về nhà…
Chiều hôm đó tôi bỏ ăn, ngườI ngây ngấy sốt. Má tôi vộI chạy mua hai viên Aspirin cho tôi uống. Nhưng tình hình vẫn không đỡ chút nào. Tôi nằm lịm trên giường trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh…
… Ruộng rau muống cuốI xóm trảI rộng trước mắt, tôi ngơ ngác lướt nhẹ trên các tảng đất khô nứt mà không có cảm giác đau đớn gì. Bầu trờI sao mà ảm đạm quá, cứ nhờ nhờ như buổI sáng chuẩn bị mưa. Chẳng thấy ai ngoài ruộng ngoài tôi. Bước chân vô tình cứ đưa tôi đến gần ngôi mộ đất. Cây chuốI vẫn cứ im lìm đứng bên ngôi mộ. Tôi bước đến gần đưa tay sờ vào cây chuốI, động tác giống y lúc chiều… Thân chuốI trơn lì, mát lạnh. Đột ngột, cây chuốI chuyển động, nó uốn éo rồI đổ oặt xuống. Trong lúc chưa biết chuyện gì xảy ra thì thân chuốI bỗng quấn chặt lấy chân tôi. Nhìn xuống. TrờI đất ơi! một con rắn lục xanh lè cái mình to bằng thân cây chuốI lúc nãy đang nằm dài bên ngôi mộ. Đuôi rắn khoá chặt hai chân tôi, đầu rắn ngóc cao lên dần. Tôi thấy mồn một hai con mắt tròn như miệng ly uống trà, cái lưỡI đỏ hoét chẻ hai cứ thò ra thụt vô. Đôi điếng hồn nhìn trân vào đôi mắt rắn, miệng cứng ngắc không niệm được câu chú nào trong khi lòng tôi đang gào thét dữ dội. Thoáng mơ hồ phía sau đầu rắn là bóng chị Xuân đang đứng bên cạnh mộ vớI cái bụng bầu bự chảng…

Con rắn bắt đầu há cái miệng ra. To dần, to dần… Hai cái răng nanh của nó nhọn hoắt, cái lưỡi đỏ thè ra thụt vào gần đụng chót mũi của tôi. Thân thể tôi cứng đờ, đầu óc hầu như tê dại. Tôi đứng yên giương mắt nhìn cái miệng rắn đang banh ra hết cỡ, không còn một chút hơi sức nào. Lỗ tai tôi lùng bùng, thân thể dường như đang tan ra hoà vào một thứ gì đó sền sệt, dẻo quẹo. Lúc cảm giác ấy lan dần lên đến ngực là lúc miệng rắn chuẩn bị hạ xuống đầu tôi…
Ngay lúc đó, giữa đỉnh đầu tôi nổ “bụp”. Trong cảm giác mơ hồ ngây dại, tôi còn thoáng thấy một tia sáng màu vàng trắng hắt lên từ đầu tôi. Con rắn lục khổng lồ nhạt dần rồi biến mất. Thân thể tôi nhẹ tâng tưởng chừng có thể bay được lên cao như chim vậy…

… Tôi mở mắt. Xung quanh giường đứng ngồi lố nhố mấy người. Bà nội, cô Ba, bà mợ Ba và… chao ôi, có cả thầy tôi nữa. Tôi mở miệng toan nói nhưng dường như hơi sức tan đi đâu hết. Thầy biết ý phẩy tay ra dấu. Đoạn, thầy quay sang bà nội:
- Cháu nó tỉnh rồi, thím để tui xoa bóp mấy huyệt đạo của nó một chút cho thông máu.
- Mô Phật, nó tỉnh lại là may - nội tôi nói – nó nằm mê man cả ngày nay làm tui mất vía luôn vậy đó. May nhờ có thầy tình cờ ghé thăm, nếu không thì… tui cũng hổng biết làm sao. Chắc chở nó vô bệnh viện quá.
Thầy tôi cười nhẹ khẽ đưa mắt nhìn tôi. Ánh mắt và nụ cười đầy ý nghĩa.
Nội tôi yên tâm rút ra nhà sau ngồi ăn trầu với bà mợ. Cô Ba tôi cũng vô bếp làm cơm. Còn lại hai thầy trò. Tôi toan mở miệng nói lần nữa thì thầy tôi đã lật tôi nằm sấp trở lại. Thầy lấy trong cái túi cũ ra một hộp kim châm và cây ngãi cứu đã phơi khô cuộn tròn thành điếu thuốc sâu kèn. Bàn tay thầy nhanh thoăn thoắt cắm một lúc mười mấy cây kim trên lưng tôi. Vừa cắm thầy vừa đọc nho nhỏ:

