Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

Thần tài Ấn Độ - Ganapati-01


Phần đông mọi người thường thờ cúng thân tượng của Ganapati ở dạng ngồi. Đó là tư thế ban bố, ai thờ cũng được.
Bức thangka ở phần sau thuộc hình tướng này. Tuy nhiên nó có khác với các bức vẽ phổ thông đôi chút. Chủ yếu là thay đổi những vật cầm trên tay.
Thân tướng này phù hợp với mọi dối tượng, có thể dùng cho việc thờ cúng, co thể mang theo hộ thân, cầu may mắn, khỏe mạnh. Những em bé khó nuôi, còi xương, người ta thường đến lễ bái thần này, xin sữa cúng cho em bé uống để nó mũm mĩm giống như hình dáng của thần vậy.
Thang ka này, trước đây tôi thường sử dụng vào phép hoả thực. sau khi trì chú Lục thiên, tôi tập trung vào câu chú Ganapati và tiến hành hoả thực. Thangka được thiêu trước, sau đó là các vật thực cúng dường.
Sau đây là thangka thứ hai:

PHÉP HOẢ THỰC:
- TRÌ CHÚ LỤC THIÊN 108L/CÂU.
- TRÌ CHÚ GANAPATI (CÂU 3) : 108 L. SAU ĐÓ VỪA HOẢ THỰC VỪA TRÌ CHO ĐẾN KHI HOÀN TẤT.
- PHÉP HOẢ THỰC ĐƯỢC THỰC HIỆN NGAY TRƯỚC BÀN THỜ. VÌ VẬY CẦN CHUẨN BỊ MỘT LÒ THAN HỒNG SẠCH SẼ ĐỂ HOẢ THỰC.
- NHỮNG THỨ HOẢ THỰC GỒM: BƠ - MẬT - SỮA - PHOMAI - BÁNH CÚNG.
CHÚ LỤC THIÊN:
+ OM, SNÃTE S'NU-YA SNU-YA SVAHA (108l)
(Om, sờ nát tê, sờ nu da, sờ nu da, sóa ha)
+ OM VINA S'U-YA KAS'U-YA SVAHA (108l)
(Om, vi na, shú da, ka shú da, sóa ha)
+ OM NANAPATI DRINI TRAYA SVAHA (108l)
(Om, ga na pa ti, đờ ri ni, tra da, sóa ha)
+ OM VIVAI NAIRA-YA SVAHA (108l)
(Om, vi vai nai ra da, sóa ha)
+ OM BRAVARA SIDIKARAI SVAHA (108l)
(Om, bờ ra va ra, si đi ka rai, sóa ha)
+ OM MAHE S'VARA S'UTA-YA SVAHA.(108l)
(Om, ma hê sờ va ra, shu ta da, sóa ha)
Một số hình tượng thần tài giống với thangka trên. Có điều mỗi phép tu khác nhau thì dấu hiệu thánh linh trên trán cũng khác, những vật cầm trên tay cũng khác luôn.














Thần tài Ấn Độ - Ganapati



Tôi thấy nhiều huynh đệ có đề cập đến pháp tài bảo liên quan đến thần tài Dzambhala của Tây Tạng. Pháp này tôi không tu tập qua nên không có ý kiến. Riêng bản thân tôi, cuộc sống bình ổn không giàu không nghèo, có thể thong dong đây đó... vì hiện tại tôi vẫn cố tạo ruộng phước cho con cái, cho gia đình nhưng đồng thời vẫn duy trì pháp tu thần tài của Balamôn cổ.
Pháp tu của tôi theo dòng thần tài Ganapati, vị thần đầu voi, phúc thần của Ấn độ giáo. Cơ duyên đến với tôi cũng lạ...

Thuở ấy tôi bắt đầu chú ý đến các sách Mật tông. Bao nhiêu bản dịch photo của anh Huyền Thanh, thầy Quảng Trí, cùng với một bộ Đại Tạng của thầy Như Cường tôi đều tìm cách "săn lùng" cho thoả chí.
Sư huynh của tôi là Minh Tịnh cũng cùng đam mê ấy. Huynh ấy ở không nên đọc trước tôi. Sau khi đọc hết chương về GANAPATI thì huynh ấy được ứng mộng. Chư vị về chỉ cho huynh ấy vẽ 4 thangka về dòng Thần tài này (trong bài tôi sẽ đưa thangka thứ nhất lên). Tưởng đổi đời, nhưng ai ngờ có được 4 thangka trong tay huynh ấy còn thê thảm hơn bình thường. Thấy không hạp, huynh ấy đưa cho tôi. Thế là tôi được hưởng trọn gia tài. Có Thangka lập tức tượng cũng theo về. Mấy hôm sau đưa khách đi dạo phố đồ cổ Lê Công Kiều, thấy một bức tượng đồng giống y Thangka, tôi bưng về với giá rẻ như cho.
Sau khi thờ, sư huynh tôi lại được tặng thêm câu chú, biết không phải dành cho mình, huynh ấy lại mang đến đưa tôi để có thể đọc tụng hằng đêm. Cuộc sống vật chất thay đổi dần, không giàu có hay trúng số độc đắc như mọi người thường mơ ước, nhưng vật chất đến đều đều rất tự nhiên và hợp lí.

Tại sao trước đây không có như vậy? tình cờ chăng? Nhưng dù sao tôi vẫn nhớ câu nói của người xưa "có thờ có thiêng, có kiêng có lành"...
Bây giờ, tôi gửi lên diễn đàn để mọi người tham khảo. Nếu ai có duyên với vị này, hy vọng đời mình sẽ đỡ vất vả hơn. Còn nếu vô duyên thì thôi. Đừng hy vọng tu luyện tài bảo rồi ở không của cải cứ tự chui vào nhà. Ai mang tư tưởng đó để tu pháp này, coi chừng tiền không đến mà của lại đội nón ra đi không biết lúc nào.

(Nếu không có tượng thờ, lấy Thangka này phóng lớn lồng khung kính thờ cũng được).
CÁCH CÚNG LỄ:
- BƠ, SỮA, PHOMAI.
- DẦU ÔLIU HOẶC DẦU CẢI ĐỂ ĐỐT ĐÈN.
- BÔNG TRÁI MÀU VÀNG HOẶC TRẮNG.
- ĐẶC BIỆT LÀ XOÀI CHÍN, DỪA XIÊM.
CHÚ ĐỌC TỤNG HẰNG ĐÊM (ĐỌC ÍT NHẤT LÀ 7 LẦN)
- OM, SRHIM GAM SAUMIYAYA GANAPATAYE VARA VADA SATVAYANAM VASA MANAYA SVAHA.
(Om, sờ rim gam, sô mi ya ya, ga na pa ta de, va ra, va đa, sát va ta nam, ma na da, soa ha)
Thangka này phù hợp với những người có công việc giao tế, buôn bán di chuyển không cố định ở văn phòng.




Chiếc gương giết người hàng loạt

Đầu năm 2007, nhà khoa học Mỹ - Tiến sĩ Waine tuyên bố với giới báo chí: Ông đã giải mã được bí ẩn của chiếc “Gương soi ma quỷ” từng gây tai họa cho người Pháp suốt hơn 200 năm qua.



Hồi tháng 11/1977, Hiệp hội sưu tập đồ cổ nước Pháp mở một cuộc họp báo bất thường, công bố trước cộng đồng xã hội một tin “lạnh sống lưng”: Cảnh báo tất cả những người sưu tập và đam mê chơi đồ cổ tuyệt đối không nên tìm kiếm, mua, lưu giữ chiếc gương soi cổ trên khung gỗ của nó có khắc chữ “Louis Alvarez 1743”, bởi nó là một chiếc “gương ma quỷ” giết người hàng loạt, suốt hơn 200 năm qua đã có tới 38 người Pháp “bất đắc kỳ tử” vì soi nó!
Lịch sử đầy tội ác
Chiếc gương kể trên được xuất xưởng năm 1743, mà Louis Alvarez là tên của người thợ gương chế tác ra nó, và cũng là nạn nhân đầu tiên của nó. Chỉ hai ngày sau khi hoàn thành chiếc gương này, người thợ lành nghề nổi tiếng đang khoẻ mạnh bình thường bỗng lảo đảo chúi đầu gục xuống ngay trong nhà xưởng.
Pháp y khám nghiệm tử thi cho hay, Alvarez chết vì chứng tràn máu não (Cerebral hemorhage). Khi đó không ai nghi ngờ và liên hệ giữa sự kiện “bất đắc kỳ tử” này của người thợ gương với chiếc gương soi bất bình thường do chính ông ta làm ra. Chiếc gương về sau được đưa ra bày bán tại cửa hàng tạp hoá và thế là nó bắt đầu cuộc lữ hành dài dặc gieo rắc tội ác.
Tesemer là một ông chủ cửa hàng kinh doanh bột mì tại thành phố cảng Mareseille. Một hôm ông tới cửa hàng tìm sắm quà mừng sinh nhạt cho người vợ yêu, ngước lên bất chợt nhìn thấy chiếc gương soi lồng trong khung gỗ chạm khắc vô cùng tinh xảo đặt nơi tầng trên cùng tủ hàng, ông ta mê quá liền móc hầu bao mua luôn, không mặc cả.
Ngay tối hôm đó, trong phòng khách ngôi biệt thự lộng lẫy của mình, Tesemer trịnh trọng châm sáng 25 cây nến trên mâm bánh gatô sinh nhật, đoạn bê hộp quà ra. Người vợ yêu quý hồi hộp chứng kiến và chờ đợi Tesemer rón rén nhẹ nhàng bóc lớp giấy bọc, để lộ ra chiếc hộp các-tông xinh xinh, mở nắp và lấy ra chiếc gương soi lồng khung chạm khác vô cùng tinh xảo, bất giác vỗ tay reo lên đầy kinh ngạc. Rồi bà tưởng thưởng cho chồng một nụ hôn thắm thiết.
Lúc này, Tesemer thuận tay đưa chiếc gương lên soi và nở nụ cười mãn nguyện với mình. Bỗng ông cảm thấy ớn lạnh toàn thân, rùng mình và đầu óc đột nhiên đê mê, mọi cảnh vật trước mắt chông chênh, chao đảo. Bà vợ tá hoả vội ôm đỡ lấy ông và cố dìu ông tới giường đặt nằm xuống. Nhưng Tesemer nhanh chóng chìm vào giấc hôn mê sâu, sáng sớm hôm sau, khi bác sĩ được mời vừa đặt chân vào phòng, thì Tesemer ngoẹo đầu ngừng thở.
Qua chẩn đoán cho hay ông chết bởi cơn tràn máu não bột phát lúc 7giờ 30 sáng ngày 3/6/1743, khi mới 31 tuổi. Người vợ trẻ quá đau buồn không muốn nhìn thấy vật lại nhớ tới người, liền đem tất cả những đồ riêng tư của chồng sinh thời cho, tặng người khác hoặc nhờ bán tống bán tháo,và chiếc gương định mệnh ấy cũng thất lạc kể từ đó.

(Ảnh minh họa)
22 năm sau, tức năm 1765, người ta lại thấy chiếc gương “yêu quái” đó tái xuất hiện, và nó thuộc quyền sở hữu của vị Biên tập viên trẻ của một nhà xuất bản, mới 35 tuổi, tên là Armold, ông ta mua được chiếc gương tại một hàng xén vỉa hè Paris, và đem về treo trên chiếc đinh tường ngay phía đầu giường nằm của mình trong buồng ngủ.
Về sau, tại nhà xuất bản nọ bàn tán xôn xao về sự “mất tích” của Armold, vì không thấy ông đi làm mấy ngày liền. Người sốt ruột nhất là ông chủ nhà xuất bản, liền cử người tới tận nhà riêng của Armold tại khu chung cư tìm, nhưng cánh cửa bị khoá. Mời bà quản lý toà nhà tới dùng chìa khoá riêng mở cửa, vừa bước vào bỗng mọi người la hoảng đứng sững khi thấy Armold nằm sóng soài trên sàn phòng ngủ.
Mọi thứ cho thấy ông đang cạo râu thì xảy ra chuyện. Cảnh sát tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác nhận Armold đột tử khi đang chuẩn bị cạo râu sau khi tắm, giám định pháp y chứng thực nguyên nhân dẫn tới tử vong là... tràn máu não!
Ba cái chết bất ngờ xoay quanh một vật thể là chiếc gương soi vẫn chưa đủ đánh động sự cảnh giác của mọi người, mà suy cho cùng thì những sự kiện “bất đắc kỳ tử” hàng ngày diễn ra trong bệnh viện hay ngoài xã hội có vô số, mà chiếc gương ma quỷ này sau khi giết chết người chủ mới cũng lại một lần nữa bặt tung tích luôn.
Sáu năm sau, Henry, một ông chủ cửa hàng đồ cổ khi dạo khu chợ mua bán đồ cũ bỗng bắt gặp một chiếc gương soi thật tinh xảo, rất đẹp, và ông ta mua được với giá quá rẻ mạt, đem về bày trong cửa hàng đồ cổ của mình với hy vọng bán lại được với giá cao.
Chính ngọ ba ngày sau đó, khi Henry ngồi trong cửa hàng bắt chân chữ ngũ vừa nhâm nhi tách cà phê nóng vừa lơ đãng đưa mắt qua cửa nhìn dòng người qua lại trên đường phố, hưởng thụ khoảnh khắc thoải mái sau bữa cơm trưa, nhưng chỉ hai tiếng đồng hồ sau, khi bà vợ Henry tới cửa hàng tìm chồng có công chuyện, bà ta bỗng tá hoả khi thấy Henry nằm phủ phục gục mặt trên bàn, nửa tách cà phê chưa uống hết đổ nghiêng chảy trên mặt bàn.
Bà vợ hốt hoảng kêu người đưa Henry tới bệnh viện cấp cứu, nhưng rồi chỉ chưa đầy 20 phút sau, bác sĩ bước ra lắc đầu cho hay: Nạn nhân đã tử vong! Nguyên nhân dẫn tới đột quỵ là tràn máu não. Henry hưởng thọ 47 tuổi.
Một người bạn thân của Henry tới dự đám tang, ông này vốn cũng từng là bạn thân của Biên tập viên Armold đã qua đời mấy năm trước, trong đám tang vô tình ông ta nhìn thấy và nhận ra chiếc gương “Alverez 1743”, bất giác biến sắc mặc, và mồ hôi lạnh, chân tay run lẩy bẩy, bởi mấy năm trước khi dự tang lễ Armold ông cũng bắt gặp chiếc gương này, ông ta bỗng giật mình liên hệ cái chết của hai ông bạn mình với chiếc gương, bởi nguyên nhân dẫn tới cái chết đột ngột đều là... tràn máu não!
Trong đó liệu có mối liên hệ nhân - quả gì không? Tuy chẳng có chứng cứ xác thực nào, nhưng theo lời khuyên của ông bạn này, gia đình của Henry đã vứt bỏ chiếc gương. Và kể từ đó bắt đầu những tin đồn về chiếc gương “ma quỷ Alvarez 1743” lan truyền khắp nước Pháp.
Thế rồi loáng cái gần 70 năm nữa trôi qua, khi hồi ức về chiếc gương “ma quỷ” này đã nhạt nhoà trong đầu óc mọi người, thì điều bất hạnh lại dội xuống đầu ông Hanmer và vợ ông là bà Juna.
Bà bác sĩ ngoại khoa Juna một lần dạo chợ trời đã mua được chiếc gương cổ này, bởi màu sắc khung gương rất hợp với màu sắc bàn viết của bà, và sau khi mua về bà luôn đặt trên bàn viết trước mặt. Ông Hanmer thấy vợ có vẻ yêu thích chiếc gương liền nói vui rằng bà khuân “đồ đồng nát” về nhà mà cứ coi như của quý, nhưng bà Juna bảo: Đây là chiếc gương cổ thật xinh xắn, đặt trên bàn viết rất hài hoà, thích hợp.
Ngay sau đó đã xảy ra chuyện đau lòng cả hai ông bà nối tiếp nhau lảo đảo ngã gục xuống sàn nhà, người thân phát hiện vội vã đưa ông bà tới bệnh viện cấp cứu, nhưng cả hai đều trút hơi thở cuối cùng trên đường trước khi tới bệnh viện, nguyên nhân dẫn tới tử vong đều là tràn máu não!
Tới lúc này, chiếc gương soi trên khung gỗ điêu khắc tinh vi có chạm hàng chữ “Alvarez 1743” chính thức được mọi người quan tâm, cảnh giác xa lánh.
Cuộc bàn cãi bất tận - không hồi kết
Suốt một thời gian dài cả năm sau đó, xoay quanh chiếc gương soi hung thần này lại có thêm hơn 20 người nữa từ 22 tới 57 tuổi bị chết tức tưởi không rõ nguyên nhân, mà hầu hết trước khi đột tử đều rất khoẻ mạnh, không nghiện ngập thứ gì có hại cho sức khoẻ như rượu, thuốc lá v.v... họ đều chết chỉ trong vòng ba ngày tiếp xúc, sử dụng chiếc gương và nguyên nhân dẫn tới “bất đắc kỳ tử” là hoàn toàn giống nhau.
Trong số nạn nhân có một số người vì không biết sự tình nên mua phải chiếc gương “ma quỷ”, nhưng cũng có người xuất phát từ lòng hiếu kỳ và cả “cứng bóng vía”, không mê tín dị đoan, cố ý lấy thân mình ra kiểm nghiệm, kết quả là chuốc lấy bi kịch sát thân. Chẳng lẽ đây là chiếc gương có khả năng giết người hàng loạt? Dân tình bàn tán xôn xao, mỗi người nói một phách, nhưng tựu chung không một ai mạo hiểm lấy thân mình ra kiểm chứng lần nữa.
Người lâm nạn cuối cùng cũng là vị nạn nhân thứ 38 của chiếc gương ma quỷ: Tiến sĩ Smith. Là một nhà khoa học kỳ cựu, nên ông không tin trên đời này có tồn tại cái gọi là “yêu ma quỷ quái” (demons and ghosts), lại càng không tin có chiếc “gương ma quỷ”. Theo ông thì chắc chắn là trong chiếc gương này có chứa một điều bí ẩn gì đó chưa khám phá ra được, và ông quyết tâm nghiên cứu “tìm cho ra nhẽ”.
Tháng 5/1997, sau nhiều ngày truy tìm vất vả, cuối cùng tiến sĩ Smith mới tiếp cận được chiếc gương “Alvare 1743” nọ, đã từ lâu lắm nó được cất kỹ, gắn “xi” trong một chiếc tráp gỗ dầy, người chủ bán chiếc gương giấu trong tráp này cảnh báo vị Tiến sĩ khoa học rằng, tốt nhất là không nên sử dụng nó. Nghe xong tiến sĩ Smith cảm ơn lòng tốt của ông ta, nhưng vẫn làm theo ý mình.
Đem chiếc tráp về tới nhà, Smith nóng lòng muốn biết diện mạo chiếc gương ra sao, liền vội vã bật nắp tráp, cẩn thận nâng chiếc gương được bọc bằng vuông lụa hồng. Chiếc gương cổ tràn đầy màu sắc truyền kỳ, tới lúc này nó đã trải qua mấy trăm năm trầm luân, khung gỗ quý chạm khắc tinh xảo vốn sáng bóng màu sơn thì bây giờ đã ngả bạc, thậm chí có đôi chỗ đã bong tróc, mặt gương cũng đã hơi mờ, không còn bóng bẩy thần thái như xưa.
Xem ra đây chẳng qua chỉ là một chiếc gương cổ tầm thường. Tiến sĩ Smith quan sát, xăm soi rất kỹ và chẳng phát hiện ra điều gì khác lạ, ông lật mặt gương đưa lên soi, thấy hình ảnh mờ mờ, liền tìm mảnh vải mềm lau thật sạch mặt gương, rồi sao vào thấy khuôn mặt mình hiện lên rất rõ.
Smith xem với chiếc gương rất lâu cũng chẳng thấy cơ thể có biểu hiện gì khác, xem ra những lời đồn đại về chiếc gương chỉ là “xạo” mang tính hù doạ, nên Smith cảm thấy chẳng còn hứng thú tới việc nghiên cứu, khám phá sự bí ẩn của chiếc gương, chán nản thảy chiếc gương trên mặt bàn.
Nhưng chuyện không kết thúc đơn giản tại đó, vào buổi trưa ngày thứ ba, đang ngồi trong thư phòng bỗng Smith cảm thấy hoa mắt nhức đầu, đứng dậy định ra tủ với chai nước khoáng và chiếc cốc, liền bước chệnh choạng rồi ngã vật xuống mặt bàn, người nhà phát hiện vội quýnh quáng gọi xe cấp cứu đưa ông tới bệnh viện, nhưng ông xua tay ngăn lại.
Smith lấy hết hơi sức dặn dò người nhà, rằng hãy bọc thật kỹ chiếc gương, không để nó tiếp tục trôi nổi hại người ngoài xã hội, đúng là trong chiếc gương có chứa một bí mật nào đó.
Theo lời trăng trối của Tiến sĩ Smith, người nhà của ông đã niêm phong cất kỹ chiếc gương. Cái chết của tiến sĩ Smith đã đủ thúc giục Hiệp hội sưu tập đồ cổ nước Pháp khẩn cấp tổ chức buổi công bố báo chí gây chấn động dư luận lần ấy. Họ cho rằng cần phải thông báo cho nhiều người biết sự thật để tránh bị làm hại.
Chiếc gương này đã khiến rất nhiều nhà khoa học quan tâm đặc biệt, nhưng ám ảnh bởi lịch sử khủng khiếp của nó, nên không nhà khoa học nào cả gan giữ nó bên mình để tiến hành nghiên cứu. Họ đua nhau đưa ra những phán đoán của mình, nhưng đều vô phương chứng thực.
Ngay từ thời Trung cổ đã có rất nhiều học giả tin rằng gương soi giống như một tấm sắt từ (ferromagnet), có khả năng hấp thụ mọi hơi độc chung quanh và làm cho độc tố mỗi lúc một tích tụ càng dầy trên bề mặt. Có thể chính vì truyền thuyết này mà cho tới ngày nay không ít người châu Âu đều mê tín: Người ta khi ốm đau không nên soi gương, bởi hơi độc do người ốm thở ra sẽ bám chặt trên bề mặt gương rồi bốc hơi lên dần, sẽ ảnh hưởng tới sức khoẻ của mọi người bình thường chung quanh.
Nhưng cách nói này rất thiếu chứng cứ khoa học, về căn bản không thể đứng vững. Bởi nếu đúng là mặt gương có khả năng hấp phụ hơi độc, thì chỉ cần xối rửa bằng nước lạnh là có thể hoà tan, làm sạch hết. Ngoài ra, tại sao chỉ có riêng chiếc gương này là có sức sát thương mạnh đến vậy, mà mấy trăm năm đã trôi qua, sức mạnh đáng nguyền rủa của nó vẫn không thuyên giảm?
Đối với câu hỏi này, các nhà khoa học Nga đã nêu ra cách giải thích mới mẻ: Họ cho rằng, chiếc gương này không chỉ có khả năng hấp phụ chất hoá học hữu hình, mà còn có thể hấp phụ các “Năng lượng thông tin” vô hình. Vật chất hữu hình có thể dễ dàng gột rửa, nhưng năng lượng vô hình thì vô phương rũ bỏ được.
Nói cách khác là chiếc gương này có “năng lực trí nhớ” nhất định, chính là loại năng lượng gì đó đã tích tụ trong gương mấy trăm năm qua, khi ở điều kiện đặc định nào đó chúng sẽ được giải phóng ra, nên làm nhiều người mất mạng đến vậy.