- NAM MÔ ĐỨC NGỌC HÒANG THƯỢNG ĐẾ, TỨ VỊ THẦN TRỜI.
- NAMÔ THÁI ÂM PHẬT - NAMÔ THÁI DƯƠNG PHẬT.
- NAMÔ CHÍN PHƯƠNG TRỜI MƯỜI PHƯƠNG PHẬT.
- NAM MÔ SƯ TỔ Ở ĐẠI ĐỘNG HỘ ĐỘ ĐỆ TỬ GIÚP ĐỜI.


Châm xong mấy cây kim, thầy mồi lửa vào cây ngãi và đốt mấy đầu kim. Hơi nóng từ đầu kim lan toả xuống các huyệt đạo dọc sống lưng làm tôi thấy dễ chịu hẳn…


Thầy tôi ra về sau khi để lại ba hoàn thuốc tể đen thui như cục than để tôi uống mỗi đêm trước khi ngủ và dặn dò nội tôi mua bảy thứ lá ba thứ gai để xông và tắm…
Ngày Chủ nhật đã đến. Viện lý do vào trường lao động, tôi đạp xe đến nhà thầy.
Căn nhà thầy chật hẹp lại càng chật hẹp hơn vì số lượng người quá tải. Ngoài hai ông sư huynh là Minh An, Minh Tịnh thường xuyên mỗi tuần, hôm nay nhà thầy có một ông thầy chùa áo lam tướng mạo gầy gò trạc tuổi thầy tôi.
Thấy tôi dẫn xe vào, thầy tôi nhìn ra cười nói với ông thầy:
- Nhắc nó thì nó đến.
Ông thầy nhìn tôi chăm chú làm tôi lúng túng đến nỗi không tháo được cái giỏ đựng sổ tay móc trên ghi-đông xe.
Tôi vừa bước vào nhà, thầy tôi đã chỉ sang ông thầy, nói:
- Chào sư bá đi con. Sư bá đang tu với sư công trên Thủ Đức đó.
Tôi cúi đầu chào sư bá, chào thầy và vào đốt nhang bàn Phật. Tai vẫn nghe sư bá nói:
- Thằng này có căn tốt lắm. Xác hội đó. Ông lượm ở đâu mà được mấy đứa tốt quá vậy?
- Huynh hổng nhớ nửa năm trước, khi thầy xuống núi về chùa tu đó sao?
- Nhớ, mà sao?
- Trước khi xuống núi một tháng thầy đã cho em thằng nhỏ này đó.
Thầy kể nhanh câu chuyện về tôi ( trong “Một cõi âm dương”). Nghe xong, sư bá gật gù:
- Ông còn có duyên thầy trò, tôi giống như cây độc. Không biết sao này ra sao.
- Lo nghĩ gì huynh ơi! Huynh còn được tu bên thầy, còn tôi phải gánh một gánh này- vừa nói thầy vừa chỉ tay xung quanh - Huynh có phước đức hơn tôi nhiều. Vả lại, “trồng ba cây, hưởng được hơn một cây” thôi huynh à!
- Vậy hả? Dù sao cũng tốt hơn không có gì.
Nghe hai người lớn nói chuyện, thiệt tình ba huynh đệ tôi chẳng hiểu ất giáp gì ráo. Mãi mấy mươi năm sau, tôi mới biết huyền cơ…
Nhưng đó là chuyện khác. Tôi kể tiếp chuyện tôi.
Sau khi lễ Phật, lễ Tổ. Tôi kéo ghế ngồi sau lưng thầy bên cạnh hai ông huynh. Thầy tôi bảo nhắc ghế lên trước có việc. Đoạn, thầy hỏi lại căn cơ sự việc tôi bị bệnh. Tôi thực tình kể hết đầu đuôi, thầy và sư bá ngồi nghe chăm chú. Nghe xong, sư bá cười:
- Cái thằng căn tốt, dễ cảm thông với linh giới. Ông mà không nhận nó, một thời gian sau tự nó cũng làm thầy mà thôi. Nhưng mà… lúc đó nó về đâu thì chỉ có trời mới biết.
- Tôi và nó cũng có duyên. Hôm trước thắp nhang cúng ngọ, nghe trong người khó chịu. Tôi xin một quẻ Lục Nhâm, tính ra có người trong thân gặp chuyện, kiểm lại chỉ có thằng này kỵ ngày kỵ tháng. Tôi vội đi ngay. Đến không kịp chắc vía của nó đi dạo Trung giới luôn rồi.
Tôi rụt rè xen vào:
- Thầy ơi, tại sao con bị bệnh vậy thầy?
- Cây chuối có tánh âm, giờ đây có thêm hồn phách cô gái có mang bị chết oan phụ vào, dĩ nhiên là âm tính càng mạnh. Con là đồng tử, lại có căn âm, dễ cảm nhận linh giới hơn người khác nên dương khí bị ảnh hưởng chứ sao.
- Nhưng con thấy con rắn lục tổ bố luôn. Nó muốn nuốt con…
- Chẳng có con rắn nào hết. Oan khí hoá hình đó thôi. Cô gái chết oan vì bị rắn cắn, bây giờ oán khí ấy kết trong thân cây chuối hiện thành hình rắn. Con phạm vào cây chuối, tất nhiên bị rắn nuốt rồi…
- Vậy con hiểu rồi. Nếu cổ bị chó cắn chết thì… con sẽ thấy con chó hả thầy?
Thầy tôi và sư bá nhìn nhau cười.
- Nhưng hồi con rắn nuốt con, tại sao có ánh sáng trên đầu con vậy?
- Đó là linh quang hộ thể. Khi con nhập đạo, thầy thỉnh điển quang của Sư Tổ Đại động tá nhập vào con để hộ thân. Thời gian qua con trì chú Chuẩn Đề, mặc dù không thấy ấn chứng gì nhưng linh quang càng mạnh. Gặp lúc nguy hiểm , linh quang sẽ phóng ra bảo hộ.
- Sao nó không bảo hộ từ đầu…
- Thần trí con không định làm sao linh quang xuất hiện được. Khi nào tu tập đến mức cao thì con mới có thể tuỳ ý vận dụng linh quang hộ thân, chữa bệnh…
Thì ra là vậy. Trước đây tôi cứ tưởng học bùa phép là có một hoặc nhiều ông thần nhập vô mình, đi theo mình,mình sai bảo gì mấy ổng sẽ làm theo giống như mấy ông tiên trong truyện Phong Thần. Vậy ra, cái mà ta tưởng là chư thần đi theo, chỉ là điển quang của các vị mà thôi. Trước đây tôi còn nghĩ, có một ông thần mà cấp cho quá xá người, làm sao ông ta lo cho xuể. Bây giờ nghĩ lại thấy mình non nớt ngây thơ làm sao…