(Ảnh minh họa)
Còn về câu hỏi: Tại sao hàng vạn hàng triệu chiếc gương to nhỏ khác không có năng lượng giết người, mà chỉ riêng chiếc gương cổ này là có loại năng lượng đáng sợ đó, câu trả lời rất khác biệt nhau, không có sức thuyết phục.
Ngoài ra còn có rất nhiều cách đoán định khác, có người nêu ý kiến cần kiểm tra xem khi tráng gương người ta có thêm vào chất phụ gia độc hại nào không, nhưng không nhà khao học nào làm thí nghiệm xác minh cách nói đó.
Thời gian càng trôi đi thì bức màn bí mật bao trùm lên chiếc gương ma quỷ này càng dày thêm, nó kích phát sự kính nể và sợ hãi đối với cuộc sống tiềm ẩn trong lòng mọi người, họ không còn nhìn nhận chiếc gương soi này bằng con mắt của nhà khoa học nữa, mà tin rằng bên trong nó có chứa đựng một sức mạnh siêu nhiên đáng sợ nào đó, và đây là một chiếc “gương ma”, đích thực!
Câu chuyện này về sau còn được đạo diễn điện ảnh dàn dựng quay thành loại phim kinh dị đưa lên màn bạc, và để thoả mãn sự hiếu kỳ của khán giả, đạo diễn và ê kíp làm phim cố tình “thêm dấm thêm ớt”, “vẽ rắn, thêm chân”, khiến chiếc gương càng bị “ma quỷ hoá” đến đỉnh điểm.
Cuối cùng, câu chuyện kinh dị này vượt Đại Tây Dương lan truyền sang Mỹ, đã kích thích mạnh tính hiếu kỳ của giới khảo cổ học nước này, trong đó có tiến sĩ Waine. Và tháng 4/2005, ông ta đã thực hiện chuyến bay thẳng tới Paris.
Chân tướng hư ảo

Việc Tiến sĩ Waine đệ đơn xin phép Hiệp hội Sưu tập đồ cổ Pháp, muốn tiến hành điều tra nghiên cứu chiếc “gương ma”, một lần nữa khơi dậy lòng hiếu kỳ của dân chúng đối với chiếc gương “đáng nguyền rủa” này, họ đầy lòng hoài nghi đổ dồn ánh mắt vào cái ông Tiến sĩ người Mỹ coi thường cái chết này, một mặt họ mong đợi Waine có thể khám phá, giải đáp được câu đố bí ẩn “rối bòng bong” ẩn chứa trong lòng họ suốt mấy trăm năm qua, mặt khác cũng khiến một số người lo lắng niềm tin thiêng liêng vào lời nguyền mà họ gửi gắm vào chiếc gương ma quỷ này bị vạch trần, phá vỡ.
Chuyện Waine có trở thành kẻ bị hại thứ 39 không, bỗng trở thành tiêu điểm chú ý của giới truyền thông và dân chúng. Nhưng Hiệp hội đồ cổ nước Pháp sau nhiều lần bàn thảo cân nhắc, đã quyết định từ chối lời đề nghị của Tiến sĩ Waine, bởi họ không muốn phải chứng kiến thêm một bi kịch mới nữa.
Waine hơi thất vọng nhưng không thối chí, ông quyết định tìm tới người cháu nội của Tiến sĩ Smith, chàng trai này bị thuyết phục bởi lòng chân thành và quyết tâm vì khoa học của Tiến sĩ Waine, tuy nhiên anh ta vẫn không an tâm, đã nhiều lần nhấn mạnh với Waine về cái chết “bất đắc kỳ tử” của ông nội mình.
Thấy Tiến sĩ Waine vẫn không tỏ ra nao núng trước lời “cảnh tỉnh”, cuối cùng anh ta đã đem chiếc tráp gỗ có đựng chiếc gương được niêm phong kỹ giao cho Tiến sĩ Waine. Thực ra, tấn bi kịch mấy năm trước dày vò mọi người thân trong gia đình tiến sĩ Smith rất nhiều, họ không muốn giữ lại chiếc gương sát nhân trong nhà mình chút nào, nhưng tuân theo lời trăng trối thiết tha của Tiến sĩ Smith, họ đành giữ lại và bảo quản rất kỹ lưỡng chiếc gương này.
Cuối cùng Tiến sĩ Waine theo chân chàng trai bước xuống tầng hầm chứa đồ và tận mắt nhìn thấy chiếc tráp gỗ niêm phong rất cẩn thận, bám đầy bụi bặm, bên trong có đặt chiếc gương ma quỷ.
Tiến sĩ Waine đặt chiếc tráp gỗ đựng gương vào chiếc va-ly du lịch, từ biệt gia đình tiến sĩ Smith đáp máy bay trở về Mỹ.
Tiến sĩ Waine mang chiếc tráp đựng gương về thẳng nhà riêng, đặt trong phòng thí nghiệm. Khi ông nóng lòng định bật nắp chiếc tráp, bỗng bà Maria vợ ông từ ngoài đẩy cửa xộc vào, khóc lóc yêu cầu hãy dừng ngay hành động điên rồ đó lại. Sau khoảnh khắc bối rối, Tiến sĩ Waine quay ra dỗ dành khuyên giải và nói rõ mục đích việc làm của mình cho Maria nghe, bà hơi nguôi ngoai và gạt nước mắt rời phòng thí nghiệm.
Nhưng thật lạ là bà “bước đi một bước giây giây lại dừng”, ngoái cổ lại nhìn chồng với ánh mắt bịn rịn, nuối tiếc như trong giờ phút vĩnh biệt! Dường như linh tính báo cho bà hay: Waine chồng bà sẽ chết là điều không thể tránh khỏi trong tương lai rất gần.
Sự quấy rầy của Maria đã phá vỡ sự yên tĩnh của Tiến sĩ Waine, ông ngồi thừ trước bàn nhìn đăm đăm vào chiếc tráp gỗ đựng gương, chần chừ suy ngẫm có nên mở nắp tráp hay không. Nhưng trách nhiệm của một nhà khoa học giàu kinh nghiệm đã thúc giục tiến sĩ Waine bình tĩnh trở lại.
Tiến sĩ Smith đã chết vào ngày thứ ba sau khi tiếp xúc, nghiên cứu chiếc gương, vậy thì cho dù mình không thoát khỏi số phận hẩm hiu chăng nữa, cũng nhất định phải tranh thủ, khoảng thời gian ngắn ngủi 72 giờ đồng hồ để khám phá bằng được điều bí ẩn chứa đựng trong chiếc gương này.
Chiếc gương “ma” bao năm ngủ kỹ trong bóng tối đầy bụi bặm cuối cùng đã nhìn thấy lại ánh sáng mặt trời, nó chỉ là một chiếc gương cổ bình thường loang lổ phai màu theo thời gian, nhưng Tiến sĩ Waine không dám khinh suất chủ quan, ông nhẹ nhàng lật qua lật lại chiếc gương, săm soi quan sát rất kỹ lưỡng từng phần một, từ hoa văn chạm trổ trên khung gương tới mặt gương, dựa vào kinh nghiệm khảo cổ lâu năm, ông nhận định rằng, tuổi của chiếc gương không “cổ kính” tới mức như lời đồn đại bấy lâu, và thế là ông bắt tay tiến hành giám định, quả nhiên cho thấy tuổi của chiếc gương này chưa quá 100 năm.
Điều này có nghĩa là mặt gương đã bị ai đó thay mới vào! Như vậy xem ra bí mật không phải chứa đựng ở mặt gương, vì vậy Waine đổ dồn ánh mắt hoài nghi vào chiếc khung gương bằng gỗ được chạm khắc tinh vi. Chẳng lẽ chiếc khung gỗ xinh xắn này lại là hung thủ giết người hàng loạt?
Suốt một buổi sáng ngày đầu tiên qua đi, sự nghiên cứu của Tiến sĩ Waine đối với chiếc gương vẫn chưa có tiến triển gì đáng kể, còn vợ ông, bà Maria lòng dạ như có lửa đốt, cứ đi đi lại lại phía ngoài cửa phòng thí nghiệm, chính điều đó khiến ông càng thêm rối ruột, khó tập trung. Bỗng trong óc ông loé lên một ý nghĩ lạ lùng, ông vui sướng tới mức muốn hét lên, vỗ bàn đứng bật dậy, vội đẩy cửa chạy ra ngoài như bị ma đuổi.
Chạng vạng tối, Tiến sĩ Waine rời thư viện có trường đại học quay về nhà, ông cố kìm nén niềm vui phơi phới trong lòng. Nếu như sự suy đoán của ông là chính xác, thì bí mật về chiếc gương “ma quỷ” này sẽ sớm được khám phá, giải mã.
Bà Maria thấy một ngày đằng đẵng qua đi mà tiến sĩ Waine chồng bà không hề hấn gì, lòng đã khấp khởi mừng thầm, thở phào nhẹ nhõm, nhưng vẫn không yên tâm, nên khi thấy ông Waine quay về, bà cứ xoắn xuýt bám theo sau.
Khi tiến sĩ Waine móc chìa khoá vừa mở toang cánh cửa phòng thí nghiệm, bà vội chen lên trước nhìn vào, bỗng bà ré lên một tiếng hét kinh hoàng, không dám bước thêm vào. Bởi bà nhìn thấy hai con chuột bạch thí nghiệm nhốt trong lồng sắt đặt trước chiếc gương đã chết đứ đừ tự bao giờ! Xem ra chiếc gương “ma” lại một lần nữa tác yêu tác quái!