- Sư huynh nè. Nếu là sư huynh, cái vụ cây chuối đó sư huynh sẽ tính làm sao.
- Người thường theo phong tục chỉ biết trồng chuối bên mộ mà chưa biết cách siêu độ. Lẽ ra, sau khi cây chuối trổ hoa, họ phải đẵn thân chuối, cho mặc quần áo người chết vào. Cắt hoa chuối, quấn lại như quấn em bé đặt vào lòng hình nộm ấy. Tụng kinh hoặc chú để cầu siêu. Sau đó, đem đốt đi, thả tro xuống sông là an.
Ngó sang tôi, sư bá nói:
- Thằng này có duyên với phần âm, bây giờ nó phải trợ duyên cho người ta.
- Ý trời! sư bá ơi, con hổng biết làm gì đâu. Đừng kêu con lại gần cái mã đó nữa. (mà đúng vậy, sau này tôi rất sợ đến gần mấy ngôi mộ có trồng chuối, đặc biệt lại càng sợ rắn).
- Con tạo ra duyên thì con phải giải. Sư bá chỉ cho con cách này…. Yên tâm, đã có sư bá rồi…
… Ngày cây chuối trổ hoa, tôi lẻn gia đình ra mộ chị Xuân làm phép tán sa. Nói làm phép chứ thật ra tôi chỉ cầm chén cát đáy sông hoà với châu sa mà sư bá tôi đã chú nguyện từ trước. Vừa rải lên mộ tôi vừa đọc Quang Minh Cam Lộ thần chú:
“Oum, Amôga Vairocana maha mudra mani padme jvala pravattaya Hum”.
Tối hôm đó, trong giấc ngủ, tôi thấy chị Xuân mặc bộ quần áo bà ba thiệt đẹp, ẳm trong tay một đứa bé. Cái bụng bầu đã biến mất. Chị bước đi trên con đường nhựa thật rộng, rộng hơn cả xa lộ Đại hàn. Khẽ quay lại nhìn tôi, chị mỉm cười. Một nụ cười thiệt đẹp. Tôi nhớ hoài nụ cười hiền lành hạnh phúc ấy.