Mà Maria túm chặt tay Tiến sĩ Waine, không cho ông bước vào, tiến gần tới chiếc gương. Ông phải hứa với bà rằng mình sẽ hết sức cẩn trọng không tiếp cận đối diện với mặt gương, mới tạm “xua” được bà ra khỏi phòng thí nghiệm. Sau đó với cử chỉ đầy hưng phấn và tự tin, tiến sĩ Waine bước vào phòng và bắt tay giải phẫu khám nghiệm hai con chuột bạch đã chết, khi mổ phanh phần trong não chúng tích đầy máu đọng, thì ra chúng cũng bị chết vì chứng tràn máu não!
Tiến sĩ Waine dùng lưỡi dao cực sắc gọt trên khung gỗ chiếc gương lấy một vài mẩu dăm gỗ làm mẫu hoá nghiệm, sau đó lại cất kỹ chiếc gương vào trong tráp gỗ, bọc lại cất vào một chỗ kín, người ngoài không dễ nhìn thấy.
Sáng hôm sau, Tiến sĩ Waine mang mẩu dăm gỗ tới một cơ quan nghiên cứu khoa học chuyên ngành nhờ hoá nghiệm, phân tích giám định, sau đó trở về nhà ông hồi hộp chờ đợi kết quả trắc nghiệm. Quả nhiên đúng như dự đoán của Tiến sĩ Waine, chiếc khung gỗ của gương “ma” được chế tác bằng một loại gỗ rất hiếm gặp - gỗ cây coura, mà loại cây này đã bị tuyệt chủng từ hơn 100 năm trước.
Theo tài liệu ghi chép thì loại gỗ cây coura này có chứa một loại chất cực độc, khi hứng luồng ánh sáng tự nhiên càng mạnh chiếu dọi vào thì chất độc từ gỗ càng bay hơi tạo thành luồng khí độc, khiến mạch máu não của người hít phải chỉ sau một thời gian ngắn bị tắc nghẽn, nứt vỡ, dẫn tới chứng tràn máu não, đột tử!
Lần này chính thói quen khi làm việc đã cứu mạng cho tiến sĩ Waine. Thường ngày khi thao tác thực nghiệm trong phòng thí nghiệm ông có thói quen kéo đóng kín rèm cửa sổ, bởi vậy ánh sáng tự nhiên chiếu vào phòng rất yếu, nên khí độc từ khung gỗ bay hơi rất yếu, nhưng khi Waine rời khỏi phòng thí nghiệm, để thoáng khí, bà Maria đã mở toang tất cả các rèm cửa sổ, ánh sáng mặt trời ùa vào phòng, làm khí độc từ khung gỗ thoát ra nhiều, dẫn tới cái chết của 2 con chuột bạch.
Điều bí ẩn cuối cùng đã được khám phá! Nhưng khi Tiến sĩ Waine rất đỗi vui mừng chuẩn bị tổ chức cuộc họp báo lớn công bố “Bộ mặt thật của chiếc gương ma”, bỗng ông tá hoả khi phát hiện chiếc tráp gỗ có chứa chiếc gương ma đã không cánh mà bay! Tuy FBI ngay lập tức nhảy vào cuộc, tiến hành điều tra truy lùng, nhưng cho tới nay vẫn không có kết quả.
Bởi không có hiện vật gốc, nên Tiến sĩ Waine vô phương chứng minh được mẫu dăm gỗ là được tước từ khung chiếc gương ma ấy, do đó sự giải thích của ông vẫn bị phản bác, hoài nghi. Và chiếc “gương ma” giết người hàng loạt cho tới nay vẫn là một điều bí ẩn, cả loạt án mạng trong mấy trăm năm qua có liên quan tới chiếc gương “Alvarez 1743” vẫn còn là các vụ án mờ.
(Xaluan.com)

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

Môn phái 5 ông Phật Xiêm


Môn phái 5 ông phật xiêm ,gồm thờ 5 hình vị phật ,4 vị mặc áo vàng hở vai phải ,vị trên cùng có hình dáng 1 chư thiên, không mặc cà sa vàng , đó là A Súc Phật. Trong 5 vị thì mỗi vị có 1 tư thế thủ ấn khác nhau ,dưới chân mổi vị có 1 linh thú tượng trưng để hầu là sư tử ,voi ,cọp ,gà trắng và rắn ….5 vị hợp lại thành thủ ấn Tam Sơn Quyết (ngón cái và ngón út chạm đầu nhau ,ba ngón còn lại duổi thẳng ra) . Tất cả cùng ngồi trong 1 vầng hào quang có hình như cái lá 3 chạc nhọn,nền hào quang nầy màu đỏ ,cho nên phái Lục Dây của xiêm làm khăn săc màu đỏ là vậy. Phía bên trên và ngoài hào quang nầy có 6 vị chư thiên thần ôm đàn và rải hoa cúng dường ca ngợi , phía dưới vầng hào quang có 2 chiếc quạt dựng thẳng nằm 2 bên .
Tiếp theo, bên dưới phải có ảnh đức lục tổ Ma- ga- ham 6 tay, 2 tay bụm mặt, 2 tay bịt lỗ tai ,2 tay dưới thì 1 bụm sinh dục,1 nắm kéo cổ chân phải vào ,theo thế ngồi kiết già . Ngài toạ trong 1 mạn đà la phù, bên dưới mạn đà la có 2 linh thú là kỳ lân và cọp ,giữa 2 linh thú nầy là dấu phù của tứ đại tượng trưng cho đất- nước -gió -lửa ……



Bên trên là tả nguyên thể của phù tổ tại Xiêm ,nhưng sau nầy khi qua Việt Nam thì có biến thể như sau: A Súc Phật và 2 vị Phật cuối vẫn toạ tại chỗ cũ ,nhưng ở hàng hai từ trên tính xuống thì bên phải và đức Lục Tổ Magaham 6 tay , bên trái là đức Quan Thế Âm Bồ tát …..không còn Mạn đà la riêng cho Lục Tổ như trước.


Nhập môn gồm bùa vẽ tơm vào 2 lá trầu và 3 vắt cơm trắng ,to cỡ ngón chân cái ,tất cả được cúng trên bàn tổ cùng 1 ly nuớc trong. Đầu tiên đệ tử ở trần ngồi xếp bằng chấp tay nhắm mắt ,thầy đọc kinh tổ và tiếng âm ,dùng ngón tay và bàn bàn tay , điểm và vỗ vào thân đệ tử để truyền điển năng và khai thần vị huyệt trên cơ thể.

(Bùa vô 3 vắt cơm khai thần)

Sau đó học trò tự nhiên phát đọc tiếng âm theo thầy ,nếu không đọc được thì thầy sẽ cho 1 trong 5 câu khai khẩu ,xem như phù hợp với chi của vị phật nào trong ngũ hành ,nếu học trò hạp xác thì vô quyền đi cước tại chỗ ,vừa đi vừa đọc lớn tiếng âm…

(Bùa vô lá trầu cho ăn)

Tiếng âm ở đây có 12 loại để nói ,nói lúc vô quyền ,lúc trị bịnh ,làm phép tắc ,đuổi ma …vv…có thể nói là bá sự. Đa số những người hành nghề đồng cốt không thích nghe loại tiếng nầy. Vì khi nghe đọc, họ sẽ đau đầu ,mặc dù không ít người trong số họ cũng nói tiếng âm. Nhưng tiếng âm ở đây là tiếng chư Lục thần quyền ,chứ không phải loại tiếng tại Trung thiên giới của các vị về điển ợ ngáp. Ngoài ra, có 1 loại tiếng nói như ú-ớ mà thôi ,vị đó gọi là ông câm về . Có khi người được vô điển không nói mà bị linh thú nhập vào. Các thú hay về trong hệ phái nầy là cá sấu ,mãng xà ,lang tướng .
Giai đoạn trên cỡ chừng 10 phút ,sau đó thầy sẻ lấy li nước trên bàn tổ phun vào toàn thân học trò từ trên xuống ,sau đó học trò quì gối lên trước bàn tổ ,mổi người nuốt 2 lá trầu phép và 3 viên cơm khi nảy ,khi nuốt cấm đụng răng,cấm nói ,nuốt 1 lần cho thật mạnh ...

(Bùa vô lá trầu khai khẩu)
Môn phái 5 Ông coi trọng việc xăm phép vào người ,và phải xăm màu xanh chàm ,vì đó là màu sức mạnh của chư thiên thần. Có loại xăm bằng sữa con so trộn mạt vàng thì chỉ dành xâm 24 bùa Tổ vào lưng hay ngực .
Môn phái nầy có dây kà tha đeo không như bên Miên. Dây là 12 cọng chỉ đỏ lớn sợi se lại ,khi đeo thì như chéo y ca sa của chư tăng , đó là đường viền y từ vai trái qua hông phải.

(Cốt tượng thường đính thêm vào dây kàtha)
Trên dây học trò sơ cơ thì có 7 mắc chì kèm đính 1 cốt phật nhỏ bằng nanh heo rừng hay chì hoặc vàng …và cứ mổi năm thì đính thêm 1 cốt phật do thầy ban ,cao điểm là 12 cốt tất cả ……..

Sau khi nhập môn thì học trò có quyền xâm hình hay đeo tượng đức lục tổ Ma Ga Ham tại ngực .

(Lục tổ Magaham)
Phái nầy bùa hay vẽ màu đen và đỏ trên giấy vàng, đó là bùa cấp cho đệ tử xài. Mỗi khi trị bịnh thì chú tiếng âm vô dầu xức đầu cổ và tay ,vô nước lã cho uống ,không cho uống bùa giấy .
Sau nầy tại việt nam có thêm vào hệ phái Lỗ Ban Ngũ lôi Cửu Thiên để trị tà ,trước đó thì có phép đả hội đủ đàng Mọi , đàng Chà , đàng Ngãi và chư vị Lục tôn … Sau thêm vào thờ binh chiến sỉ trận vong trong nước, từ đó tại môn nầy có thờ Chánh soái Đại càn .
Tại Sài Gòn thì có 2 chi lưu phát triền mạnh tại quận Tám và khu vực Hoà Hưng ,vị tổ sư cao tay nhất thì ngụ tai chung cư Nguyễn Thiện Thuật cách đây hơn 20 năm. Sau tổ là 1 vị nữ về nhận chưởng quản chi lưu, tại quận 6, từ đó thì bùa Tổ vẽ ra có dạng đơn giản hơn xưa, tức là tập họp 5 bùa tam muội lại ra dáng 1 người nử mặt áo dài đang đứng. Từ đó thêm vào vái "chư vị 5 bà - nặc mô ra buôt dá”.

(Tướng 5 ông)
Nguồn gốc dòng phái tại Xiêm là do từ Pali tại Khơ me truyền qua ,bởi 1 người phụ nữ gốc Xiêm lai Tàu ,do đó các chử Pali viết trong bùa thường có dạng gói lại trong ô vuông như chữ triện của Trung Hoa …tiếng chú đọc pha lẫn tiếng giọng Xiêm và Tàu …điển hình là có 1 phần võ thần về đánh quyền và đọc tiếng Tàu ,gọi là ông Tiều về .
Môn phái nầy ít lưu hành tại Việt Nam vì 2 lẽ …..
Một là nhập môn thì nhiều ,mà số người thọ điển thật sự lại ít ,nên sau vài tháng hay năm thì đa số bỏ cuộc ,vì tháng nào củng phải đến thầy để vô cơm và trầu tiếp …không tiện cho việc ăn ở đi lại ,sinh hoạt .
Hai là sự lên cấp đai ,vô thêm cốt Phật trong dây kà tha cũng rất chậm chạp. Có người tu tập theo 10 năm cũng không nhiều tiến bộ. CÓ lẽ vì môn nầy không nhiều chú trọng về luyện bùa , đa số là bùa không chú , đa số luyện tiếng âm mỗi hàng ngày 2 lần lúc chiều tối và 12 giờ đêm … Cao cấp thì luyện thêm mặt trời…không luyện mặt trăng …khi vẽ làm phép thì đủ thứ bùa mà vẫn dùng tiếng âm thôi. Tức là vẽ bùa sắc mà chú bằng tiếng âm do mỗi người tự luyện hàng ngày .
Đa số bùa bên nầy về sau thì có thêm các bùa của đại thừa như Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Nhật Quang -Nguyệt Quang, Cửu Thiên, Thái Thượng, Chánh soái Đại càn ..vv..cứ vái danh vị vẽ bùa và dùng tiếng âm phổ vào. Ít khi vẽ bùa tay .. đa số bùa khắc mộc in sẵn để trên bàn thờ ,khi có cần thì khấn tên tuổi ngươì xin vào ,thổi hương vào bùa rồi cho .

(Khăn nhập môn)
Vì môn phái nầy có 1 vị tổ là nữ ,và 1 trưởng chi là nữ …cho nên thu nhận nhiều đệ tử nữ khác hẳn các môn phái khác. Nhưng cuối cùng thì môn nầy bị ưu thế mạnh của Thất sơn thần quyền và Tam thập lục tổ mẹ sanh lấn áp ,vì các môn nầy hay dự võ đài ,và cấp phép tránh dao búa bom đạn cho lính đi trận ….nhiều người đã từng học môn trên chuyển sang thọ giáo các môn sau nầy .
Tên pháp môn nầy vào VN lúc xưa gọi là Mô ức Phật hay Mô ức Phật đà lục(lực). Sau lại gọi là Năm ông để dấu nguồn gốc ,cho nên nhiều người nghe ngỡ là Ngũ Công Vương Phật của Tàu !

Lưu ý: Khi đọc tiếng âm mà không thấy điện chạy trong người hay cứng người ,hay là mặt không đổi sắc ,thì tức là đọc theo quán tính mà thôi. Thần không về xác và chứng độ …và vậy thì không bao giờ có thể xài bùa cho linh với tiếng âm như vậy !!! Đó cũng là khuyêt điểm và cũng chính là lí do tại sao ít người chịu theo đuổi môn nầy

Thứ Hai, 22 tháng 2, 2010

Thần tài


• 神財
Thần: - vị Thần, - Tinh thần, - Thiêng liêng mầu nhiệm, - Tài trí phi thường.
Tài: tiền bạc, của cải.
Thần tài là vị Thần cai quản về tiền bạc và của cải.
Theo tín ngưỡng dân gian, Thần tài mang lại tiền bạc hay của cải cho mỗi gia đình, nên mỗi gia đình, nhứt là gia đình mua bán hay kinh doanh đều có bàn thờ Thần tài, đốt nhang nghi ngút để cầu xin Thần tài cho mua may bán đắt, trúng mối lời nhiều, đem lại nhiều tiền bạc sung túc.
Người đời rất quí trọng tiền bạc nên rất quí trọng Thần tài. Những nhà kinh doanh đều có lập bàn thờ Thần tài rất long trọng, đặc biệt bàn thờ Thần tài không được đặt trên cao mà phải đặt ngay trên mặt gạch nền nhà.
Tục thờ Thần tài được người Tàu truyền cho dân ta. Người Tàu sang nước VN làm nghề buôn bán trở nên giàu có, mỗi nhà người Hoa đều có thờ Thần tài nên người Việt thấy vậy bắt chuớc theo. Nhiều nhà không có thờ phượng Trời Phật chi hết mà lại thờ Thần tài.

Sự tích của Thần tài: có nhiều sự tích nhưng dân gian thường nhắc hai sự tích sau đây:
1. Thần tài là một cô gái tên là: Như Nguyện.
Ngày xưa, có một lái buôn tên là Âu Minh, khi đi thuyền qua hồ Thanh Thảo, được Thủy Thần tặng cho một cô hầu gái tên là Như Nguyện. Âu Minh đưa Như Nguyện về nuôi trong nhà. Sự buôn bán từ ngày đó trở đi càng ngày càng phát đạt, chỉ trong vòng vài năm mà Âu Minh trở thành một nhà giàu có lớn.

Một hôm, vào Tết Nguyên đán, Âu Minh tức giận đánh Như Nguyện làm nó sợ hãi, chui vào đống rác trốn mất.
Kể từ đó, việc buôn bán của Âu Minh bắt đầu thua lỗ sa sút, chẳng bao lâu thì sạt nghiệp, trở nên nghèo khổ.
Người ta cho rằng, Như Nguyện là Thần tài. Lúc Âu Minh nuôi Như Nguyện trong nhà thì Thần tài ủng hộ nên làm ăn phát đạt. Tới khi Như Nguyện bị đánh rồi bỏ đi thì Thần tài không còn chiếu cố Âu Minh nữa nên làm ăn sa sút, thất bại.
Do sự tích nầy, người ta có tục kiêng cử quét rác và hốt rác trong ba ngày Tết, sợ Thần tài không có chỗ ẩn trốn mà đi nơi khác thì việc làm ăn trong năm sẽ bị xui xẻo thất bại.
Cũng do sự tích nầy mà người ta lập bàn thờ Thần tài sát nền đất hay nền gạch, không đặt cao như các bàn thờ khác, và đặt ở góc nhà hay nơi hàng hiên.
Nhưng trong thực tế, người ta thường gọi là Ông Thần tài chớ không ai gọi là Bà Thần tài, nên sự tích Thần tài là cô gái Như Nguyện chưa hẳn là chính xác.
2. Thần tài là ông Triệu Công Minh:

Ông Triệu Công Minh ở đây không phải là Triệu Công Minh trong truyện Phong Thần hay trong truyện Bắc Du Chơn Võ, mà là một người dân ở núi Võ Đang bên Tàu.
Truyện dân gian Trung quốc kể rằng: ở vùng núi Võ Đang có một ông già tên là Triệu Công Minh nhà rất nghèo. Ngày ngày, ông xách giỏ đi khắp nơi xin quần áo cũ để mặc và xin cơm cặn canh thừa để ăn. Nghèo đến thế nhưng ông lão có nuôi một con chó đen già và một con vịt lông vằn không đẻ trứng. Gần đấy có một ông phú hộ, gọi là Tiền Viên Ngoại, tánh rất xa xỉ và bất nhân, cơm ăn không hết thì đem đổ xuống cống, áo mặc cũ rồi thì bỏ vào đống rác. Ông lão nghèo họ Triệu thấy vậy mới lượm gom hết các quần áo cũ đem phân phát cho những người nghèo, hốt các canh thừa cơm cặn ấy về nuôi chó và vịt.
Bỗng một hôm, con vịt đẻ ra 10 quả trứng vàng, còn con chó già thì khạc ra 10 thoi bạc. Từ đó thành lệ, mỗi ngày vịt và chó đều đẻ và khạc ra vàng bạc cho lão Triệu. Lão Triệu trở nên rất giàu có, trong lúc Tiền Viên Ngoại thì càng lúc càng nghèo vì tánh xa xỉ. Một thời gian sau, Tiền Viên Ngoại phải đi ăn xin, khi gặp lại Triệu Công Minh, lão Viên cảm thấy rất xấu hổ. Họ Triệu thông cảm, giúp cho lão Viên một số tiền khá khá đủ làm vốn liếng làm ăn, nhưng Lão Viên quen tánh tiêu xài xa xỉ nên dần dần hết vốn, trở nên nghèo khổ. Lão Viên lại sanh ác tâm, thấy họ Triệu giàu lớn như vầy bèn tính giết Triệu Công Minh để chiếm đoạt tài sản. Lão Viên thừa lúc vắng vẻ, lén đốt nhà của Triệu cháy ra tro, nhưng họ Triệu không chết, con vịt biến thành chim Phụng bay vút lên trời, con chó già biến thành con cọp đen xông ra cắn chết lão Viên, tất cả vàng bạc của Triệu đều hóa thành đá, và Triệu Công Minh biến thành Thần Tài. Dân chúng lập miểu thờ Triệu Công Minh gọi là Thần tài miếu.
Chúng ta không thể xác định được người VN thờ Thần tài vào lúc nào, bởi vì như trên đã nói, việc thờ Thần tài là do người VN bắt chước các Hoa kiều, như thế những người VN thờ Thần tài chắc chắn là những người thường làm ăn buôn bán với các Hoa kiều.
Việc thờ Thần tài trong mỗi gia đình khiến cho người ta sáp nhập Thần tài vào các Thần bản gia như: Thổ địa, Ông Địa, Ông Táo.