Viết xong ngày 11 tháng 10 năm 2008

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2010

Một đêm thức cùng “nhà ma”

Mấy chục năm trước đây, ông Minh vốn không phải là một người nghèo. Khi đó ông có một đội xe đò chạy liên tỉnh. Nhưng rồi tài sản của ông lụn bại dần cho đến khánh kiệt. Giờ đây, ông trở thành người đặc biệt khi đơn độc trú ngụ trong một ngôi nhà hoàn toàn không bình thường chút nào.



Tôi ngồi im lặng quan sát ông, cứ tự hỏi vì sao ông lại có thể bình thản sống trong ngôi nhà đáng sợ này hàng chục năm trời nay. “Con người quan trọng nhất là ở cái tâm, có cái tâm rồi thì chẳng phải sợ gì ma quỷ nữa” – ông Minh cười ý nhị.

Rồi ông lụi cụi đi tưới hoa. Phía dưới đồi, ông có mấy liếp rau và su hào. Đó là cái rẫy của ông. Ở đây, ông sinh hoạt như người dân tộc, gần như tự cung tự cấp. Tài sản còn lại của ông hầu như chẳng đáng gì, bao gồm cả con chó nhỏ chạy lạc vào ngôi nhà này mà ông đang nuôi.

Cùng với con chó, hội họa, hay nói đơn giản hơn là một cách tập tành vẽ tranh – những bức tranh mực tàu mà ông chỉ có thể tặng chứ không bao giờ bán – đó là niềm vui sống duy nhất của ông. Còn tại sao chỉ vẽ bằng mực tàu thì thật dễ hiểu: Ông lão chỉ có chừng ấy tiền mà thôi.

Thế nhưng, đó lại là một con người tự trọng, vì đáng lẽ ra với không ít khách đến tham quan ngôi nhà ma đầu đèo này, ông đã có thể làm được chí ít cái động tác thu “vé vào cửa”. Vậy mà, ông lại không hề nhận tiền của ai, còn tận tình hướng dẫn khách lên lầu xuống gác.

Đêm trong ngôi nhà


Ngược hẳn với dự tính ban đầu, đêm đó tôi đã ngủ lại ngôi nhà đầu đèo. Ông Minh cười hóm hỉnh, hỏi tôi muốn ngủ phòng nào. Trước đó trong bữa ăn tối, tôi đã bốc lên nói rằng tôi muốn có đôi chút cảm xúc gì đó để có thể viết một truyện ngắn về ngôi nhà này.

Đã trót thì phải trét, nhưng vấn đề là phòng nào? Trong ngôi nhà này, căn phòng nào cũng đều có lịch sử ớn lạnh của nó. Nếu là phòng hướng Đông thì đã từng có một tay anh chị ở chợ Đà Lạt, không biết cá cược với chúng bạn thế nào, đến xin ông Minh cho ở ba đêm.

Nhưng chỉ đến đêm thứ hai, tay này mặt cắt không còn hột máu, nói như thét vào mặt ông lão giữ nhà là đã thấy một người đàn bà mặc đồ trắng, tóc tai rũ rượi cứ kéo chân hắn. Còn nếu là căn phòng mà cô gái treo cổ ở phía Tây thì càng đáng sợ hơn, vì vết sơn đỏ mà cơ quan chức năng làm dấu trên tường chỗ có buộc dây thòng lọng vẫn còn sờ sờ ra đó.