Do đó, người Tàu làm ra một tấm bài vị gộp chung các danh hiệu của các vị Thần bản gia để thờ, mà người ta thường gọi là "bài vị Thần tài", và chúng ta thấy bài vị nầy được thờ ở hầu hết trong các tiệm quán, nhà buôn, ở các văn phòng công ty và xí nghiệp.

Bài vị Thần tài được vẽ trên một tấm kiếng, nền sơn đỏ, tất cả đều là chữ Hán màu nhũ vàng, vẽ một cái cổng mà hai trụ có rồng quấn, trên cổng có tấm bảng đề "TỤ BẢO ĐƯỜNG" nghĩa là ngôi nhà có tụ lại những thứ quí báu, phía dưới có vẽ một cái TỤ BẢO BỒN là cái chậu huyền diệu chứa của báu.

聚寶堂 : TỤ BẢO ĐƯỜNG: nhà chứa của quí báu.
招財 : Chiêu tài: mời gọi tiền của.
進寶 : Tiến bảo: dâng hiến bảo vật.
金枝初潑腳 : Kim chi sơ phát diệp: Cành vàng bắt đầu trổ lá.
銀樹正開花 : Ngân thụ chánh khai hoa: Cây bạc chánh thức nở hoa.
Hai câu trên là đôi liễn đặt hai bên bài vị, như để chúc tụng. Trong một kiểu bài vị khác, đôi liễn trên được viết là:
Thổ năng sanh bạch ngọc (Đất thường sanh ngọc trắng)
Địa khả xuất hoàng kim (Đất khá xuất vàng ròng).
如意吉祥 : Như ý cát tường: tốt lành như ý muốn.
一帆風順 : Nhứt phàm phong thuận: thuận buồm xuôi gió.
四季平安 : Tứ quí bình an: bốn mùa bình an.
Hai câu chữ lớn ở chính giữa là danh hiệu của các Thần bản gia để thờ phượng:
五方五土龍神 : NGŨ PHƯƠNG NGŨ THỔ LONG THẦN
前後地主財神 : TIỀN HẬU ĐỊA CHỦ TÀI THẦN
■ Ngũ phương Ngũ thổ Long Thần: năm vị Thần trấn năm hướng và năm vị Thần đất đai long mạch sắp đặt theo Ngũ Hành gồm: bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, và Trung ương.
● Năm vị Thần Ngũ phương là: Hoàng đế (Trung ương), Bạch đế (hướng Tây), Hắc đế (hướng Bắc), Thanh đế (hướng Đông), Xích đế (hướng Nam).
● Năm vị Ngũ Thổ Long Thần là năm vị Thần long mạch coi về đất đai, bảo hộ cư dân làm ăn sinh sống, gồm:
o Thổ Công, làm chủ nền nhà.
o Thổ Thần, làm chủ khu đất.
o Thổ Địa, cũng gọi là Môn Khấu Thổ Địa Tiếp Dẫn Tài Thần: Thần Thổ Địa trực ở cổng để tiếp dẫn Thần Tài vào nhà.
o Thổ Phủ, bảo hộ các kho hàng.
o Thổ Kỳ, cai quản mặt đất nói chung.
■ Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần: gồm hai vị: Tiền Địa Chủ Tài Thần và Hậu Địa Chủ Tài Thần.
● Tiền Địa Chủ Tài Thần là Thần Tài của chủ đất trước. Thờ vị Thần nầy là có ý báo bổn tư nguyên, tức là báo đáp cái gốc, nhớ đến cái nguồn.
● Hậu Địa Chủ Tài Thần là Thần Tài của chủ đất sau, tức là thờ vị Thần Tài của chủ đất hiện nay. (Theo Huỳnh Ngọc Trảng - Nguyễn Đại Phúc: Thần Tài - Tín ngưỡng và Tranh tượng)

Những cơ sở kinh doanh các ngành nghề đều có thờ Thần Tài. Họ lập bàn thờ Thần tài lớn và trang nghiêm rực rỡ, chưng cúng bông và trái cây thường xuyên, cúng nước mỗi sáng mỗi chiều đều đốt nhang khấn vái để Thần Tài luôn luôn phù hộ cho họ làm ăn phát tài. Trên bàn thờ, ngoài bài vị Thần Tài còn có đặt phía ngoài hai tượng: tượng Ông Địa và tượng Ông Thần Tài.
(CaoDai)

Bàn về sự tích Bà Chúa Kho

Hàng năm cứ từ mồng 10 tháng Giêng âm lịch trở ra, khách thập phương lại lũ lượt đổ về đền Bà Chúa Kho ở Bắc Ninh lễ bái cầu tài cầu lộc. Việc cầu khấn ai cũng giống ai nhưng nguồn gốc, thân thế, sự nghiệp Bà Chúa Kho thì mỗi người hiểu mỗi khác. Vậy Bà Chúa Kho là ai?


Theo cuốn sách của tác giả Khánh Duyên, Sở VH - TT Hà Bắc ấn hành trước đây thì “Tên thật của bà chả ai rõ được (…) bà vốn xuất thân trong một gia đình nghèo khổ ở Thôn Cổ Mễ (…). Nhà vua mời bà về cung lấy làm vợ…”. Sau đó vì nhớ nhà, vua cho về lập đồn điền, lại giao cho giữ kho lương thực bên sông Cầu ở phòng tuyến sông Như Nguyệt… Một cuốn sách khác có tên Lịch sử đền Bà Chúa Kho của hai tác giả Nguyễn Xuân Cẩn, Nguyễn Huy Hạnh nội dung cũng gần giống quyển trên. Ít lâu sau chân dung bà lại được tác giả Phan Huy Đông tái hiện trong hai tiểu thuyết Huyền thoại Bà Chúa Kho và Huyền thoại Bà Chúa Lẫm in chung một quyển do nhà xuất bản Văn hoá – Dân tộc phát hành đầu năm 1998. Ở “Lời nói đầu” tác giả đưa ra quan điểm “Sự tích Bà chúa Kho chỉ là những huyền thoại dân gian mà thôi (…) vấn đề tín ngưỡng đó thuộc chức năng các nhà nghiên cứu, các nhà chức trách, các nhà văn hoá…”.
Nhân vật Bà Chúa Kho trong Huyện thoại Bà Chúa Lẫm cũng mờ nhạt như mấy quyển kia, ngược lại trong Huyền Thoại Bà Chúa Kho thì thân phận nhân vật lại được miêu tả khá cặn kẽ như “bà là Lý Chiêu Phong, Công chúa thứ sáu của Vua Lý Thánh Tông, sau gả cho Hoàng Lục là quan trưởng ở Quảng Nguyên, bà được vua cha giao cho trông coi lương tiền quốc khố của triều đình…”. Rồi khi biết ý đồ nhà Tống đánh ta, vua liền “Chỉ thị cho công chúa (…) đặt một kho lương thảo, quốc khố ở mạn Kinh Bắc…”. Lại có một tài liệu khác tỉ mỉ hơn “Bà là Lý Chiêu Phong, con gái vua Lý Thánh Tông và hoàng hậu Thượng Dương, sinh ngày 12 tháng tư năm Giáp Ngọ - 1054 (…) làm chủ kho binh lương (Không nói đến tiền, vàng – TX) ở núi Cổ Mễ Tức Vũ Ninh. Bà tham gia chiến đấu chống quân Tống và anh dũng hi sinh ngày 12 tháng giêng năm Đinh Tý, tức 16-2-1077 tại mặt trận sông Như Nguyệt…” .