Thế là chỉ còn duy nhất căn phòng nằm chính giữa ở tầng trên.


Tai quái thay, căn phòng này lại có đến ba cửa. Cả ba cửa đều không có khóa, chưa kể cánh cửa ra vào luôn sẵn sàng bật tung mỗi khi có một cơn gió thốc tới. Suốt đêm đó, tôi không tài nào ngủ được, dù đã tự cố trấn an mình bằng mọi lý lẽ.

Đêm càng khuya, gió càng mạnh, quăng quật và lồng lộn. Tôi ngồi nép sát vào vách tường, cố làm sao để có thể quan sát đồng thời cả ba cánh cửa. Đến 1g sáng, tôi bắt đầu có ảo giác, mắt tôi bắt đầu nhìn thấy những ảo ảnh chập chờn ở phía sau những cánh cửa.

Có một thoáng, khi tôi vừa nhắm mắt lại, cánh cửa ra vào bỗng bật tung ra. Tôi điếng người, cảm thấy máu trong cơ thể mình đông cứng lại. Đến 5g sáng, không còn đủ sức chịu đựng nữa, tôi bật dậy như lò xo, lao xuống cầu thang. Vừa hết cầu thang, tôi suýt ngã nhào khi trông thấy một cái bóng dài ngoằng.

Trấn tĩnh lại mới nhận ra ông lão giữ nhà. Chẳng cần phải hỏi, chỉ nhìn mặt tôi, ông hiểu ra tất cả.

Đoạn kết về ông lão giữ nhà

Thời gian trôi qua, tôi không còn thấy ngôi nhà ma ấy đáng sợ nữa. Chỉ có điều, thỉnh thoảng nó vẫn làm trong tôi trào lên một cảm xúc khó tả, một thứ cảm giác cô quạnh của hình ảnh ông lão lọm cọm bước đi trên sườn đồi trong ráng chiều hôm.

Nhiều lần, người ta nghe nói đến những dự án cải tạo lại ngôi nhà để phục vụ vào việc kinh doanh du lịch, nghe đâu còn có cả một ý tưởng lớn lao hơn. Nhưng rồi, mọi thứ cứ lãng quên dần, chẳng biết có còn ai đoái hoài tới chúng hay không.

Chỉ biết một điều hiển nhiên là ngoài ông lão thân cô thế cô đang giữ nhà, thật sự không một ai khác có đủ can đảm để coi đó là chỗ ở, hay là chỗ vui chơi của mình.

Bẵng đi một thời gian, tôi không có dịp lên Đà Lạt nên không gặp lại ông lão giữ nhà. Thế rồi nhân lễ kỷ niệm 110 năm của thành phố sương mù, tôi lên Đà Lạt liền ghé lại ngôi nhà. Tôi nhìn thấy một ông già, nhỏ tuổi hơn ông Minh một chút, đang đứng trên cầu thang ngôi nhà.

Tôi vội hỏi thăm về ông lão giữ nhà thì được trả lời: “Ông ấy chết rồi”. Tôi bàng hoàng. Tôi xin phép vào phòng khách thắp nhang cho ông Minh. Chỉ có một lư hương nhỏ đặt trên cái bàn xiêu vẹo, ngoài ra chẳng còn gì khác. Lát sau thấy tôi với ông Minh có vẻ là chỗ thân tình, ông già giữ nhà mới nói nhỏ: “Nghe nói là ông ấy uống thuốc trừ sâu”.

Tôi bật hiểu. Việc ông lão giữ nhà bị con cái hắt hủi thì tôi đã từng nghe, chỉ có điều tôi không ngờ mọi chuyện lại kết thúc như thế này.

Những đợt gió lạnh từ phía thung lũng tràn thốc vào ngôi nhà. Tôi ngẩng lên nhìn người kế nhiệm ông Minh. Ông ấy tên là Mận. Lại một ông già nữa. Nhưng ông già này còn mới quá, hay chính xác hơn là còn trẻ quá so với bề dày thời gian của cái nơi mà ông đang coi giữ.

Thậm chí, hỏi chuyện mới hay ông ta còn không biết có một cái giếng đã bị lấp đi nằm bên hông của ngôi nhà, nơi có một cô gái bị giết....

Theo Phạm Chí Dũng (SGGPO)