Theo lịch sử Việt Nam thì nhà Tống xâm lược nước ta năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông (1072-1127). Trong trận ác chiến tại phòng tuyến địch ở đoạn sông Kháo Túc(Sông Cầu gần núi Nham Điền) quân ta đại thắng nhưng mở đầu chiến dịch bị tổn thất không nhỏ, hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn bị tử trận. Người chép sử dừng ở đó, hoàn toàn không nói đến sự tham chiến và hi sinh của công chúa Lý Chiêu Phong mà sau này là Bà Chúa Kho, Bà Chúa Lẫm.
Nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang trong bài Đi tìm lại sự tích Bà Chúa Kho đăng trên tạp chí Xưa & Nay Viết “Vị nữ thần ở đền Cổ Mễ, Xã Vũ Ninh, thị xã Bắc Ninh được dân địa phương gọi là đền Bà Chúa Kho vốn là người họ Trần, sinh cuối đời vua Lý Huệ Tông (1211 - 1224), quê ở làng Quả Cảm (…). Bấy giờ nhà Trần đã thay nhà Lý (…) Vua yêu mến bèn cho vời vào cung lập làm Hoàng Phi thứ ba (…) vài năm sau Hoàng Phi đang mang thai thì bị bệnh qua đời (…) an táng xây lăng ở đất đầu núi Hoàng Nghinh thuộc làng Quả Cảm (…) Riêng đền trong Cổ Mễ tức thôn Cổ Mễ tức thôn Cổ Mễ xây trên núi Kho (Lẫm Sơn) nên gọi là đền Bà Chúa trên núi Kho hoàn toàn không có ý nghĩa Bà Chúa coi kho tàng…”.

Trong công trình nghiên cứu, khảo sát công phu, tác giả đã chứng minh ở ta có hai phụ nữ được chính thức công nhận là Bà Chúa Kho. Đó là Lý Châu Nương coi kho Phụng Thiên, tự ải trong cuộc chiến với quân Nguyên – Mông, được vua Trần truy tặng “Quản trưởng Quốc khố công chúa”. Nhân dân làng Giảng Võ – nơi sinh và Diễn Châu – nơi bà đóng quân đều lập đền thờ tôn bà làm Phúc Thần, tức gọi Bà Chúa Kho. Người thứ hai là nàng Bạch Hoa được cha là quan Vệ Uý giao cho coi kho thành Nam Định đời vua Tự Đức (1848-1883) chống Pháp xâm chiếm nước ta. Bà tử trận trong trận đánh tháng 12-1873, Vua Tự Đức xét công phong tặng “Tiết liệt Anh phong giám thương Công Chúa”, hạ chiếu xây miếu thờ ở chân Cột Cờ Thành Nam. Nhân dânNam Định tôn Bà làm Thành Hoàng Đương Cảnh - Bản Xứ - Thổ Thần…
(Theo Toquoc)

Ngày xuân nói chuyện Thần tài


Trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du không một chữ, một từ nào không đại diện thật đầy đủ cho ngôn ngữ Việt chúng ta. Về chữ “Tài”, Nguyễn Du đã dạy: “Chữ tài liền với chữ tai một vần”.
Theo, cụ người có “tài” mà không có đức, kênh kiệu, tự phụ, coi trời bằng vung sẽ ắt gặp tai nạn, tai ương... Nhân lúc thư giãn tôi lại chợt nghĩ tới chữ “tài” bên cạnh “tài giỏi” còn “tiền tài” để khuyên răn người đời làm ăn buôn bán muốn thành đạt thì hãy thờ Thần tài, nhưng nếu không biết tôn trọng điều mình tôn thờ thì Thần tài chẳng phù hộ, làm ăn sẽ thất bại, lúc ấy chẳng phải chữ “tai một vần” đó sao ? Nhân năm hết, Tết đến, mọi người mọi nhà chuẩn bị nô nức đón xuân, lúc tâm hồn sảng khoái, đầu năm chúc Tết cầu mong có tài có lộc... xin mạn phép bàn thêm về “Thần tài là ai ?”.

Từ lâu lắm rồi, hầu hết người buôn bán ở phương Đông, trong đó có nước ta, đều thờ Thần tài cầu mong làm ăn phát đạt. Hiện nay vào bất cứ một cửa hàng, cửa hiệu nào, kể cả người bán hàng tạp hóa, người sửa chữa xe đạp, xe máy... cũng đặt bát hương dưới đất, ngay cửa ra vào. Buổi sáng họ thắp nén hương, đặt hoa quả khấn vái cầu một ngày làm ăn gặp nhiều may mắn, tuy vậy, không phải ai cũng đặt bát hương thờ vị Thần này.

Vậy Thần tài là ai ? Ngày xưa, ở bên Trung Quốc có Âu Minh Anh là một người lái buôn thường mang hàng tới những nơi thôn cùng xóm vắng, đổi chác kiếm tiền độ nhật, nuôi sống gia đình. Chẳng giống những lái buôn khác chỉ bán đồ rởm, đồ giả, trốn lậu thuế... chàng Minh Anh buôn bán thật thà, tính tình niềm nở, xởi lởi, ngày nào quẩy gánh hàng trên vai, tối về hàng họ cũng bán hết. Một hôm Minh Anh đi tới bờ một cái hồ rộng lớn, bỗng nhiên trời nổi gió lớn, rồi một vị thần hiện ra. Vị thần ra hiệu cho chàng lại gần, giang cánh tay trao cho chàng một đứa bé kháu khỉnh mà bảo rằng:

- Nhà ngươi chỉ chuyên lo làm ăn, chất phác, chuyên cần. Ta cho ngươi đứa bé này, tên là Như Nguyên. Có nó trong nhà, người sẽ làm ăn thịnh đạt. Nhà ngươi hãy chăm sóc nó.

Minh Anh cảm tạ cụ già, rồi đem đứa bé về nuôi. Từ đó công việc làm ăn ngày càng phát đạt. Một hôm chú bé Như Nguyên phạm lỗi, Minh anh cả giận, không kìm nổi, cho chú mấy cái cán chổi vào mông. Như Nguyên hoảng sợ trốn vào đống rác và sau dó biến mất luôn. Từ ngày Như Nguyên bỏ đi, Âu Minh Anh làm ăn sa sút, buôn bán không được như xưa nữa. Dân làng bàn tán xôn xao. Các vị bô lão trong vùng cho rằng Như Nguyên là một vị thần đã mang lại tốt lành, may mắn cho họ Âu mà chàng đã không biết chăm sóc, vun bồi. Từ đó, dân gian đã lập bàn thờ phụng vị thần mang tới phúc lợi cho họ, và đặt tên là Thần tài.

Ngày mồng Một Tết người ta kiêng quét nhà, hót rác là vì ngày xưa Như nguyên bị Âu Minh Anh nổi giận đuổi đánh, phải chạy trốn vào đống rác. Không quét nhà hót rác ngày Tết vì sợ đổ mất Thần tài, trong năm sẽ làm ăn xui xẻo ?

Điều kỳ thú là Như Nguyên trốn vào đống rác đã ngầm nhắc nhở những người lớn còn không nên răn dạy trẻ nhỏ bằng cán chổi, và rằng trong đống rác kia vẫn còn có thể sinh ra lợi nhuận, ở đó vẫn còn “tài” (tiền bạc). Quả thật, bây giờ có những nhà thầu đã giàu có từ những bãi rác khổng lồ.

Ngày nay, sự buôn bán diễn ra không chỉ ở chợ búa, siêu thị, sạp hàng mà ở khắp mọi nơi, mọi chỗ. Ai cũng mong Thần tài phù hộ độ trì. Thần tài vốn là một vị thần dân gian rất bình dị. Lúc đầu người ta thờ Thần tài ở dưới đất, trên một tấm ván hướng ra phía cửa chính, có hai câu đối hai bên:

Thổ năng sinh bạch ngọc
Địa khá xuất hoàng kim

Nghĩa nôm na của hai câu đối trên là: Đất đai có thể sinh ra bạc trắng, vàng ròng. Sau này các gia chủ “nịnh” Thần tài mới đóng cái khảm nhỏ bằng gỗ sơn son thiếp vàng, thờ mà chẳng rõ nghĩa và cái thâm ý của 10 chữ Hán, hằng ngày vẫn xì xụp lễ, lâm râm khấn, liệu có phải vì thế mà Thần tài bị biến chất không ?

Ngẫm lại thơ của cụ Nguyễn Du “chữ tài liền với chữ tai một vần”, vận vào việc dân gian thờ Thần tài, tôi trộm nghĩ, chữ tài ở đây chắc chẳng để chỉ riêng tài ba, tài cán, tài giỏi... mà còn có thể là tiền tài. Vì thế mọi người hãy suy ngẫm, đặt bát hương thờ Thần tài ấy là việc không ai cấm đoán, tùy tâm. Nhờ có bát hương thờ Thần tài có người ăn nên làm ra, có người thất bát, thậm chí lụi bại, phải bán xới cửa hàng, cửa hiệu. Và thiển nghĩ: Chẳng Thần tài nào lại phù hộ, độ trì cho kẻ ăn gian nói dối. Thần tài có hay không, ở xã hội nào cũng cốt ở cái tâm sáng và có trí tuệ.
(HNM)